Dự án sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2026, đang được Bộ Công an xây dựng và lấy ý kiến đến 7/5, đã đề xuất bổ sung các tội danh và hành vi phạm tội mới trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công nghệ thông tin và mạng viễn thông.
Năm 2021-2025, cả nước phát hiện, xử lý hơn 4.300 vụ án trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Số này nhiều hơn 643,4% so với giai đoạn 2016-2020, tức gấp gần 7,5 lần.
Đây cũng là loại tội phạm có mức độ gia tăng nhanh nhất trong các lĩnh vực phạm tội ở Việt Nam, Bộ Công an nêu.
Các hoạt động tội phạm nổi lên chủ yếu là: lập các trang giả mạo cơ quan công an; giả danh cơ quan chức năng gọi điện, yêu cầu người dân thực hiện các dịch vụ công trực tuyến; kêu gọi tham gia các hội nhóm đầu tư Forex…
Nhà chức trách cũng ghi nhận bắt đầu xuất hiện các vụ tấn công mạng, gián điệp mạng nhằm vào hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, tập đoàn kinh tế lớn, ngân hàng, đánh cắp thông tin nội bộ, bí mật nhà nước, phá hủy dữ liệu, đánh sập hệ thống; rao bán thông tin, tài liệu…
Trong khi đó, các hành vi phạm tội này hiện chưa được mô tả đầy đủ trong Bộ luật hình sự hiện hành, không bao quát thực tiễn mới, cách định nghĩa hành vi phạm tội còn lạc hậu.
Nhiều hành vi trong thực tế không đủ điều kiện áp vào các cấu thành hiện có, phải xử lý bằng các tội danh gián tiếp, gây tranh cãi và dễ bỏ lọt hành vi nguy hiểm. Luật còn thiếu quy định về hành vi lạm dụng tình dục trẻ em (quay các bộ phận nhạy cảm, chat sex…) nên thiếu cơ sở pháp lý để trong đấu tranh, xử lý…
Bộ Công an cho rằng bối cảnh trên đòi hỏi Bộ luật Hình sự phải kịp thời cập nhật, bảo đảm tính đầy đủ, tránh bỏ lọt tội phạm. Vì thế, dự thảo lần này đề xuất bổ sung 9 tội trong nhóm tội phạm công nghệ thông tin như gián điệp mạng; lạm dụng trẻ em quay hình nhạy cảm, chat sex; lập trình AI để phạm tội…
>>Chi tiết 9 tội mới đang được đề xuất
Tăng cường tịch thu tài sản số
Cũng nằm trong chính sách xử lý tội phạm công nghệ, dự thảo đề xuất bổ sung các quy định về các dạng tài sản số như tiền số, tài sản số và giấy tờ có giá trên môi trường điện tử làm căn cứ pháp lý để tịch thu và thu hồi tài sản phạm tội.
Theo Bộ Công an, quy định hiện chỉ xác định “vật, tiền” là công cụ, phương tiện hoặc sản phẩm của tội phạm thuộc diện bị tịch thu sung công quỹ. Điều này đang bộc lộ những hạn chế đáng kể trong bối cảnh mới.
Thực tế đã xuất hiện những thực thể mới như đồng tiền điện tử, phần mềm máy tính, các loại game điện tử, sản phẩm AI, cũng có giá trị quy đổi vật chất rất lớn. Song luật lại chưa có sự điều chỉnh. Điều này dẫn đến khó khăn trong thu hồi tài sản, được tội phạm tẩu tán dưới dạng số hóa.
Việc quy phạm các dạng tiền ảo, tài sản mã hóa sẽ giúp áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tịch thu và bồi thường thiệt hại cho nạn nhân.
Theo Bộ Công an, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong các vụ án rửa tiền hoặc lừa đảo xuyên biên giới, nơi tội phạm thường tận dụng tính ẩn danh và khả năng dịch chuyển nhanh của tài sản số để che giấu nguồn gốc bất hợp pháp.
Đối với người dân, chính sách này sẽ là “phao cứu sinh” giúp tăng cơ hội đòi lại tài sản đã mất trong các vụ lừa đảo chiếm đoạt trên môi trường điện tử.
Song thách thức lớn là Nhà nước sẽ phải đầu tư nguồn lực rất lớn để phát triển hạ tầng kỹ thuật chuyên sâu như hệ thống giám định kỹ thuật số và các công cụ truy vết công nghệ blockchain.
Đồng thời, đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán cũng phải được đào tạo chuyên sâu về kiến thức tài chính số để có thể xác định, phong tỏa và định giá tài sản số một cách chính xác, tránh gây thiệt hại cho các bên liên quan ngay tình.
Với doanh nghiệp, dù có thể làm phát sinh thêm chi phí tuân thủ cho các nền tảng số và doanh nghiệp Fintech trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài, đây là bước đi tất yếu để xây dựng một nền kinh tế số bền vững và an toàn.
Vướng mắc được đặt ra từ một vụ án mà bị cáo bị truy tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, người này khai không uống rượu, bia trước khi lái xe.
Tuy nhiên kết quả giám định lại cho thấy trong máu có nồng độ cồn 0,282mg/100ml. Đáng chú ý, cơ quan giám định không xác định được lượng cồn này phát sinh từ đâu.
Từ tình huống trên, tòa án cấp dưới đề nghị hướng dẫn liệu có thể áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự hay không.
Đây là tình tiết áp dụng với trường hợp người phạm tội "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định".
Trong văn bản giải đáp, Tòa án nhân dân tối cao cho rằng điều kiện quan trọng để áp dụng tình tiết này là phải có căn cứ xác định người phạm tội "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia". Theo đó, chỉ riêng kết quả xét nghiệm có nồng độ cồn là chưa đủ.
Tòa án tối cao nêu rõ, để áp dụng tình tiết định khung, kết luận giám định phải xác định được nồng độ cồn trong máu xuất phát từ việc sử dụng rượu, bia hoặc phải có các chứng cứ khác chứng minh người phạm tội đã uống rượu, bia trước khi tham gia giao thông.
“Trường hợp không có căn cứ xác định người phạm tội đã sử dụng rượu, bia thì không áp dụng tình tiết này”, văn bản nêu.
Luật sư Trịnh Văn Tuyến cho rằng hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao đã làm rõ một điểm lâu nay còn nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn xét xử các vụ án giao thông.
Theo đó, điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự quy định tình tiết định khung đối với trường hợp người phạm tội “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”. Vì vậy yếu tố then chốt không chỉ là phát hiện có nồng độ cồn mà còn phải chứng minh được người đó thực sự đã sử dụng rượu, bia.
“Đây là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất”, ông Tuyến nói và cho rằng việc Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu phải xác định rõ nguồn gốc nồng độ cồn là "cách diễn giải đúng tinh thần điều luật, tránh việc suy đoán bất lợi cho người bị buộc tội".
Theo luật sư, trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội.
"Vì vậy nếu chỉ có kết quả xét nghiệm nồng độ cồn mà không kèm các chứng cứ khác như lời khai, hình ảnh camera, nhân chứng, hóa đơn thanh toán hoặc tài liệu thể hiện việc sử dụng rượu, bia thì việc áp dụng tình tiết tăng nặng có thể chưa đủ chặt chẽ".
Ông Tuyến phân tích thêm bản chất của tình tiết định khung này còn gắn với yếu tố lỗi và ý thức chủ quan của người điều khiển phương tiện. Tức cơ quan tố tụng phải làm rõ người đó có chủ động sử dụng rượu, bia trước khi tham gia giao thông hay không, nhận thức được việc uống rượu, bia có thể ảnh hưởng khả năng lái xe nhưng vẫn điều khiển phương tiện.
“Nếu chưa xác định được nguồn gốc nồng độ cồn, chưa chứng minh được hành vi sử dụng rượu, bia thì rất khó khẳng định yếu tố chủ quan của người phạm tội trong trường hợp này”, luật sư nhìn nhận.
Trên thực tế vẫn có những trường hợp trong cơ thể xuất hiện cồn do nguyên nhân khách quan như dùng thuốc, thực phẩm lên men, bệnh lý chuyển hóa hoặc hiện tượng cồn nội sinh. Dù hàm lượng thường không lớn, đây vẫn là yếu tố cần được xem xét, đánh giá thận trọng trong quá trình giải quyết vụ án.
Ông cũng cho rằng hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy sự khác biệt giữa xử phạt hành chính và xử lý hình sự. Với vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông, chỉ cần có nồng độ cồn vượt ngưỡng đã có thể bị xử phạt.
Nhưng trong vụ án hình sự, đặc biệt với tình tiết làm tăng nặng trách nhiệm, yêu cầu chứng minh phải nghiêm ngặt hơn để tránh nguy cơ “đồng nhất” giữa việc có nồng độ cồn với hành vi sử dụng rượu, bia.
Theo ông Tuyến, hướng dẫn này nhiều khả năng sẽ tác động trực tiếp đến quá trình điều tra, dựng hồ sơ các vụ án giao thông thời gian tới, buộc cơ quan tố tụng phải chú trọng hơn tới việc thu thập chứng cứ về quá trình sử dụng rượu, bia thay vì chủ yếu dựa vào kết quả đo nồng độ cồn.
Ngày 24-4, Công an xã Phúc Trạch (tỉnh Hà Tĩnh) cho biết vừa kịp thời phát hiện, ngăn chặn một vụ việc tụ tập gây rối giữa hai nhóm thanh thiếu niên liên tỉnh.
Theo đó, một nhóm thanh thiếu niên tại xã Phúc Trạch đã lập nhóm kín trên Facebook để lôi kéo lực lượng, chuẩn bị hung khí nhằm "giải quyết mâu thuẫn" với nhóm khác đến từ các xã Tuyên Lâm, Tuyên Sơn (tỉnh Quảng Trị).
Địa điểm được nhóm thiếu niên lựa chọn giải quyết mâu thuẫn là khu vực thôn La Khê, xã Phúc Trạch, vùng giáp ranh giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị, nhằm tránh sự phát hiện của lực lượng chức năng.
Ngay khi nắm bắt thông tin, Công an xã Phúc Trạch đã nhanh chóng phối hợp với công an các xã giáp ranh thuộc tỉnh Quảng Trị triển khai lực lượng, đồng loạt triệu tập hai nhóm thiếu niên để làm việc.
Tại cơ quan công an, trước sự chứng kiến của gia đình, các thiếu niên đã thừa nhận hành vi sai trái, nhận thức được hậu quả và ký cam kết không tái phạm. Hiện lực lượng chức năng đã lập danh sách theo dõi, đồng thời phối hợp với nhà trường, gia đình tăng cường quản lý, giáo dục nhằm phòng ngừa tái diễn.
Chiều 22/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị khởi tố vụ án Gây rối trật tự công cộng, điều tra nhóm người rượt đuổi, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn phường Đông Hà và phường Nam Đông Hà.
Đêm 18 rạng sáng 19/4, tại khu vực Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh cơ sở 2 (số 1A, đường Hùng Vương, phường Nam Đông Hà), một nhóm thanh thiếu niên tụ tập, điều khiển xe máy chạy tốc độ cao.
Nhóm này mang theo hung khí, liên tục rượt đuổi, lạng lách, đánh võng, nẹt pô, hò hét gây náo loạn dọc tuyến đường Hùng Vương hướng về phía chợ Đông Hà.
Thời điểm xảy ra sự việc, nhiều người tập trung tại sân Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh quay video đăng lên mạng xã hội. Vụ việc khiến người đi đường hoang mang, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự.
Công an đang truy xét, làm rõ danh tính những người liên quan, củng cố hồ sơ để xử lý theo quy định pháp luật.
Công an Quảng Trị đề nghị các gia đình quản lý, nhắc nhở con em, tránh tụ tập khuya hoặc đi cùng nhóm có biểu hiện bất hảo. Những người liên quan nên chủ động đến cơ quan công an trình diện.
Người dân cũng được khuyến cáo không cổ xúy, livestream hay đăng tải các clip kích động hành vi vi phạm trật tự công cộng lên mạng xã hội.