Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài…
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Cụm từ "cắt lỗ" trong thị trường bất động sản, đặc biệt là phân khúc chung cư cao cấp hiện nay, dường như đã trở thành một thứ nghệ thuật ngôn từ của môi giới ("cò" đất) hơn là một thực tế kinh tế. Khi nghe tin một căn hộ "cắt lỗ" đến 80 triệu một m2 mà người mua vẫn "chết đứng", chúng ta cần tỉnh táo để bóc tách lớp vỏ bọc đầy tính kịch này.
Lỗ thật hay "lỗ trên ngọn lãi"?
Đầu tiên, phải khẳng định, cái gọi là "lỗ" của giới đầu cơ thường là sự sụt giảm so với kỳ vọng lợi nhuận ảo, chứ không phải lỗ trên giá trị thực. Một căn hộ được mua ở giai đoạn F0 với giá gốc, sau đó qua tay 3-4 tầng "cò" với các khoản chi phí "không tên" như phí giữ chỗ, tiền chênh suất ngoại giao, phí này kia để lấy căn góc, căn đẹp... đã đẩy mức giá lên cao chót vót.
Khi thị trường chững lại, môi giới hô hào "cắt lỗ 80 triệu một m2" thực chất chỉ là việc giảm bớt phần lãi dự kiến hoặc phần giá "ngáo" đã được thổi lên trước đó. Đây là kiểu "lỗ khẩu thiệt vô bằng". Nếu một căn hộ mua 10 đồng, thổi giá lên 20 đồng rồi rao bán 15 đồng và gọi đó là "cắt lỗ 5 đồng", thì đó là sự đánh tráo khái niệm. Người mua thực nếu tin vào lời "đổ thóc giống ra mà ăn" này sẽ nghiễm nhiên trở thành kẻ thế chân, ôm lấy cái giá vẫn còn cao gấp rưỡi giá trị thực.
>> Bài toán mua hai mảnh đất dưỡng già nhưng bị đánh thuế như dân đầu cơ
Để chống lại tình trạng "giá trên trời" và bảo vệ người có nhu cầu ở thực, cần những cú đánh trực diện vào cơ chế vận hành của thị trường:
Thứ nhất, công khai và minh bạch hóa cơ sở dữ liệu quốc gia về giá bất động sản: Mỗi căn hộ khi giao dịch phải được ghi nhận giá thực tế trên một hệ thống công khai. Điều này giúp người mua tra cứu được lịch sử giá, chặn đứng việc môi giới tự ý "thổi" giá qua các tầng nấc trung gian.
Thứ hai, đánh thuế cao đối với hành vi đầu cơ: Áp dụng thuế tài sản hoặc thuế lũy tiến đối với người sở hữu từ bất động sản thứ hai trở lên, hoặc những người mua đi bán lại trong thời gian ngắn (lướt sóng). Khi chi phí đầu cơ cao hơn lợi nhuận kỳ vọng, bong bóng giá sẽ tự vỡ.
Thứ ba, siết chặt hoạt động môi giới: Cần quy định trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt đối với môi giới bất động sản. Hành vi cung cấp thông tin sai lệch về giá ("cắt lỗ" giả) phải bị xử phạt hành chính nặng hoặc tước giấy phép hành nghề vĩnh viễn.
Thứ tư, tăng nguồn cung nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá rẻ: Giải pháp bền vững nhất là cân bằng cung - cầu. Khi người dân có nhiều lựa chọn ở phân khúc giá thực, các chiêu trò "cắt lỗ" ảo ở phân khúc cao cấp sẽ không còn đất diễn.
Tóm lại, người mua đừng để những mỹ từ của "cò" làm mờ mắt. "Cắt lỗ" đôi khi chỉ là cái bẫy được giăng ra bằng sự tiếc nuối giả tạo. Người mua thực cần một cái đầu lạnh để nhận ra rằng: giá chỉ thực sự hợp lý khi nó phản ánh đúng giá trị sử dụng và khả năng chi trả của xã hội, chứ không phải nằm trên đầu lưỡi của môi giới, nằm trên miệng lưỡi "cò".
"Bản thân tôi là người theo học ngành kỹ thuật ở đại học Bách khoa Hà Nội. Sau đó, tôi ra nước ngoài du học Thạc sĩ và ở lại làm việc. Nhưng thú thực, tôi hoàn toàn không có đam mê gì với các ngành kỹ thuật, nên cuộc sống của tôi cứ tàng tàng vậy thôi chứ không có gì gọi là bứt phá.
Từ hồi năm hai đại học, tôi đã biết mình không muốn làm kỹ thuật và nói với một giảng viên tôi tin tưởng về ý định muốn bỏ ngang. Khi ấy, cô chỉ nói với tôi một câu: 'Nếu bỏ học, em định làm gì?'. Tôi không trả lời được câu hỏi đó, vì trước giờ cũng chỉ nghe bố mẹ định hướng học ngành này cho dễ xin việc, dễ kiếm tiền, chứ bản thân đã thử cái gì đâu mà biết mình thích làm cái này hay cái kia? Thế nên, cuối cùng tôi lại tiếp tục đi học.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa trả lời được câu hỏi đó nên vẫn chấp nhận làm một ông kỹ sư sáng cắp cặp đi, tối cắp cặp về. Đúng là tôi xin việc rất dễ, thu nhập cũng khá, lại an toàn, nhưng chắc chắn tôi không thể bằng được những người có đam mê, sẵn sàng mày mò nghiên cứu trong thời gian rảnh của họ dù không được trả tiền công. Vì xét cho cùng, đây không phải đam mê của tôi.
>> Tôi đầu tư 600 triệu cho con học đại học đáng giá từng đồng
Tôi luôn cảm thấy bản thân mệt mỏi vì phải gồng tám tiếng một ngày để làm công việc mà mình không thích. Nhưng tôi cũng không có can đảm bỏ hết lại những phúc lợi và sự an toàn hiện tại để bước chân vào khoảng không vô định. Vậy nên tôi vẫn không biết mình thích hay giỏi cái gì, chẳng khác nào một vòng tròn luẩn quẩn".
Đó là chia sẻ của độc giả Tentruycap xung quanh câu hỏi "chọn trường đại học theo đam mê hay ưu tiên ngành dễ xin việc, thu nhập cao?". Mỗi mùa tuyển sinh, hàng trăm nghìn học sinh lại đứng trước một lựa chọn khó giữa một bên là đam mê và cảm giác được sống với điều mình thích, còn bên kia là áp lực cơm áo, kỳ vọng gia đình và nỗi lo thất nghiệp sau tốt nghiệp. Trong bối cảnh thị trường lao động biến động nhanh, nhiều ngành "hot" hôm nay có thể bão hòa chỉ sau vài năm, còn những ngành từng bị xem là ít triển vọng lại bất ngờ khát nhân lực. Vì thế, câu chuyện chọn trường, chọn ngành vẫn là cuộc tranh luận chưa có lời giải chung cho tất cả.
Cũng chọn đại học theo định hướng của cha mẹ, bạn đọc Hố Đen lại có cách tìm ra điểm cân bằng với đam mê của bản thân: Bố mẹ tôi là giáo viên nên khi thi đại học, tôi cũng chọn trường Sư phạm dù bản thân không có ưu thế gì về ngành này. Tôi nói chuyện rất kém trước đám đông, thích ngồi chế tạo hơn là giao tiếp với nhiều người, cũng không phải người thích làm việc theo khuôn mẫu.
Khi ra trường, bố mẹ xin cho tôi vào dạy tại một ngôi trường ở quê. Tuy nhiên, sau một thời gian tôi quyết định nhảy ra ngoài, xin sang làm thử các ngành khác với tâm lý là chấp nhận rủi ro. Và rồi tôi nhận ra mình có thể tìm ra được một mảng công việc yêu thích ngay trong nghề dạy học, nên tôi quay lại.
Tôi thấy không ai thích hẳn một nghề nào đó mà thường chỉ yêu thích một mảng việc trong một nghề mà thôi. Tôi thích việc phân tích, tự thiết kế đồ dùng, sử dụng tin học, nên chọn mảng xây dựng hệ thống tin học, hỗ trợ các giáo viên khác và trung tâm dạy học của bản thân. Tôi tự thiết kế các đồ dùng, thiết bị hỗ trợ học sinh và giáo viên...
Vậy là tôi vẫn làm tiếp nghề mà tôi bị ép vào, nhưng vẫn có thể làm công việc mà mình yêu thích. Giờ tôi trở thành phụ trách mảng kỹ thuật, đánh giá chất lượng dạy và học của công ty giáo dục do mình và vợ lập nên. Như vậy có gọi là thành công?".
Nghị định 94/2026 về đào tạo và sát hạch lái xe vừa bổ sung, sửa đổi các quy định theo hướng giảm thủ tục, nới điều kiện kinh doanh và thúc đẩy chuyển đổi số. Trong bối cảnh tai nạn giao thông vẫn còn ở mức đáng lo ngại, còn ý thức chấp hành luật của một bộ phận người tham gia giao thông chưa cao, câu chuyện đào tạo và sát hạch lái xe tiếp tục thu hút nhiều ý kiến trái chiều.
Độc giả Comet Small đề xuất tách phần thi lý thuyết thành một chứng chỉ độc lập, cho phép người học chủ động tiếp cận kiến thức và kiểm tra năng lực trước khi bước vào giai đoạn thực hành lái xe:
"Tại sao không đưa phần thi lý thuyết sát hạch lái xe thành một chứng chỉ riêng, người thi có thể linh hoạt tự học, tự thi và được cấp chứng chỉ sau khi đủ điều kiện? Khi nào học viên có chứng chỉ lý thuyết thì mới được học và thi thực hành lái xe. Làm như vậy sẽ giúp giảm chi phí cho học viên khá nhiều. Sau này, chúng ta có thể phổ biến chứng chỉ lý thuyết lái xe này như một môn học bắt buộc trong trường phổ thông để mọi người dân tham gia giao thông đều phải hiểu rõ luật, chứ không phải chỉ người có bằng lái xe".