Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), cho biết thời tiết nắng nóng ngày 7.4 khiến sản lượng tiêu thụ điện lập kỷ lục mới.
Cụ thể, công suất cực đại hệ thống điện quốc gia (Pmax) đạt 51.691 MW vào thời điểm 15 giờ 55 ngày 7.4. Trong đó, Pmax miền Bắc đạt 24.717 MV, xác lập kỷ lục mới năm 2026 và tăng 5.521 MW tương đương với 12,0% so với cùng kỳ năm 2025.
Sản lượng điện toàn quốc đạt 1,078 tỉ kWh, xác lập kỷ lục mới năm 2026 và tăng hơn 142 triệu kWh, tương đương với 15,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, sản lượng tiêu thụ điện ở miền Bắc lớn nhất đạt 501 triệu kWh, miền Trung đạt 106 triệu kWh, miền Nam đạt 467 triệu kWh.
Trước đó, ngày 31.3, công suất cực đại hệ thống điện quốc gia đạt 48.789 MW (thời điểm 15 giờ 55 ngày 31.3), tăng 2.512 MW, tương đương tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Sản lượng điện toàn quốc đạt hơn 1,004 tỉ kWh, tăng hơn 69 triệu kWh (tương đương tăng hơn 7,4%) so với cùng kỳ năm 2025.
Bà Phạm Phương Chi, Dự báo viên, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết, do ảnh hưởng của hoàn lưu vùng áp thấp phía tây, trong ngày 8.4, từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng đã xảy ra nắng nóng và nắng nóng đặc biệt gay gắt với nền nhiệt độ phổ biến 37 – 39 độ C. Lúc 16 giờ chiều nay, nhiệt độ ở Tương Dương (Nghệ An) đã có mức cao đến 40 độ C; Tuyên Hóa (Quảng Trị) lên tới 40,7 độ C. Khu vực tây Bắc bộ, cao nguyên Trung bộ có nắng nóng với nhiệt độ 35 – 36 độ C, có nơi trên 37 độ C.
Dự báo thời tiết nắng nóng từ ngày mai từ 9 – 10.4, bà Chi cho biết, khu vực từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng tiếp tục có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, với nhiệt độ phổ biến từ 38 – 40 độ C, có nơi trên 40 độ C.
Phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đà Nẵng có nắng nóng gay gắt, nhiệt độ từ 36 – 38 độ C, có nơi trên 38 độ C. Khu vực tây Bắc bộ có nắng nóng, một số nơi nắng nóng gay gắt, nhiệt độ từ 35 – 37 độ C, có nơi trên 37 độ C.
Cũng theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, trong tháng 4 nắng nóng sẽ gia tăng khắp cả nước, cường độ được đánh giá gay gắt hơn so với cùng kỳ nhiều năm. Bắt đầu từ tháng 5, nắng nóng sẽ xuất hiện nhiều hơn. Đặc biệt, cường độ đợt nắng nóng ở miền Bắc và miền Trung sẽ gia tăng mạnh hơn và kéo dài cho đến tháng 8.2026. Sau đó từ khoảng tháng 9, nắng nóng có xu hướng suy giảm dần.
Trước đó, ngày 30.3, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà yêu cầu các bộ, ngành, tỉnh, thành, tổ chức và người dân phấn đấu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm nay; trong các tháng nắng nóng cao điểm ( từ tháng 4 – tháng 7) mục tiêu tiết kiệm điện là 10%.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cơ quan, đơn vị, công sở đẩy mạnh phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu; điện mặt trời kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm, tăng khả năng tự chủ nguồn điện.
Báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 của CTCP Tập đoàn C.E.O (CEO Group, HNX: CEO) cho thấy doanh nghiệp ghi nhận sự cải thiện rõ nét về kết quả kinh doanh.
Trong kỳ, doanh thu thuần đạt 432,5 tỷ đồng, tăng 32,5% so với cùng kỳ năm trước. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ mảng cung cấp dịch vụ, trong khi doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản có xu hướng giảm nhẹ.
Lợi nhuận gộp đạt 145,4 tỷ đồng, tăng 66,3% so với quý I/2025. Biên lợi nhuận gộp theo đó được cải thiện từ 26,8% lên 33,6 do doanh nghiệp đã kiểm soát giá vốn hiệu quả hơn.
Điểm sáng lớn nhất trong báo cáo tài chính của CEO Group là doanh thu tài chính đạt 31,3 tỷ đồng, tăng hơn gấp đôi cùng kỳ, chủ yếu nhờ lãi tiền gửi, cho vay và phát sinh khoản lãi thoái vốn tại công ty con. Khoản thu này đóng góp đáng kể vào lợi nhuận chung trong quý.
Ở chiều ngược lại, các chi phí hoạt động đều tăng mạnh. Chi phí bán hàng ghi nhận 17,2 tỷ đồng, tăng so với mức 7,3 tỷ đồng cùng kỳ; chi phí quản lý doanh nghiệp đạt 40,7 tỷ đồng, gần gấp đôi so với quý I năm trước.
Sau khi khấu trừ đi mọi chi phí và thuế, CEO Group ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 94 tỷ đồng, tăng 67,6% so với cùng kỳ. Đáng lưu ý, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong quý tiếp tục âm 379,6 tỷ đồng, chủ yếu do gia tăng các khoản phải thu và thực hiện trả nợ vay.
Tại ngày 31/3/2026, tổng tài sản của doanh nghiệp đạt 8.880 tỷ đồng. Trong đó, tài sản ngắn hạn chiếm 51,8%, tương đương 4.595,5 tỷ đồng. Các khoản phải thu ngắn hạn đạt 1.723,3 tỷ đồng, tăng khoảng 25% so với đầu năm.
Tại thời điểm 31/3/2026, hàng tồn kho của CEO Group ghi nhận 1.474,3 tỷ đồng, tăng nhẹ khoảng 4,8 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 0,33% so với đầu năm.
Trong cơ cấu, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.430,9 tỷ đồng, tương đương 97,05% tổng hàng tồn kho và gần như đi ngang so với đầu năm (1.425,9 tỷ đồng).
Giá trị nguyên vật liệu đạt 38,3 tỷ đồng, giảm so với mức 41,7 tỷ đồng đầu kỳ, trong khi hàng hóa ghi nhận 4,8 tỷ đồng, tăng so với 1,4 tỷ đồng đầu năm. Doanh nghiệp không trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Bên cạnh đó, chi phí xây dựng cơ bản dở dang thuộc tài sản dài hạn đạt 1.431 tỷ đồng. Như vậy, tổng giá trị các khoản liên quan đến dự án đang triển khai và hàng tồn kho ở mức khoảng 2.905 tỷ đồng, chiếm 32,7% tổng tài sản.
Một số dự án có giá trị lớn gồm Khu tổ hợp nghỉ dưỡng Sonasea Vân Đồn Harbor City với 1.062,8 tỷ đồng, Khu du lịch Green Hotel & Resort 179,7 tỷ đồng và hệ thống Trường Mầm non, Tiểu học quốc tế CEO khoảng 147 tỷ đồng.
Về nguồn vốn, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đạt 6.537,4 tỷ đồng, chiếm 73,6% tổng nguồn vốn. Tổng nợ phải trả ở mức 2.342,9 tỷ đồng, trong đó dư nợ vay tài chính chỉ chiếm khoảng 675,8 tỷ đồng, tương ứng tỉ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu ở mức thấp.
Trước đó, Bộ Công thương ban hành Quyết định số 571/QĐ-BCT ngày 28.3 tạm ngưng hiệu lực đối với quy định "dầu hỏa" tại khoản 1 điều 6a Thông tư số 38/2014/TT-BCT ngày 24.10.2014 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3.9.2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu.
Bộ Công thương lý giải, quyết định tạm ngưng hiệu lực quy định liên quan đến mặt hàng dầu hỏa được thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ cả về pháp lý và thực tiễn thị trường.
Cụ thể, về thực tiễn, dầu hỏa hiện không còn là mặt hàng tiêu dùng phổ biến. Sản lượng tiêu thụ rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,25% tổng tiêu thụ xăng dầu, chủ yếu phục vụ một số mục đích đặc thù trong công nghiệp; nhu cầu trong dân sinh (thắp sáng, đun nấu) đã giảm mạnh do được thay thế bởi điện và các nhiên liệu khác.
Do đó, việc tiếp tục đưa dầu hỏa vào nhóm mặt hàng để Nhà nước công bố giá cơ sở và điều hành giá định kỳ là không còn phù hợp với thực tế.
Về pháp lý, Bộ Công thương khẳng định, các quy định hiện hành chỉ xác định danh mục các mặt hàng xăng dầu, còn khái niệm "mặt hàng tiêu dùng phổ biến" được sử dụng phục vụ công tác điều hành giá không phải là danh mục cứng mang tính bắt buộc.
Theo đó, việc tạm ngưng hiệu lực quy định coi dầu hỏa là mặt hàng tiêu dùng phổ biến là phù hợp thẩm quyền và không trái với quy định pháp luật hiện hành.
Xét trong bối cảnh thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và yêu cầu điều hành giá xăng dầu, Bộ Công thương cho rằng, nếu tiếp tục coi dầu hỏa là mặt hàng tiêu dùng phổ biến thì khi giá mặt hàng này biến động mạnh (có thời điểm tăng trên 15%) sẽ kích hoạt cơ chế điều hành giá xăng dầu, dẫn đến việc điều chỉnh giá đối với các mặt hàng thiết yếu khác như xăng và dầu diesel. Điều này có thể gây tác động không cần thiết đến mặt bằng giá, lạm phát và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó, việc tạm ngưng hiệu lực đối với dầu hỏa là giải pháp kịp thời, cần thiết, nhằm bảo đảm điều hành giá xăng dầu linh hoạt, sát thực tiễn và tránh biến động "giật cục".
Cũng theo Bộ Công thương, đối với cơ chế quản lý hiện nay, dầu hỏa vẫn là mặt hàng thuộc danh mục xăng dầu, được kinh doanh theo quy định của pháp luật về kinh doanh xăng dầu; không còn thuộc nhóm mặt hàng Nhà nước công bố giá cơ sở và điều hành giá định kỳ.
Giá bán được thực hiện theo cơ chế thị trường, do doanh nghiệp quyết định trên cơ sở cung cầu và chi phí. Nhà nước vẫn thực hiện quản lý về chất lượng, tiêu chuẩn, an toàn và nguồn cung theo quy định hiện hành.
Kỳ điều hành giá xăng dầu gần nhất được liên bộ Công thương - Tài chính công bố, áp dụng từ sau 15 giờ ngày 23.4. Trong kỳ điều hành này, liên bộ Công thương - Tài chính quyết định trích lập 400 đồng/lít đối với dầu diesel và 400 đồng/kg đối với dầu mazut; không chi quỹ đối với tất cả các mặt hàng xăng dầu.
Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam vừa ra thông báo chính thức vận hành với tên gọi mới: Công ty cổ phần - Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam thay cho tên gọi cũ Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn từ ngày 10.5. Tên giao dịch bằng tiếng Anh là Petrovietnam Refining and Petrochemical Corporation.
Tên gọi mới đã được đăng ký giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi cấp.
Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông BSR ngày 13.4 đã thông qua việc thay đổi tên gọi doanh nghiệp. Ngày 8.5, Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) ban hành nghị quyết thông qua việc đổi tên doanh nghiệp thành “Công ty cổ phần - Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam”.
Trụ sở chính của Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam vẫn sử dụng địa chỉ cũ: số 208 Đại lộ Hùng Vương, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi; vốn điều lệ 50.072.996.860.000 đồng (Năm mươi nghìn không trăm bảy mươi hai tỉ chín trăm chín mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) với tổng số hơn 50 tỉ cổ phần.
Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Việt Thắng - Tổng giám đốc.
Theo thông báo, tên doanh nghiệp viết tắt vẫn sử dụng là “BSR” như tên thương hiệu; hệ thống nhận diện với logo mang chữ “BSR” vẫn được duy trì. Việc sử dụng tên gọi mới nhằm thống nhất nhận diện thương hiệu, phù hợp với định hướng phát triển theo mô hình tổng công ty và mở rộng vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị năng lượng quốc gia.
Nghị quyết cũng giao Ban điều hành tổ chức thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan, đồng thời chuẩn hóa hệ thống nhận diện thương hiệu, hồ sơ pháp lý, giao dịch và hoạt động quản trị phù hợp với mô hình tổng công ty trong giai đoạn mới.
Việc đổi tên doanh nghiệp được xem là dấu mốc quan trọng trong hành trình phát triển của BSR sau gần hai thập niên vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất; không chỉ đơn thuần thay đổi thương hiệu, mà thể hiện định hướng phát triển mới với quy mô lớn hơn, tầm nhìn dài hạn hơn và vai trò sâu rộng hơn trong hệ sinh thái năng lượng quốc gia.
Việc xây dựng và phát triển BSR thành Tổng công ty được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời gắn với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ BSR lần thứ 7, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và định hướng của Petrovietnam về nâng tầm tổ chức, tái định vị vai trò, vị trí và hình ảnh của BSR trong hệ sinh thái năng lượng quốc gia.