Ngày 17-10-2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2017/NĐ-CP quy định điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô. Qua 7 năm triển khai thực hiện, về cơ bản Nghị định đã đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế triển khai, thực hiện đã phát sinh một số tình huống cần phải sửa đổi, bổ sung quy định.
Cụ thể, Nghị định số 117/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 2 theo hướng không áp dụng các điều kiện kinh doanh quy định tại Nghị định này đối với tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô phục vụ mục đích xuất khẩu.
Nghị định số 117/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm a, c, đ khoản 3 Điều 8 về quy định trình tự cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô.
Theo quy định mới, trình tự cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô sẽ được thực hiện như sau:
Doanh nghiệp gửi 1 bộ hồ sơ theo quy định trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính tới Bộ Công Thương hoặc hình thức trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa đúng quy định, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Công Thương có văn bản yêu cầu doanh nghiệp bổ sung, hoàn thiện theo đúng quy định;
Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Công Thương thông báo cụ thể thời gian tiến hành kiểm tra, đánh giá thực tế tại doanh nghiệp.
Thời hạn kiểm tra không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày thông báo. Các nội dung kiểm tra phải được lập thành biên bản (mẫu số 09 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này).
Trường hợp kết quả kiểm tra, đánh giá chưa đạt yêu cầu, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc kiểm tra, Bộ Công Thương thông báo để doanh nghiệp hoàn thiện;
Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô (mẫu số 04 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này) được cấp trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả thẩm định hồ sơ và kiểm tra thực tế đạt yêu cầu.
Trường hợp từ chối cấp giấy chứng nhận, Bộ Công Thương trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;
Doanh nghiệp nhận giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô trực tiếp tại Bộ Công Thương hoặc qua hệ thống bưu chính (nếu có yêu cầu) hoặc trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Nghị định số 117/2026/NĐ-CP sửa đổi, bãi bỏ điểm a, d khoản 3 của Điều 16 quy định về trình tự cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô.
Theo đó, trình tự cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô như sau:
Doanh nghiệp nộp 1 bộ hồ sơ theo quy định trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính tới Bộ Công Thương hoặc hình thức trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa đúng quy định, trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Công Thương có văn bản yêu cầu doanh nghiệp bổ sung, hoàn thiện theo đúng quy định;
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Bộ Công Thương xem xét cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô cho doanh nghiệp (mẫu số 08 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này).
Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương thông báo thời gian tiến hành kiểm tra tính xác thực của các điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định này.
Thời hạn kiểm tra không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày thông báo. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả kiểm tra, Bộ Công Thương xem xét cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô cho doanh nghiệp.
Trường hợp không cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô cho doanh nghiệp, Bộ Công Thương trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Doanh nghiệp nhận giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô trực tiếp tại Bộ Công Thương hoặc qua hệ thống bưu chính (nếu có yêu cầu) hoặc trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Các tài xế thường được khuyến cáo nên giữ khoảng cách an toàn khi lái xe, đặc biệt trên đường cao tốc. Nhưng khoảng cách an toàn chính xác là gì, và làm thế nào người lái xe có thể nhanh chóng và chính xác ước lượng nó khi lái xe trên đường cao tốc?
Tại Trung Quốc, vạch 69 trên đường cao tốc nói đến vạch trắng đứt đoạn, mỗi đoạn trắng dài 6 m và khoảng cách giữa hai đoạn là 9 m, vì vậy có tên là "vạch 69". Tổng chiều dài của mỗi cặp đoạn vạch phân làn và khoảng cách giữa chúng là 15 m, và khoảng cách giữa 10 đoạn trắng là 150 m.
Một đại diện của Ban hướng dẫn phòng ngừa và xử lý tai nạn giao thông thuộc Cục quản lý giao thông Bộ Công an Trung Quốc nói rằng nếu đang lái xe với tốc độ trên 100 km/h trên đường cao tốc, tài xế cần duy trì khoảng cách an toàn hơn 100 m so với xe phía trước.
Trong trường hợp này, họ có thể đếm xem có bao nhiêu vạch kẻ đường (69) giữa bạn và xe phía trước. Nếu ít hơn 6 vạch, nên giảm tốc độ cho phù hợp để tăng khoảng cách. Nếu tốc độ dưới 100 km/h, khoảng cách có thể được rút ngắn cho phù hợp, nhưng không được ít hơn 50 m. Điều đó có nghĩa nên duy trì khoảng cách ít nhất ba vạch kẻ đường giữa bạn và xe phía trước.
Ngoài ra, khi lái xe trên đường cao tốc, trong trường hợp xảy ra tai nạn hoặc xe bị hỏng hóc, theo quy định, người lái xe phải đặt biển báo cảnh báo cách đó 150 m về phía sau. Vạch kẻ 69 là một cách để các tài xế dễ dàng xác định khoảng cách này. "Chỉ cần đếm 10 vạch, ta được 150 m", người đại diện trên nói.
Trong nhiều năm, Mazda được xem là thương hiệu “vượt tầm” trong phân khúc phổ thông, với nội thất cao cấp, cảm giác lái hướng người dùng và độ tin cậy cao. Thậm chí, hãng từng vươn lên vị trí thứ hai trong bảng xếp hạng độ tin cậy của Consumer Reports.
Tuy nhiên đến năm 2026, Mazda ghi nhận mức sụt giảm mạnh nhất trong số các hãng xe, rơi 8 bậc xuống vị trí thứ 14. Điều đáng chú ý là những nguyên nhân dẫn đến sự tụt hạng này lại xuất phát từ chính các quyết định chiến lược của hãng.
Sự sa sút của Mazda gắn liền với bước chuyển mạnh sang nền tảng và công nghệ mới. Hai mẫu CX-70 và CX-90 (mẫu xe dự kiến bán tại Việt Nam) được phát triển với động cơ, hộp số và khung gầm hoàn toàn mới, đồng thời đánh dấu lần đầu hãng tham gia sâu vào phân khúc xe plug-in hybrid (PHEV).
Việc đưa quá nhiều công nghệ mới ra thị trường cùng lúc khiến các mẫu xe này gặp vấn đề về độ tin cậy. Cả phiên bản động cơ đốt trong lẫn PHEV đều bị đánh giá dưới mức trung bình, trong đó các biến thể PHEV tiếp tục ghi nhận lỗi liên quan đến pin và mô tơ điện.
Ngược lại, các dòng xe Mazda trước đây vốn sử dụng nền tảng quen thuộc, động cơ hút khí tự nhiên và hộp số tự động truyền thống lại có độ ổn định cao hơn. Những mẫu như Mazda3 được chấm điểm trên mức trung bình, còn CX-30 và CX-50 đạt mức trung bình.
Giới chuyên môn cho rằng thành công trước đây của Mazda đến từ cách tiếp cận thận trọng, cải tiến từng bước. Khi hãng thay đổi chiến lược theo hướng “nhảy vọt” về công nghệ, chất lượng sản phẩm cũng bị ảnh hưởng.
Không chỉ thay đổi về nền tảng, Mazda còn đẩy mạnh xu hướng số hóa nội thất. Dù người dùng bắt đầu phản ánh các vấn đề trên những mẫu xe mới phức tạp, ban lãnh đạo Mazda lại tiếp tục bảo vệ hướng đi này. Hãng ủng hộ việc trang bị màn hình cảm ứng 26inch trên CX-6e, cho rằng màn hình lớn giúp hiển thị thông tin rõ ràng hơn.
Đồng thời, Mazda tiến hành thiết kế lại toàn bộ giao diện người dùng, loại bỏ nhiều nút bấm vật lý trên bảng táp lô dựa trên phản hồi khách hàng.
Sự trớ trêu nằm ở chỗ, nội thất “toàn màn hình” trên Mazda CX-5 2026 xuất hiện đúng lúc nhiều hãng xe khác đang quay lại với các nút bấm vật lý.
Mazda từng xây dựng danh tiếng dựa trên triết lý thiết kế tối giản, an toàn và tập trung vào người lái. Việc chuyển hướng sang nội thất “toàn màn hình” cùng lúc với sự suy giảm về độ tin cậy khiến không ít khách hàng tỏ ra thất vọng.
Dữ liệu mới nhất cho thấy người dùng đã nhận ra sự thay đổi này, và phản ứng của họ không mấy tích cực.
Ngược lại với Mazda, Tesla tăng 8 bậc so với năm trước, vươn lên vị trí thứ 9. Kết quả này chủ yếu đến từ hiệu suất ổn định của Model 3 và đặc biệt là Model Y. Dù Cybertruck vẫn có điểm số dưới trung bình, tổng thể cho thấy Tesla đang dần cải thiện các vấn đề về hoàn thiện và lỗi phần cứng từng bị phàn nàn trước đây.
Trong khi đó, top 5 là những cái tên quen thuộc với Toyota đứng đầu, theo sau lần lượt là Subaru, Lexus, Honda và BMW. Báo cáo cũng chỉ ra rằng xe hybrid truyền thống vẫn là lựa chọn an toàn cho những khách hàng muốn tiết kiệm nhiên liệu nhưng vẫn ưu tiên động cơ đốt trong.
Trong quá trình sử dụng ô tô, đặc biệt những mẫu xe đã qua sử dụng một thời gian dài, người lái có thể nghe thấy những âm thanh lạ phát ra từ một số bộ phận trên xe. Với các tài mới hoặc những người chưa có nhiều kinh nghiệm sử dụng ô tô thường bỏ qua những âm thanh này hoặc chọn cách mở nhạc để lấn át âm thanh phát ra trong quá trình ô tô vận hành. Tuy nhiên, theo các kỹ thuật viên chuyên bảo dưỡng, sửa chữa ô tô chính những âm thanh lạ phát ra khi ô tô đang hoạt động thực chất là "dấu hiệu cảnh báo" sự cố, hư hỏng trên xe.
Việc lắng nghe âm thanh phát ra từ các bộ phận trên xe trong quá trình vận hành có thể giúp các tài xế nhận biết sớm các vấn đề hư hỏng, qua đó xử lý kịp thời để đảm bảo an toàn, tiết kiệm chi phí sửa chữa.
Một trong những âm thanh người lái dễ nhận thấy nhất là tiếng rít khi đạp phanh. Đây là dấu hiệu báo hiệu má phanh đã bị mòn hoặc bám bụi bẩn. Khi lớp vật liệu trên má phanh mòn quá mức an toàn, tấm kim loại phía sau có thể tiếp xúc trực tiếp với đĩa phanh, gây ra tiếng rít chói tai. Ngoài ra, tiếng kêu này cũng có thể xuất phát từ việc đĩa phanh bị cong vênh hoặc bề mặt không đều do quá nhiệt. Nếu tiếp tục sử dụng trong tình trạng này, hiệu quả phanh sẽ giảm, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, đặc biệt khi di chuyển ở tốc độ cao.
Âm thanh lách cách đều đặn theo vòng tua máy thường liên quan đến các chi tiết bên trong động cơ như xu-pap hoặc kim phun nhiên liệu. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân xuất phát từ việc thiếu dầu bôi trơn hoặc dầu động cơ đã xuống cấp. Khi các chi tiết kim loại không được bôi trơn đầy đủ, ma sát tăng lên, dẫn đến tiếng kêu bất thường. Nếu không xử lý kịp thời, tình trạng này có thể gây mài mòn nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến hỏng động cơ, tốn kém chi phí sửa chữa.
Đây cũng là một trong những âm thanh dễ nhận thấy trên ô tô, nhất là các mẫu ô tô đã qua sử dụng lâu năm. Tiếng hú xuất hiện khi xe vận hành ở tốc độ cao thường liên quan đến hệ thống truyền động hoặc lốp xe. Một nguyên nhân phổ biến là vòng bi bánh xe bị mòn hoặc hư hỏng. Khi đó, ma sát tăng lên sẽ tạo ra âm thanh hú kéo dài, càng rõ khi tốc độ càng lớn.
Ngoài ra, lốp xe mòn không đều hoặc áp suất lốp không đúng tiêu chuẩn cũng có thể gây ra hiện tượng này. Trong một số trường hợp, tiếng hú còn đến từ hộp số hoặc vi sai, đặc biệt trên những xe đã sử dụng lâu năm.
Âm thanh rít xuất hiện đánh lái hết cỡ là dấu hiệu cảnh báo nhiều khả năng hệ thống trợ lực lái đang gặp vấn đề. Với xe sử dụng trợ lực thủy lực, nguyên nhân thường do thiếu dầu trợ lực hoặc dây cu-roa bị trượt. Khi áp suất dầu không đủ, bơm trợ lực sẽ phát ra tiếng rít rõ rệt.
Trong khi đó, với xe dùng trợ lực điện, tiếng kêu có thể liên quan đến mô-tơ hoặc cảm biến góc lái. Dù xuất phát từ nguyên nhân nào, việc tiếp tục sử dụng trong thời gian dài có thể khiến hệ thống lái hoạt động kém chính xác, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng kiểm soát xe.
Âm thanh lạch cạch phát ra khi ô tô di chuyển qua đoạn đường xấu thường liên quan đến hệ thống treo. Các chi tiết như rô-tuyn, thanh cân bằng, giảm xóc hoặc cao su càng A có thể đã bị mòn hoặc lỏng lẻo sau thời gian dài sử dụng. Nếu không được kiểm tra và thay thế kịp thời, hệ thống treo sẽ mất khả năng giảm chấn, khiến xe rung lắc mạnh hơn, giảm độ ổn định khi vào cua hoặc phanh gấp. Đây cũng là nguyên nhân khiến lốp xe mòn nhanh và không đều.
Thực tế cho thấy, phần lớn các hư hỏng nghiêm trọng trên ô tô đều có dấu hiệu cảnh báo từ sớm thông qua âm thanh. Tuy nhiên, do chủ quan hoặc thiếu kiến thức, nhiều người dùng đã bỏ qua những tín hiệu này, dẫn đến chi phí sửa chữa tăng cao và nguy cơ mất an toàn khi lưu thông. Do đó, khi phát hiện âm thanh lạ phát ra trong quá trình sử dụng ô tô, người dùng nên đưa xe đến garage uy tín để kiểm tra.