Thú thực là khi đứng giữa lòng Sài Gòn – TP.HCM rực rỡ của năm 2026 này, nhìn những bảng hiệu LED lấp lánh trên phố đi bộ Nguyễn Huệ (TP.HCM), trong đầu tôi lại hiện lên một hình ảnh chẳng liên quan chút nào. Đó là mùi dầu hỏa nồng hắc từ “chiếc đèn Huê Kỳ” và tiếng lạch cạch của chiếc quạt nan cũ kỹ giữa trưa hè oi ả. Với những đứa trẻ sinh ra ngay sau ngày đất nước thống nhất như tôi, ký ức về thành phố không bắt đầu bằng những tòa nhà chọc trời. Nó bắt đầu bằng bóng tối và những sự chờ đợi.
Trở lại cái thời cắt điện luân phiên ấy gian khó thật nhưng cũng đầy tình nghĩa. Hễ điện tắt là cả xóm lại kéo nhau ra vỉa hè hóng gió, tiếng máy nổ “bạch bạch” của mấy nhà khá giả vang lên xé toạc cái tĩnh lặng của đêm đen.
Và trong ánh đèn lờ mờ ấy, hình ảnh những chú thợ điện vai vác thang tre, len lỏi qua từng con hẻm nhỏ với bộ đồ bảo hộ sờn cũ đã trở thành một phần của tuổi thơ tôi. Họ không chỉ đi sửa dây điện chằng chịt như mạng nhện đâu. Tôi cảm giác họ đang chắt chiu từng tia sáng để nối lại niềm hy vọng cho một thành phố vừa đi qua bão táp chiến tranh.
Rồi Sài Gòn chuyển mình. Thập niên 90 và những năm đầu thế kỷ 21 chứng kiến một sự lột xác ngoạn mục. Những trạm biến áp 110 kV, 220 kV mọc lên, đóng vai trò như những “trái tim” khổng lồ bơm sức sống cho vùng đất năng động nhất cả nước này. Tôi vẫn nhớ cảm giác choáng ngợp khi lần đầu thấy đèn cao áp rực sáng dọc đại lộ Đông Tây. Chao ôi, nó đẹp lạ lùng! Nhưng có một cuộc cách mạng khác, lặng lẽ hơn mà có lẽ ít người để ý: Chiến dịch ngầm hóa lưới điện.
Chưa kể đến việc an toàn, cái hay nhất là nhìn lên bầu trời thành phố hôm nay, bạn sẽ không còn thấy những “búi dây” đen kịt che lấp màu xanh của mây trời nữa. Những hàng cột điện thô kệch đã lùi bước, nhường chỗ cho không gian kiến trúc thông thoáng. Dòng điện bây giờ đã được giấu kín vào lòng đất, trở thành những mạch máu ngầm bền bỉ, mặc kệ những cơn mưa rào bất chợt hay giông bão phương Nam, ánh sáng vẫn chưa bao giờ lỗi nhịp.
50 năm ngành điện thành phố – một nửa thế kỷ, một hành trình dài dằng dặc từ việc phải đóng cắt điện bằng tay cho đến lúc làm chủ công nghệ 4.0. Giờ đây, ngồi trong một quán cà phê nhỏ ven sông, tôi có thể thanh toán hóa đơn điện chỉ bằng một cái chạm nhẹ trên smartphone. Tiện lợi đến mức đôi khi mình quên mất sự hiện diện của nó. Không còn cảnh nhân viên cầm sổ gõ cửa từng nhà, thay vào đó là hệ thống đo xa và trung tâm điều khiển từ xa cực kỳ hiện đại. Thậm chí, nhiều khi sự cố được xử lý xong xuôi trong tích tắc trước cả khi khách hàng kịp nhận ra.
Thế nhưng, dù hiện đại đến đâu, cái “chất” của người thợ điện Sài Gòn – TP.HCM vẫn vậy. Vẫn là màu áo cam rực rỡ đó, nhưng giờ họ là những “kỹ sư số”, âm thầm gác đêm cho ánh sáng của những tòa nhà chọc trời và các dây chuyền sản xuất công nghệ cao.
Đêm nay, đứng từ trên cao nhìn xuống, Sài Gòn hiện ra như một dải ngân hà lộng lẫy. Tôi chợt nhận ra sự vĩ đại đôi khi chẳng nằm ở những tượng đài sừng sững, mà nằm chính ở mạch điện ngầm đang lặng lẽ chảy dưới chân mình.
Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), tôi muốn gửi một lời cảm ơn chân thành đến “những người giữ lửa” thầm lặng. Ánh điện hôm nay không chỉ thắp sáng những ngôi nhà, mà còn thắp sáng cả khát vọng vươn tầm quốc tế của một đô thị đặc biệt. Sài Gòn – TP.HCM năm 2026, ánh sáng vẫn lung linh trên dòng kênh Nhiêu Lộc, viết tiếp một hành trình 50 năm kiên cường và rực rỡ của EVNHCMC.
Mạng xã hội chia sẻ hình ảnh và đoạn clip ghi lại cảnh người dân ở xóm Trắng Cát (xã Yên Phú, tỉnh Phú Thọ) hào hứng vui vẻ nhận cá sau khi kéo lưới. Những mẻ cá tươi được chia đều từng phần để ai cũng được cá sau vài năm góp tiền mua cá giống. Với người dân nơi đây, giá trị không nằm ở số cá nhận được mà chính là niềm vui, sự đoàn kết của cả xóm.
Chia sẻ với Thanh Niên, ông Đặng Thế Tùng, chủ nhân đoạn clip cho biết khoảng tháng 5 hằng năm, người dân trong xóm tổ chức kéo lưới. Mỗi lần kéo lưới, người lớn trẻ nhỏ đều háo hức tham gia, không khí vui vẻ giống ngày hội của làng.
"Mỗi hộ trong xóm góp một khoản để mua cá giống, cá được thả tự nhiên, không ăn thức ăn công nghiệp. Dù hồ chứa nhiều cá nuôi nhưng mọi người không sợ tình trạng trộm cắp vì ai cũng có ý thức bảo vệ chung để vài năm kể từ ngày thả giống sẽ có cá để thu hoạch", ông Tùng cho biết.
Chị Bùi Thị Lâm (40 tuổi, phó trưởng xóm Trắng Cát) cho biết hồ nuôi cá của xóm có tên là hồ Deo. Theo chị Lâm, không ai nhớ rõ truyền thống này bắt đầu từ khi nào, chỉ biết từ khi còn nhỏ chị đã thấy người dân trong xóm cùng nhau thả cá rồi đến kỳ lại tụ họp kéo lưới thu hoạch.
Hồ Deo thuộc sự quản lý của UBND xã Yên Phú, giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho người dân địa phương. Hằng năm, 183 hộ dân trong xóm sẽ đóng góp 100.000 đồng/hộ để mua cá giống thả xuống hồ. Những gia đình muốn nhận nhiều phần cá hơn có thể đăng ký thêm suất, tương ứng 200.000 đồng cho 2 suất, 300.000 đồng cho 3 suất...
"Các loại cá được thả chủ yếu là cá chép, cá trắm, cá rô phi, cá mè… Sau khoảng 2 năm, bà con sẽ cùng nhau kéo lưới thu hoạch. Có năm được nhiều, có năm ít, riêng năm nay thu được khoảng 2 tấn cá. Thậm chí có năm số cá chia về cho mỗi nhà còn thấp hơn số tiền góp ban đầu, nhưng ai cũng vui vì đây là nét truyền thống gắn kết tình làng nghĩa xóm", chị Lâm chia sẻ.
Sau khi kéo lưới, bà con sẽ tiếp tục chờ nước trong hồ đầy lên để tiếp tục thả cá giống. Cứ như vậy, truyền thống thả cá và kéo lưới được giữ gìn suốt nhiều năm.
Cao điểm mùa gặt lúa cũng là lúc nghề vác lúa vào vụ. Dọc các tuyến kênh thuộc xã Tân Long nhộn nhịp ghe xuồng, xe cộ. Người lao động vất vả mưu sinh dưới trời nắng nóng.
Lúa sau khi thu hoạch được vác từ ruộng ra bờ kênh tập kết để thương lái cân, rồi chuyển xuống ghe hoặc đưa lên xe vận chuyển về các nhà máy xay xát. Công đoạn này phụ thuộc hoàn toàn vào sức người, tạo nên một "dây chuyền" lao động đặc trưng của mùa gặt miền Tây.
Giữa cái nắng gay gắt từ 37 đến xấp xỉ 40 độ C, những đội vác lúa (từ 15 - 20 người/đội) vẫn miệt mài làm việc. Mỗi ngày, một đội có thể vận chuyển từ 150 - 170 tấn lúa. Những bao lúa nặng 45 - 50 kg liên tục được vác trên vai trong nhịp điệu khẩn trương và sự phối hợp nhịp nhàng.
Một lao động trẻ chia sẻ: "Công việc nặng nhọc nhưng không khí lao động luôn rộn ràng tiếng nói cười. Mạnh hay yếu cũng vác như nhau, ai mệt thì anh em đỡ cho nhau. Sự tương trợ giúp chúng tôi vượt qua thời gian làm việc từ sáng sớm đến chiều tối, thậm chí không nghỉ trưa".
Buổi trưa, nắng đổ lửa, mồ hôi ướt lưng áo, nhiều người thay phiên nhau tiếp sức. Những vết trầy xước do bao lúa cọ vào vai, vào cổ là điều quá quen thuộc. Đổi lại, thu nhập từ nghề này khá ổn định trong mùa vụ.
Trung bình, mỗi người kiếm được 500.000 - 600.000 đồng/ngày. Công việc không đều, ai nghỉ sẽ dễ "mất mối" nên phần lớn đều cố gắng làm.
Không chỉ nam giới, phụ nữ cũng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi công việc mùa gặt. Tại các ruộng lúa, những phụ nữ thoăn thoắt xúc lúa, giữ bao, buộc miệng bao.
Từ 6 giờ đến khoảng 16 giờ, họ làm việc liên tục. Mỗi ngày công được trả khoảng 280.000 đồng, nếu làm thêm sau giờ, thu nhập được tính theo sản lượng với mức 2.500 đồng mỗi bao lúa. Nhờ đó, vào cao điểm mùa vụ, nhiều phụ nữ có thể thu nhập trên 500.000 đồng/ngày.
Chị Thạch Hồng (42 tuổi, ở xã Tân Long) bộc bạch: "Công việc này cực lắm, đứng dưới nắng suốt ngày, tay chân không ngơi nghỉ. Nhưng có việc để làm là may mắn và mùa gặt mà kiếm được chừng đó tiền công là mừng lắm".
Mùa gặt không chỉ mang lại thu nhập mà còn tạo nên không khí lao động sôi động, gắn kết cộng đồng. Tiếng máy gặt, tiếng gọi nhau í ới, xen lẫn tiếng cười nói rôm rả tạo nên bức tranh sinh động của vùng quê mùa thu hoạch.
Với nhiều lao động, cuộc sống gắn liền với mùa vụ. Hết mùa gặt lúa, họ lại chuyển sang cấy, giặm, làm thuê… để duy trì thu nhập.
Dù nhiều nhọc nhằn, nhưng công việc theo mùa như vậy đã giúp người dân Tân Long có thêm nguồn sống. Mỗi bao lúa được vác đi không chỉ là thành quả của người nông dân mà còn là công sức của những người lao động thầm lặng phía sau.
Hàng trăm tài xế bị CSGT xử phạt vì chạy chậm trên cao tốc TP.HCM - Vân Phong. Trong đó, xe container và xe tải chiếm phần lớn số trường hợp vi phạm.
Ngày 15.5, Đội CSGT đường bộ cao tốc số 6 (Phòng 6, Cục CSGT) cho biết từ ngày 15.4 đến 11.5, đơn vị đã xử lý 187 trường hợp điều khiển phương tiện chạy dưới tốc độ tối thiểu trên các đoạn cao tốc có quy định tốc độ tối thiểu thuộc tuyến TP.HCM - Vân Phong.
Trong số này có 103 xe container, 80 xe tải và 4 xe con. Theo quy định hiện hành, hành vi điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1 triệu đồng.
Theo lực lượng CSGT, nhiều tài xế thường nghĩ chạy chậm trên cao tốc là an toàn. Tuy nhiên, việc lưu thông dưới tốc độ tối thiểu có thể khiến dòng xe phía sau phải giảm tốc đột ngột hoặc chuyển làn liên tục để vượt, làm tăng nguy cơ va chạm, đặc biệt với các tuyến có lưu lượng xe lớn.
Ngoài lỗi chạy dưới tốc độ tối thiểu, Đội CSGT đường bộ cao tốc số 6 cũng xử lý 374 trường hợp chạy quá tốc độ quy định trong cùng thời gian.
Trong đó có 217 xe con, 91 xe container, 51 xe tải và 15 xe khách.
Tuyến TP.HCM - Vân Phong gồm nhiều đoạn cao tốc đã đưa vào khai thác như TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, Phan Thiết - Dầu Giây, Cam Lâm - Vĩnh Hảo, Vĩnh Hảo - Phan Thiết, Nha Trang - Cam Lâm và Vân Phong - Nha Trang. Trên các tuyến này đều có quy định tốc độ tối thiểu nhằm đảm bảo dòng phương tiện lưu thông ổn định và an toàn.
Theo CSGT, ngoài việc chú ý giới hạn tốc độ tối đa, tài xế khi đi cao tốc cũng cần quan sát biển báo tốc độ tối thiểu để tránh vi phạm và hạn chế nguy cơ gây mất an toàn giao thông.
Thời gian qua, lực lượng chức năng tăng cường sử dụng camera nghiệp vụ, thiết bị ghi hình và tuần tra lưu động để phát hiện các hành vi vi phạm trên cao tốc, nhất là các lỗi tiềm ẩn nguy cơ tai nạn như chạy quá tốc độ, đi chậm dưới tốc độ tối thiểu, chuyển làn không đúng quy định hoặc dừng, đỗ sai quy định.