Ngày 15/5, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025. Chỉ số này được thực hiện định kỳ từ năm 2005, là một trong những chỉ báo đánh giá khả năng xây dựng môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư của chính quyền các địa phương. Đây là năm đầu tiên họ công bố chỉ số này sau khi sáp nhập 34 tỉnh, thành.
Năm nay, thay vì đo lường môi trường kinh doanh các tỉnh, VCCI chuyển sang đánh giá hệ sinh thái phát triển tư nhân, bởi “điều hành phải tạo ra hiệu quả, tạo ra lực lượng doanh nghiệp tư nhân mạnh”. Cơ quan này cũng chuyển từ công bố bảng xếp hạng cụ thể sang các nhóm chất lượng điều hành.
Theo đó, không tỉnh, thành nào đạt chất lượng điều hành rất tốt, với điểm số PCI trên 70,8 điểm. Nhóm đạt xếp hạng tốt (67,28-70,8 điểm) gồm Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ và Quảng Ninh. TP HCM thuộc nhóm khá, cùng 12 địa phương gồm Huế, Hưng Yên, Thái Nguyên, Khánh Hòa, Lạng Sơn…
VCCI không công bố chi tiết nhóm trung bình (gồm 10 tỉnh, thành), tương đối thấp (5 tỉnh, thành) và thấp (1). Đối chiếu tổng điểm thành phần, Hà Nội đạt 57,49 điểm, thuộc nhóm tương đối thấp.
Hà Nội có 6 trên 9 chỉ số thành phần thấp hơn trung vị cả nước, gồm gia nhập thị trường, tính minh bạch, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng, thiết chế pháp lý và chính quyền kiến tạo. TP HCM có 3 chỉ số thấp hơn trung vị, gồm chi phí không chính thức, thiết chế pháp lý và chính quyền kiến tạo.
Theo VCCI, chỉ số chính quyền kiến tạo và cạnh tranh bình đẳng ghi nhận sự phân hóa mạnh giữa các địa phương. Tức là, một số địa phương đã có bước tiến mạnh trong việc tạo sân chơi bình đẳng và duy trì chính quyền chủ động, trong khi nhiều nơi khác còn cách xa chuẩn thực hành tốt.
Trong nhóm điều hành tốt, Bắc Ninh dẫn đầu các chỉ số chính quyền kiến tạo – phản ánh tính linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả tháo gỡ khó khăn cho khu vực tư nhân, và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính. Tức là, thành phố không chỉ nằm ở tốc độ xử lý thủ tục, mà còn ở khả năng phản ứng chính sách và tạo độ tin cậy thể chế cho doanh nghiệp.
Cũng trong nhóm này, Đà Nẵng đứng đầu về gia nhập thị trường. Quảng Ninh tiếp tục duy trì vị trí cao với chỉ số cạnh tranh bình đẳng và chính quyền kiến tạo. Hải Phòng có chất lượng điều hành đồng đều, với 7 trên 9 chỉ số thành phần nằm trong top 10 địa phương cao nhất.
Kết quả PCI 2025 được đưa ra dựa trên khảo sát từ 3.500 doanh nghiệp tư nhân trong nước, gần 590 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và hơn 1.000 hộ kinh doanh tại 34 tỉnh, thành.
PGS. TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI, cho biết cải cách thể chế đã đi đúng hướng, nhưng khoảng cách giữa thiết kế chính sách ở Trung ương và năng lực thực thi tại cơ sở vẫn còn rất lớn. “Để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, chúng ta phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy đồng hành, từ giảm gánh nặng thủ tục sang kiến tạo năng lực cạnh tranh”, ông Hùng nói.
Năm nay, VCCI lần đầu tiên công bố Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI), đo lường sự phát triển của khu vực tư nhân và năng lực đổi mới sáng tạo. Ngược với kết quả PCI, TP HCM và Hà Nội nằm trong top đầu chỉ số BPI. Trong đó, TP HCM dẫn đầu với 5,67 điểm, Hà Nội theo sau với 5,41 điểm.
Chia sẻ bên lề sự kiện, ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI, cho rằng năng lực đổi mới sáng tạo, tăng cường chất lượng quản trị của khu vực kinh tế tư nhân tại Hà Nội, TP HCM đang nằm trong top đầu cả nước. Ông cho rằng hai thành phố không nên chỉ là điểm đến cho các tập đoàn hàng đầu thế giới, mà còn cần tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo VCCI, phân tích tương quan cho thấy chất lượng điều hành (PCI) năm 2022 có tác động tới hiệu quả kinh tế tư nhân năm 2025, xác nhận tác động độ trễ chính sách khoảng 3 năm. Đây là cơ sở quan trọng để kiên định với lộ trình cải cách dài hạn thay vì kỳ vọng kết quả tức thời.
Ngày 4/5, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về hợp đồng mua bán giảm phát thải với Tổ chức tăng cường tài chính lâm nghiệp (Emergent) và xây dựng nghị định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng.
Hợp đồng trên được Bộ Nông nghiệp và Môi trường ký Ý định thư với Emergent, cơ quan điều hành Liên minh Giảm phát thải thông qua tăng cường tài chính rừng (LEAF), bốn năm trước, tại Hội nghị khí hậu COP26.
Theo đó, Việt Nam dự kiến chuyển nhượng cho tổ chức này 5,15 triệu tín chỉ carbon rừng vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ giai đoạn 2021-2025, thông qua Hợp đồng mua bán giảm phát thải (ERPA). Giá tối thiểu ở mức 10 USD mỗi tín chỉ.
Sau khi bán, toàn bộ tín chỉ này sẽ được giữ lại để tính vào đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. NDC là cam kết giảm thải của từng quốc gia, được đệ trình lên Liên Hợp Quốc 5 năm một lần.
Hợp đồng ERPA nhằm hỗ trợ các nước huy động nguồn tài chính quốc tế, qua đó thực hiện hoạt động giảm phát thải từ rừng như hạn chế mất, suy thoái rừng, bảo tồn, nâng cao trữ lượng carbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng (REDD+)...
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam đã hoàn thành các điều kiện kỹ thuật và thể chế để sẵn sàng tiếp cận nguồn chi trả. Bộ dự kiến đàm phán, ký kết và triển khai hợp đồng này sau khi nhận được chủ trương từ Thủ tướng hoặc Nghị định carbon rừng được ban hành.
Phó thủ tướng nêu rõ thẩm quyền đàm phán, ký kết thuộc về Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Sau khi Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng được ban hành, Bộ này cần đàm phán ngay trong tháng 6.
Liên quan đến dự thảo Nghị định trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ điều chỉnh theo hướng phân cấp thủ tục hành chính "cấp tín chỉ carbon rừng" cho địa phương. Bộ dự kiến hoàn thành thẩm định, cấp tín chỉ carbon rừng giai đoạn 2021-2022 vào quý này, đồng thời trình đề nghị cấp tín chỉ giai đoạn 2023-2025 trong quý III.
Phó thủ tướng nhấn mạnh tính cấp bách của việc ban hành nghị định này để tạo khung pháp lý đầy đủ, thống nhất cho các địa phương, chủ rừng triển khai hoạt động bán tín chỉ carbon rừng. Lãnh đạo chính phủ cơ bản thống nhất đề xuất của Bộ về nội dung phân cấp, phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng về cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền cho các địa phương. Tuy nhiên, Bộ cần thiết lập một cơ chế giám sát kiểm tra, để bảo đảm thị trường carbon hoạt động minh bạch, hiệu quả.
"Làm nông kiểu nhỏ lẻ không thể đi xa", ông Võ Quan Huy - Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An, người có hơn nửa thế kỷ gắn bó với ruộng đồng, nói tại hội thảo "Nông nghiệp thông minh" ngày 17/4 ở TP HCM. Theo ông, vòng lặp "được mùa mất giá", trồng - chặt lặp đi lặp lại nhiều năm qua, suy cho cùng vẫn bắt nguồn từ quy mô sản xuất manh mún.
Từ trải nghiệm thực tế, ông Huy cho rằng khi đất đai bị chia cắt, mọi nỗ lực hiện đại hóa đều trở nên nửa vời. Hạ tầng không thể làm đồng bộ, cơ giới hóa bị đội chi phí, còn công nghệ nếu có cũng khó phát huy hiệu quả. Chỉ khi diện tích đất tích tụ đủ lớn, doanh nghiệp mới có thể đầu tư bài bản cho thủy lợi, tự động hóa và tối ưu chi phí.
Câu chuyện của ông Huy phản ánh một điểm nghẽn kéo dài của nông nghiệp Việt Nam. Áp lực từ thị trường xuất khẩu ngày càng lớn khi tiêu chuẩn liên tục siết chặt, buộc ngành không thể tiếp tục dựa vào cách làm cũ. Bài toán giờ đây không còn là tăng sản lượng, mà là tạo ra sản phẩm có thể bán được với giá trị cao và ổn định.
Trong quá trình đó, dữ liệu trở thành nền tảng. PGS TS Đỗ Văn Hùng ví dữ liệu là "hệ mạch" của nông nghiệp số, nhưng thực tế tại Việt Nam vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa có chuẩn chung. Khoảng trống này khiến nhiều mô hình ứng dụng công nghệ chưa thể phát huy hết hiệu quả, dù tiềm năng rất lớn.
Quay lại với bài toán của doanh nghiệp, ông Huy cho rằng nếu đất đai là "phần xác" thì khoa học công nghệ chính là "phần hồn". Từ giống cấy mô, hệ thống cảm biến IoT đến trí tuệ nhân tạo, công nghệ giúp kiểm soát quy trình sản xuất theo thời gian thực, giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm và hạn chế sai số.
Khi chuyển sang quản trị bằng dữ liệu, cách làm nông thay đổi rõ rệt. Doanh nghiệp không còn sản xuất theo cảm tính mà tính toán từng khâu để tối ưu chi phí, giữ giá thành ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu. Đây cũng là điều kiện để tạo ra giá trị lớn hơn thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
Xu hướng này đang lan sang nhiều lĩnh vực. Việc đưa AI, robot và các hệ thống tự động xuống đồng ruộng không chỉ giúp tiết kiệm nhân công, mà còn chuẩn hóa quy trình, giảm rủi ro và nâng cao năng suất. Trong chăn nuôi hay nuôi trồng thủy sản, công nghệ còn giúp kiểm soát chất lượng đồng đều - yếu tố then chốt khi tiếp cận các thị trường khó tính.
Dù vậy, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt nhiều lực cản. Đại diện Trung tâm Khuyến nông Quốc gia khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng việc ứng dụng công nghệ cao chưa đồng đều, do thiếu nguồn lực, thể chế chưa hoàn thiện và đặc biệt là sản xuất còn nhỏ lẻ. Đây là vòng lặp khiến nông dân khó tiếp cận công nghệ, còn công nghệ lại khó lan rộng.
Trong bối cảnh đó, chuyển sang kinh tế nông nghiệp xanh, dựa trên dữ liệu và công nghệ, không còn là lựa chọn mà là hướng đi bắt buộc. Khi các thị trường lớn ngày càng siết tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc và chất lượng, những mô hình sản xuất manh mún sẽ dần mất lợi thế.
Nông nghiệp vẫn là trụ đỡ của nền kinh tế với kim ngạch xuất khẩu hơn 70 tỷ USD năm 2025. Nhưng để giữ được vị thế này, ngành không thể tiếp tục đi theo lối cũ. Khi đất đai được tích tụ, dữ liệu được kết nối và công nghệ trở thành nền tảng vận hành, câu chuyện "triệu USD" sẽ không còn là ngoại lệ, mà có thể trở thành hướng đi phổ biến của nông nghiệp Việt Nam.
Thông tin trên được Thủ tướng đưa ra tại phiên thảo luận tổ về sửa đổi các luật thuế ngày 21-4.
Thủ tướng cũng nhấn mạnh việc kịp thời sửa đổi các luật về thuế (gồm Luật Thuế VAT, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân) nhằm giúp hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua những khó khăn, vướng mắc phát sinh trước tác động của biến động giá xăng dầu thời gian qua.
Vì vậy, dù các luật về thuế trên mới được Quốc hội ban hành cuối năm 2025 nhưng yêu cầu sửa đổi là đòi hỏi cấp bách, cho thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ và Quốc hội. Theo đó, hướng sửa đổi là nâng ngưỡng chịu thuế, như báo cáo của Bộ Tài chính là sẽ nâng mức này với hộ kinh doanh là 1 tỉ đồng/năm, tức là dưới mức thu nhập này sẽ không chịu thuế.
Theo Thủ tướng, việc nâng ngưỡng chịu thuế vừa để giải quyết khó khăn cho hộ kinh doanh nhưng cũng vừa phải tạo thuận lợi, công bằng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc này cũng khuyến khích hộ cá nhân chuyển đổi lên doanh nghiệp vừa và nhỏ nên cũng sẽ điều chỉnh ngưỡng chịu thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
"Chính phủ cũng yêu cầu trình dự thảo nghị định đi kèm với dự thảo luật song do thời gian gấp quá, hiện Bộ Tài chính đang chuẩn bị gấp rút để đảm bảo khi Quốc hội thông qua sẽ có ngay dự thảo nghị định và thông tư hướng dẫn" - Thủ tướng nói thêm.
Phát biểu tại tổ, nhiều đại biểu đồng tình về việc nâng ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó, đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa (Tổng Kiểm toán nhà nước) cho rằng việc hỗ trợ này là động lực, nguồn lực để nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số ngay trong năm 2026 và những năm tới.
Tuy nhiên, hiện trong tờ trình của Chính phủ đề xuất sửa đổi theo hướng không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ, cá nhân kinh doanh tại luật và giao Chính phủ quy định nhưng lại chưa có con số cụ thể. Vì vậy ông đề nghị Chính phủ bổ sung rõ nội dung này để đánh giá tác động cụ thể khi thực hiện thay đổi ngưỡng chịu thuế.
Cùng đó, đại biểu Nguyễn Đại Thắng - Phó chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội - cho rằng việc nâng ngưỡng chịu thuế lên trên mức 500 triệu đồng/năm sẽ góp phần giảm gánh nặng thuế, nhất là trong bối cảnh chi phí sinh hoạt, đầu vào gia tăng, tạo điều kiện khuyến khích chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp. Từ đó nâng cao tính minh bạch, hiệu quả của nền kinh tế.
Tuy nhiên, ông Thắng đề nghị Chính phủ quy định cụ thể về mức trần với doanh thu miễn thuế doanh nghiệp với doanh nghiệp quy mô nhỏ và làm rõ cơ sở xác định ngưỡng doanh thu, cơ chế điều chỉnh trong trường hợp biến động kinh tế lớn. Đồng thời cần xây dựng giải pháp chặt chẽ để hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách để chia nhỏ doanh thu, trốn tránh nghĩa vụ thuế, đảm bảo công bằng.
Đồng tình với việc giao cho Chính phủ quyết ngưỡng doanh thu, song đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) cho rằng Chính phủ cần quy định rõ tiêu chí xác định doanh thu chịu thuế.
Trong đó có yếu tố thời điểm, cơ chế kiểm soát ngay trong dự thảo luật để tránh nguy cơ cố tình chia nhỏ doanh thu, chia tách hoạt động kinh doanh, giữ quy mô "hộ nhỏ" để tránh nghĩa vụ thuế. Việc này cũng để người dân biết được ranh giới ai phải nộp thuế, ai không phải nộp thuế.
Ông Sơn chỉ ra thực tiễn cho thấy khu vực hộ kinh doanh rất lớn, khoảng 6,036 triệu hộ tính đến hết tháng 7-2025. Trong đó hơn 1,9 triệu hộ có đăng ký, riêng bảy tháng đầu năm 2025 có gần 536.200 hộ thành lập mới. Ngành thuế đang đặt trọng tâm năm 2026 là thu hẹp khoảng trống tuân thủ pháp luật thuế đối với hộ kinh doanh cá thể và thương mại điện tử.
hư vậy, nếu thiết kế không chặt thì một mặt nói hỗ trợ tăng trưởng nhưng mặt khác lại có thể khuyến khích phi chính thức hóa nền kinh tế, đi ngược yêu cầu minh bạch và mở rộng cơ sở thuế.
Cùng đó, ông Sơn đồng tình việc mở diện không chịu thuế giá trị gia tăng cho hộ, cá nhân kinh doanh dưới ngưỡng doanh thu là phù hợp. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý việc này có thể làm sai lệch tính cạnh tranh, không khuyến khích các hộ phát triển lên doanh nghiệp, tạo nguồn thu tốt hơn.
Bởi khi đã là doanh nghiệp thì phải kê khai, khấu trừ, hóa đơn, sổ sách chặt chẽ hơn, còn nếu duy trì là hộ dưới ngưỡng thì vừa không chịu thuế giá trị gia tăng vừa giảm áp lực tuân thủ.
"Chính sách này hỗ trợ hộ nhỏ hay đang vô tình tạo vùng an toàn để người kinh doanh không muốn chuyển sang mô hình doanh nghiệp.
Nếu tiếp tục nới bằng luật thuế mà thiếu hàng rào kỹ thuật thì rất dễ tạo ra lợi thế bất cân xứng giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, trong khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 96% số doanh nghiệp và đóng góp trên 50% GDP, tức là chính khu vực được kỳ vọng dẫn dắt tăng trưởng lại có thể bị cạnh tranh bất lợi" - ông Sơn nói.
Cùng với đó, đại biểu Trần Anh Tuấn (TP.HCM) bày tỏ ủng hộ phân cấp cho Chính phủ trong sửa đổi luật thuế nhưng đề nghị cần phải đánh giá tác động rõ ràng.
Trong đó, Chính phủ cần xác định ngưỡng và minh bạch, theo nguyên tắc thực hiện chính sách tài khóa mở rộng. Tức là xác định ngưỡng và mỗi năm điều chỉnh theo mức độ tăng thêm hằng năm, căn cứ tình hình thực tiễn và mức độ lạm phát, tương ứng với mức thu nhập và độ mở, thay vì quy định cứng ngưỡng này.