Khoảng trống pháp lý xung quanh vụ mua bán xác ve sầu

Khoảng trống pháp lý xung quanh vụ mua bán xác ve sầu

Đội Quản lý thị trường số 1 cho biết số lượng xác ve sầu khô trên xe khách được xác định là nguyên liệu làm thuốc. Song, tài xế không xuất trình được giấy chứng nhận, bảng kê hoặc hợp đồng thu mua để chứng minh nguồn gốc dược liệu thu mua nên lực lượng chức năng đã tạm giữ (ngày 10-5) để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Đến ngày 13-5, đội trưởng Đội Quản lý thị trường số 1 xác nhận chủ lô hàng 80kg xác ve sầu khô đã đến làm việc với cơ quan chức năng, cung cấp đầy đủ các giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất cứ của số dược liệu trên.

Qua đối chiếu, kiểm tra, cơ quan chức năng đã làm thủ tục bàn giao, trao trả toàn bộ số xác ve sầu khô cho chủ hàng.

Đội trưởng Đội Quản lý thị trường số 1 cho hay do mặt hàng trên sử dụng vào mục đích thương mại nên phải có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, cơ quan chức năng chỉ “tạm giữ” để xác minh, làm rõ theo quy định chứ không “thu giữ” như nhiều thông tin lan truyền.

Từ vụ việc trên, nhiều người băn khoăn rằng việc lực lượng chức năng yêu cầu giấy tờ của lô hàng xác ve sầu sấy khô có đúng quy định hay không?

Dưới góc độ pháp lý, trao đổi với Tuổi Trẻ, luật sư Hoàng Hà (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng nếu thương lái gom xác ve sầu khô để làm thuốc hoặc bán cho cơ sở kinh doanh dược liệu thì phải chứng minh được nguồn gốc. Nhưng không nên hiểu là phải có giấy chứng nhận xuất xứ cho từng xác ve sầu.

Về góc độ pháp lý thì xác ve sầu khô (tên dược liệu là thuyền thoái) được xác định là dược liệu làm thuốc trong danh mục 11 kèm thông tư 09/2024/TT-BYT của Bộ Y tế. Luật Dược 2016 cũng quy định dược liệu phải đạt tiêu chuẩn chất lượng, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng khi đưa vào sản xuất, chế biến, bào chế thuốc.

Vì vậy khi xác ve sầu đã được gom thành lô 80kg, vận chuyển liên tỉnh, có mục đích thương mại hoặc làm nguyên liệu thuốc thì chủ hàng phải có tài liệu chứng minh lô hàng được thu gom hợp pháp.

“Tuy nhiên, với sản vật tự nhiên do người dân thu gom, giấy tờ chứng minh nguồn gốc phải được hiểu linh hoạt. Đó có thể là bảng kê thu mua, giấy biên nhận, hợp đồng thu mua, thông tin người bán, địa điểm thu gom, số lượng, thời gian thu gom hoặc xác nhận của chính quyền địa phương.

Không thể đòi hỏi người dân nhặt xác ve sầu phải xuất hóa đơn hoặc có giấy chứng nhận xuất xưởng như hàng sản xuất công nghiệp. Đây là điểm cần nói rõ để tránh cách hiểu máy móc”, luật sư Hoàng Hà nêu quan điểm.

Về việc lực lượng chức năng lập biên bản, tạm giữ toàn bộ số hàng để xác minh, về nguyên tắc là có thể đúng quy định nếu tại thời điểm kiểm tra người vận chuyển hoặc chủ hàng không xuất trình được tài liệu chứng minh nguồn gốc lô hàng.

Nghị định 98/2020/NĐ-CP là căn cứ xử lý nhóm hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ trong hoạt động thương mại. Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2021 cũng cho phép tạm giữ tang vật theo thủ tục hành chính trong trường hợp cần thiết để xác minh tình tiết làm căn cứ xử lý.

Nhưng bị tạm giữ không đồng nghĩa là lô hàng có vi phạm. Tạm giữ chỉ là biện pháp ngăn chặn và xác minh. Muốn hợp pháp thì phải có biên bản, quyết định tạm giữ đúng thẩm quyền, ghi rõ lý do, số lượng, tình trạng hàng hóa, bảo quản hàng hóa và xử lý trong thời hạn luật định.

Nếu sau đó chủ hàng xuất trình được bảng kê thu mua, giấy tờ xác nhận hợp lệ hoặc tài liệu đủ để chứng minh nguồn gốc thì cơ quan chức năng phải xem xét trả lại hàng, không thể xử phạt chỉ vì tại hiện trường không có hóa đơn, chứng từ xuất xứ.

  Lật thuyền chở khách viếng Mẹ Đông Hải, hơn 10 người rơi xuống sông

Gần đây, nhiều vụ liên quan đến việc lực lượng chức năng truy xuất nguồn gốc, tịch thu hoặc tạm giữ các sản vật tự nhiên như truy nguồn gốc 42 gốc mai vàng bị tịch thu ở Côn Đảo, hay vụ tạm giữ 80kg xác ve sầu ở Lạng Sơn đã gây ra nhiều tranh luận trái chiều. Đồng thời đặt ra những khoảng trống pháp lý trong quy định về quản lý, chứng minh nguồn gốc hàng hóa.

Về vấn đề này luật sư Hoàng Hà đánh giá vụ truy nguồn mai vàng ở Côn Đảo và vụ giấy chứng minh nguồn gốc xác ve sầu ở Lạng Sơn có điểm chung là pháp luật đã có yêu cầu quản lý nguồn gốc hàng hóa, lâm sản, dược liệu nhưng còn thiếu hướng dẫn cụ thể cho nhóm sản vật tự nhiên, thu gom dân gian, mua bán nhỏ lẻ rồi sau đó được gom thành lô thương mại.

Khoảng trống thứ nhất là chưa có chuẩn chứng minh nguồn gốc phù hợp cho từng loại hàng. Với hàng công nghiệp, có hóa đơn, tem nhãn, nhà sản xuất, mã lô. Với hàng nhập khẩu, có chứng từ nhập khẩu, chứng nhận xuất xứ. Nhưng với xác ve sầu, măng rừng, cây cảnh tự nhiên, cây thuốc, lá thuốc, côn trùng khô hoặc sản vật người dân thu hái thì không thể đòi cùng một loại giấy tờ.

Người dân không có hóa đơn đầu vào, không có giấy xuất xưởng, cũng không có cơ quan nào cấp giấy khai sinh cho sản vật tự nhiên. Vì vậy nếu pháp luật không nói rõ bảng kê, giấy biên nhận, xác nhận địa phương, nhật ký thu gom hoặc tài liệu điện tử nào được chấp nhận thì mỗi nơi sẽ hiểu một kiểu.

Khoảng trống thứ hai là ranh giới giữa “thu gom dân sinh” và “kinh doanh thương mại” chưa được nhận diện rõ. Một người nhặt vài cân xác ve sầu để bán khác với một thương lái gom 80kg vận chuyển liên tỉnh. Một người chăm cây mai trong vườn khác với hành vi khai thác cây rừng trong khu vực cần bảo vệ.

Nếu không phân tầng nghĩa vụ theo quy mô, mục đích và nguy cơ thì cơ quan quản lý dễ áp cùng một chuẩn cho mọi trường hợp. Điều đó làm người dân thấy bị làm khó, còn cơ quan chức năng lại lo nếu không xử lý thì bỏ lọt hàng hóa không rõ nguồn gốc.

Khoảng trống thứ ba là sự giao thoa giữa nhiều lĩnh vực quản lý. Xác ve sầu có thể là sản vật tự nhiên, hàng hóa thương mại và cũng có thể là dược liệu. Cây mai vàng có thể là cây cảnh, tài sản dân sự nhưng trong một số trường hợp lại liên quan đến lâm sản hoặc tài nguyên rừng.

Khi một mặt hàng nằm giữa nhiều nhóm như vậy thì e rằng lực lượng quản lý thị trường, kiểm lâm, y tế, thuế và chính quyền địa phương có thể tiếp cận theo các hệ quy chiếu khác nhau.

Khoảng trống thứ tư là ngôn ngữ thực thi còn quá chung. Cụm từ “hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ” đúng về mặt quản lý nhưng khi áp vào sản vật tự nhiên lại dễ gây phản ứng.

Người dân nghe “chứng minh nguồn gốc xuất xứ” sẽ hiểu là phải có giấy tờ chính quy. Trong khi cơ quan chức năng có thể chỉ cần bảng kê hoặc tài liệu chứng minh lô hàng được thu gom hợp pháp.

Sự lệch nhau trong cách hiểu này khiến một biện pháp kiểm tra có cơ sở pháp lý lại trở thành câu chuyện gây tranh cãi xã hội.

Tin Gốc: Tuổi Trẻ