Thực tế, chuối chín chuyển sang nâu vẫn an toàn cho sức khỏe nếu chưa xuất hiện dấu hiệu thối hỏng, theo trang NDTV (Ấn Độ).
Chuối càng chín, phần tinh bột chuyển thành đường tự nhiên nên quả mềm và ngọt hơn.
Một nghiên cứu đăng trên International Journal of Food Science vào năm 2019 cho biết chuối giải phóng khí ethylene trong quá trình chín. Loại khí này làm lớp vỏ vàng dần chuyển sang màu nâu. Đây là thay đổi tự nhiên của trái cây, không phải dấu hiệu hư hỏng.
Chuối xuất hiện đốm nâu hoặc có vỏ nâu gần hết vẫn có thể ăn được nếu phần ruột bên trong còn màu kem hoặc nâu nhạt. Chuối an toàn khi không có mùi chua, không nhớt và không xuất hiện nấm mốc.
Nghiên cứu đăng trên PLOS One cho thấy chuối chín chứa nhiều đường hòa tan tự nhiên, giúp bổ sung năng lượng nhanh và hỗ trợ chống oxy hóa cho cơ thể. Chuối chín kỹ cũng dễ tiêu hóa hơn chuối còn xanh.
Chuối quá chín thường phù hợp để làm sinh tố, bánh chuối, ăn với yến mạch. Vị ngọt tự nhiên của chuối giúp món ăn đậm vị hơn mà không cần thêm quá nhiều đường.
Khi chuối chín kỹ, lượng đường tự nhiên trong nó tăng lên. Người mắc tiểu đường hoặc đang kiểm soát lượng đường nên chọn chuối chín vừa hoặc còn hơi xanh.
Chuối chín tự nhiên không gây hại cho sức khỏe. Tuy nhiên, chuối bị lên men hoặc nhiễm nấm mốc có thể gây đau bụng và khó chịu đường tiêu hóa.
Chuối cần bỏ đi khi có mùi chua nồng hoặc mùi giống rượu lên men. Phần vỏ hoặc cuống xuất hiện nấm mốc cũng là dấu hiệu cho thấy trái cây đã hỏng.
Ngoài ra, chuối chảy nước, ruột đen hoàn toàn hoặc có kết cấu nhớt cũng không còn an toàn để ăn. Đây là dấu hiệu thối hỏng chứ không còn là quá trình chín tự nhiên.
Chuối nên được bảo quản ở nhiệt độ phòng và tránh ánh nắng trực tiếp. Việc để chuối gần các loại trái cây chín khác có thể khiến chuối nhanh chuyển nâu hơn.
Khi chuối đã chín, có thể cho vào tủ lạnh để kéo dài thời gian sử dụng. Vỏ chuối có thể sẫm màu nhưng phần ruột bên trong vẫn giữ được độ tươi trong thời gian dài hơn.
Sữa chua vẫn chứa lactose, một loại đường tự nhiên có trong sữa. Khi vào cơ thể, lactose sẽ được phân giải thành đường glucose và galactose. Do đó, sữa chua vẫn có thể ảnh hưởng đến đường huyết, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Tuy nhiên, lượng đường trong sữa chua không đường thường không quá cao. Một hộp sữa chua nguyên chất thông thường chỉ chứa khoảng 5 - 10 gram đường, thấp hơn nhiều so với các món tráng miệng ngọt.
Điều đáng lưu ý là nhiều loại sữa chua chế biến sẵn hiện nay chứa lượng đường bổ sung khá cao. Các sản phẩm có hương vị trái cây, socola hoặc dạng uống thường được thêm đường, siro hoặc chất tạo ngọt để tăng hương vị.
Một hộp sữa chua khoảng 100 - 170 gram hoặc một chai sữa chua uống 180 - 250 ml có thể chứa hơn 20 gram đường. Dùng hết một phần này có thể khiến đường huyết tăng nhanh.
Trên thực tế, người mắc tiểu đường không cần phải kiêng hoàn toàn sữa chua. Điều quan trọng là chọn loại sữa chua không đường và dùng ở mức vừa phải.
Một trong những lợi ích lớn của sữa chua là hàm lượng protein khá cao, đặc biệt ở sữa chua Hy Lạp. Protein giúp làm chậm quá trình hấp thu đường, từ đó hạn chế tình trạng đường huyết tăng quá nhanh sau bữa ăn. Ngoài ra, thực phẩm giàu protein cũng giúp tạo cảm giác no lâu hơn, hỗ trợ kiểm soát cân nặng.
Sữa chua còn chứa probiotic, tức các vi khuẩn có lợi như lactobacillus và bifidobacterium. Những lợi khuẩn này có thể góp phần cải thiện hệ vi sinh đường ruột, giảm viêm và hỗ trợ chuyển hóa glucose tốt hơn.
Để tận dụng lợi ích của sữa chua mà không làm tăng nhanh đường huyết, người bị tiểu đường nên dùng sữa chua không đường.
Lượng sữa chua phù hợp phụ thuộc vào tổng chế độ ăn, mức đường huyết hiện tại và kế hoạch điều trị của từng người. Thông thường, một khẩu phần sữa chua khoảng 100 - 170 gram có thể phù hợp cho bữa phụ hoặc ăn kèm bữa sáng.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, người mắc tiểu đường cần cẩn trọng khi sử dụng sữa chua. Chẳng hạn, những nhóm người không dung nạp lactose, người mắc bệnh thận cần kiểm soát lượng protein hoặc khoáng chất, theo Healthline (Mỹ).
Bác sĩ Amrapali Patil, chuyên gia tư vấn dinh dưỡng và lối sống người Ấn Độ, cho biết: Một hiểu lầm phổ biến rằng bệnh gan chỉ xảy ra do rượu. Thực tế, nhiều yếu tố không liên quan đến rượu, trong đó có thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống, vẫn có thể ảnh hưởng xấu đến chức năng gan, theo Times of India (Ấn Độ).
Bột mì tinh chế, đường ẩn trong thực phẩm, đồ ăn đóng gói, đặt đồ ăn ngoài thường xuyên… là những yếu tố âm thầm làm tăng tích trữ mỡ trong gan. Ngay cả những thực phẩm được quảng cáo là “tốt cho sức khỏe” cũng có thể chứa nhiều đường hoặc chất béo không lành mạnh.
Gan phải xử lý mọi thứ đi vào cơ thể. Khi bị quá tải, gan bắt đầu tích trữ mỡ thay vì chuyển hóa mỡ. Sự thay đổi này diễn ra âm thầm, ngay cả khi cân nặng và vóc dáng không thay đổi.
Ngồi lâu, ít đi lại, ngủ kém… làm rối loạn quá trình chuyển hóa. Theo thời gian, tình trạng kháng insulin xuất hiện - một yếu tố quan trọng dẫn đến gan nhiễm mỡ. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng xếp ít vận động vào nhóm yếu tố nguy cơ hàng đầu gây các bệnh rối loạn chuyển hóa.
Một số yếu tố gây áp lực cho gan thường bị bỏ qua như:
Các triệu chứng bệnh gan thường khó nhận ra vì gan không “kêu cứu” rõ ràng ở giai đoạn sớm, đây là điều khiến bệnh trở nên nguy hiểm. Người bệnh có thể chỉ cảm thấy hơi mệt, đầy bụng, khó chịu nhẹ - những dấu hiệu quá mơ hồ để đi khám. Khi triệu chứng rõ ràng, tổn thương gan có thể đã tiến triển xa.
Bảo vệ gan không đòi hỏi chế độ ăn kiêng cực đoan, mà là loại bỏ những yếu tố gây áp lực âm thầm, gồm:
Gan đáp ứng rất tốt với những thay đổi đơn giản và đều đặn. Mọi người nên tập thói quen đi bộ nhanh 30 phút mỗi ngày, ăn uống cân bằng với thực phẩm tự nhiên, ngủ đủ giấc và duy trì cân nặng hợp lý để phòng ngừa các bệnh lý về gan từ sớm.
Bởi đặc tính như nói trên, nên bệnh nhân mắc ung thư phổi thường được chẩn đoán, phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn.
Đó là thông tin được nêu ra tại hội thảo khoa học "Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch", do AstraZeneca Việt Nam phối hợp với Hội Ung thư Việt Nam tổ chức ngày 12.4 ở TP.HCM.
Theo tiến sĩ - bác sĩ Diệp Bảo Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, ung thư phổi hiện vẫn là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam - với hơn 24.000 ca mắc mới và gần 22.600 ca tử vong mỗi năm.
Tiến sĩ - bác sĩ Lê Tuấn Anh, Giám đốc Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Chợ Rẫy thông tin: ung thư phổi là 1 trong 3 loại ung thư gặp nhiều nhất tại Việt Nam, theo thứ tự là: ung thư vú, phổi và gan. Ở giai đoạn sớm, ung thư phổi thường không có triệu chứng, hoặc có thể bị nhầm lẫn với các triệu chứng bệnh lý hô hấp khác, dễ bị bỏ sót. Do đó, bệnh nhân thường được chẩn đoán, phát hiện bệnh ung thư phổi ở giai đoạn muộn.
Tiến sĩ - bác sĩ Phạm Xuân Dũng, Phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM, cho rằng mặc dù những năm qua y học đã có nhiều phát triển trong chẩn đoán, điều trị bệnh ung thư nhưng tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư vẫn tăng, nhiều nhất là ở các nước đang phát triển.
"Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những phát triển trong chẩn đoán và điều trị ung thư, kể cả phẫu thuật điều trị. Tay nghề phẫu thuật của bác sĩ Việt Nam không thua kém các nước trong khu vực, tuy nhiên chúng ta cần nâng cao hơn nữa về khả năng chẩn đoán, điều trị ung thư", tiến sĩ Phạm Xuân Dũng nói.
Theo tiến sĩ Phạm Xuân Dũng, trước đây khi chẩn đoán ung thư phổi đã có di căn thì thì bình quân thời gian sống còn của bệnh nhân dưới 12 tháng, nhưng hiện nay thời gian này có thể là 2, 3, 4 năm. Vừa rồi, các nhà chuyên môn đã trình phác đồ điều trị ung thư theo hướng kỷ nguyên y học chính xác. Nghĩa là sẽ thiết kế điều trị cho từng cá thể bệnh nhân ung thư nhằm tăng kết quả điều trị (mục tiêu của điều trị chính xác).
Ngoài ra, theo tiến sĩ Phạm Xuân Dũng, vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) cũng sẽ giúp chẩn đoán nhanh hơn, chính xác hơn và lựa chọn phương pháp điều trị ung thư cho người bệnh phù hợp hơn…
Theo tiến sĩ Diệp Bảo Tuấn, mặc dù có cải thiện sống còn ở bệnh nhân ung thư phổi, nhưng nguy cơ tái phát vẫn cao và thiếu các liệu pháp củng cố hiệu quả và nhất quán. Do vậy đặt ra nhu cầu cấp thiết về những tiếp cận mới nhằm kéo dài thời gian sống không bệnh và hướng tới mục tiêu kiểm soát bệnh triệt để. Trong bối cảnh đó, các liệu pháp toàn thân hiện đại - bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ "điều trị kéo dài sống còn" đến "hiện thực hóa mục tiêu triệt căn".