Sáng 13-5, tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance tổ chức tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68”.
Phát biểu tại tọa đàm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, nhận định thành tựu lớn nhất của Nghị quyết 68 là sự thay đổi mạnh mẽ về tư tưởng và định hướng chính sách.
Cụ thể, hàng loạt nghị quyết, văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thực thi, xử lý vướng mắc pháp lý và điều chỉnh quy định theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân.
Ông đánh giá trong giai đoạn đầu triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo ra sự hứng khởi rất lớn trong khu vực kinh tế tư nhân. Doanh nghiệp kỳ vọng và chờ đợi vào bước đột phá chính sách xuất hiện và tâm lý này vẫn còn hiện hữu.
“Tuy nhiên nếu nhìn kỹ hơn vào thực tế, sự hứng khởi đó dường như tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp lớn”, ông Bình nhận định.
Ông lấy ví dụ hàng loạt dự án quy mô hàng trăm nghìn tỉ đồng của các tập đoàn Vingroup hay Sungroup liên tiếp được khởi công, cho thấy tác động tích cực của chính sách với khu vực doanh nghiệp lớn.
Ở chiều ngược lại, khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức không khí tích cực ban đầu dần thay thế bởi tâm lý lo âu. Điều này xuất phát từ những lo ngại liên quan đến thuế, kiểm tra hàng giả, hàng nhái hay hoạt động thanh tra, kiểm tra.
TS Lê Duy Bình cho biết do hạn chế về thể chế, quy định pháp luật, quá trình triển khai Nghị quyết 68 xuất hiện những phản ứng ngược ngoài mong muốn.
Ông lấy ví dụ chính sách thuế đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn nặng tư duy coi các chủ thể này là “đối tượng quản lý”, thay vì xem họ là đối tác hay khách hàng trong quá trình quản trị quốc gia.
TS Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban IV, cũng đánh giá hiệu ứng tích cực từ Nghị quyết 68 đang lan tỏa không đồng đều. Ban đầu cộng đồng doanh nghiệp khá hào hứng, nhưng theo thời gian tâm lý tích cực đã giảm dần. Khảo sát của Ban IV cho thấy khoảng 7/10 doanh nghiệp được hỏi vẫn mang tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh.
“Doanh nghiệp lớn vui hơn doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp nhỏ vui hơn hộ kinh doanh. Chúng ta cần lan tỏa niềm vui đến toàn bộ nếu không sẽ tạo ra sự méo mó”, ông chia sẻ.
Ông cho rằng cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi tác động được tới lớp doanh nghiệp ở phía dưới, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ tạo thuận lợi cho một nhóm doanh nghiệp lớn.
Ông Bùi Thanh Minh cũng lưu ý dư luận đang đặt quá nhiều kỳ vọng vào riêng Nghị quyết 68, trong khi cải cách thể chế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi là quá trình dài hạn, không thể giải quyết chỉ trong vài tháng.
Theo ông Minh, vấn đề cốt lõi nằm ở tư duy thiết kế cải cách. Nếu chỉ nhìn từng vấn đề riêng lẻ mà thiếu góc nhìn tổng thể thì càng cải cách càng không tạo được tác động thực chất, thậm chí còn khiến doanh nghiệp khó khăn hơn.
“Nghị quyết 68 không chỉ hướng tới tăng số lượng doanh nghiệp, mà còn phải nâng chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp”, ông nói.
Ông cho biết sau khi nghị quyết được ban hành, Chính phủ và Quốc hội đã có nhiều nỗ lực thể chế hóa chính sách. Tuy nhiên nhiều chính sách quan trọng vẫn triển khai chậm. Trong khi áp lực từ thương mại quốc tế, đặc biệt yêu cầu chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn phát triển bền vững, đang tạo sức ép rất lớn lên cộng đồng doanh nghiệp.
TS Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách, cho rằng niềm tin của doanh nghiệp đang bị xói mòn không hẳn do khó khăn thị trường, mà từ các biện pháp can thiệp hành chính và thay đổi chính sách điều hành.
Thực tế, doanh nghiệp và người dân có xu hướng chuyển dòng tiền khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh để nắm giữ vàng hoặc các tài sản phòng thủ khác. Điều này không đơn thuần là hành vi đầu tư, mà phản ánh tâm lý muốn giữ tài sản trong bối cảnh niềm tin đối với môi trường kinh doanh suy giảm.
Vị chuyên gia cho rằng để thị trường vận hành hiệu quả hơn, điều cần thiết không phải là ban hành thêm thật nhiều quy định hay gia tăng sự hiện diện của cơ quan quản lý, mà là giảm bớt các can thiệp hành chính không cần thiết, tạo ra môi trường ổn định và dễ dự báo hơn cho doanh nghiệp.
Xung đột Trung Đông khiến 20% sản lượng dầu khí toàn cầu qua eo biển Hormuz tắc nghẽn, đẩy giá cả nhiên liệu tăng cao. Bên cạnh gấp rút tiết kiệm năng lượng và củng cố dự trữ, một số quốc gia phát tín hiệu tập trung hơn cho năng lượng sạch.
Công ty xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings dự báo đầu tư vào điện tái tạo và pin lưu trữ sẽ tăng ở các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng, bao gồm cả những nước châu Âu. Trong khi, Trung Quốc đang là nhà cung cấp dẫn đầu thế giới về pin lưu trữ, thiết bị năng lượng mặt trời và xe điện.
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, Trung Quốc sản xuất hơn 85% pin và 70% xe điện toàn cầu. Vì thế, AP cho rằng ngành công nghiệp "xanh" của nước này dự báo hưởng lợi nhờ cuộc xung đột Trung Đông.
Các nhà đầu tư đồng quan điểm, đặt cược rằng chiến sự sẽ thúc đẩy nhu cầu phát triển năng lượng tái tạo, giúp các nhà cung cấp Trung Quốc hưởng lợi. Trong tháng 3, cổ phiếu của CATL và BYD tại Hong Kong đã tăng lần lượt 24% và 11%.
Tại Anh, nhu cầu thuê xe điện tăng hơn 30% trong ba tuần đầu tháng 3 so với cùng kỳ tháng 2, theo Octopus Energy. Tập đoàn năng lượng tái tạo này cũng ghi nhận doanh số bán các hệ thống điện mặt trời áp mái gia tăng.
Indonesia, nước xuất khẩu than lớn nhất thế giới, đang có triển vọng trở thành khách hàng công nghệ xanh lớn của Trung Quốc. Vào tháng 3, Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto tuyên bố thúc đẩy phát triển xe điện, bao gồm kế hoạch sản xuất ôtô điện và mở rộng cơ sở hạ tầng sạc.
Giấc mơ điện hóa giao thông đang thu hút chú ý trở lại, theo Putra Adhiguna, nhà nghiên cứu tại viện Energy Shift Institute (Jakarta). Các công ty Trung Quốc đang đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng năng lượng sạch Indonesia.
Họ đã ký các thỏa thuận trị giá hơn 54 tỷ USD với công ty điện lực nhà nước vào năm 2023 và bổ sung thêm cam kết 10 tỷ USD trong chuyến thăm Bắc Kinh của ông Prabowo vào năm 2024. "Các công ty Trung Quốc sẽ hưởng lợi trực tiếp về mặt tài chính", nhà nghiên cứu Sam Reynolds tại Viện Kinh tế Năng lượng và Phân tích Tài chính (IEEFA) trụ sở tại Mỹ, đánh giá.
Khi thế giới đối mặt với sự mong manh của nguồn cung nhiên liệu hóa thạch, các tập đoàn công nghiệp lớn như BYD hay CATL có vị thế tốt để tận dụng nhu cầu các sản phẩm phát thải thấp đang gia tăng."Cách tiếp cận của Trung Quốc đối với sự phát triển ngành năng lượng và địa chính trị đã được chứng minh hoàn toàn đúng đắn bởi cuộc xung đột Iran", ông Sam Reynolds tại IEEFA, nhận định.
Hơn một thập kỷ trước, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gắn an ninh năng lượng với an ninh quốc gia. Kể từ đó, nước này đã tăng phát triển năng lượng tái tạo, dù nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu năng lượng quốc gia.
Kế hoạch 5 năm đến 2030 của Trung Quốc tiếp tục ưu tiên các ngành công nghiệp xanh. "Họ đang ở vị thế tiên phong trong lĩnh vực này, hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, chắc chắn hơn cả Mỹ", Li Shuo, Giám đốc Trung tâm Khí hậu Trung Quốc thuộc Viện Chính sách Hiệp hội Châu Á, nhận định.
Thực tế, cả trước khi xung đột Trung Đông nổ ra, vị thế dẫn đầu của Trung Quốc trong các công nghệ sạch đã ngày càng nới rộng. Vài năm qua, các nhà sản xuất ôtô Trung Quốc đã mở rộng phát triển và sản xuất xe điện, tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn các đối thủ Mỹ, châu Âu. Họ cung cấp các mẫu xe rẻ hơn và giành được thị phần ở một số khu vực, như Đông Nam Á.
Hay như Pakistan đã nhập khẩu hơn 50 gigawatt tấm pin mặt trời "made in China" vào tháng 12/2025. Tính chung tháng cuối năm ngoái, xuất khẩu hàng công nghiệp xanh Trung Quốc gồm xe điện, pin mặt trời và pin lưu trữ đạt kỷ lục gần 22,3 tỷ USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước, theo viện nghiên cứu Ember.
Trong khi, nước Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump đã giảm đầu tư vào năng lượng tái tạo và dựa vào nguồn tài nguyên dầu khí để thúc đẩy xuất khẩu năng lượng, nhằm đạt được điều mà ông Trump mô tả là "sự thống trị năng lượng".
Bà Amy Myers Jaffe, chuyên gia tại Trung tâm Quan hệ Toàn cầu thuộc Đại học New York, dự báo cú sốc năng lượng từ xung đột Trung Đông "giúp ích cho ngành công nghiệp Trung Quốc trên toàn cầu và tổn hại cho ngành công nghiệp ôtô Mỹ".
Filatex, thuộc nhóm nhà sản xuất sợi polyester lớn hàng đầu Ấn Độ, đang đối diện giá các nguyên liệu nguồn gốc dầu mỏ như axit terephthalic tinh khiết (PTA) và monoethylene glycol (MEG) tăng gần 30%, theo CEO Madhu Sudhan Bhageria.
Tương tự, Avichal Arya, Giám đốc điều hành Bindal Silk Mills, nhà cung cấp vải polyester nhuộm và in cho các nhà bán lẻ bao gồm H&M, Indite (sở hữu Zara), Target, Walmart và IKEA, cho biết cuộc khủng hoảng năng lượng đã "đẩy mạnh" chi phí hóa chất và thuốc nhuộm lên cao.
Được làm từ các dẫn xuất dầu mỏ, polyester chiếm 59% sản lượng sợi trong ngành dệt may toàn cầu. Vải dệt từ sợi polyester ứng dụng nhiều trong phân khúc thời trang nhanh nhờ dễ kéo sợi, nhuộm và chi phí rẻ hơn các nguyên liệu khác như cotton. Nó dùng trong mọi thứ, từ quần short chạy bộ đến váy.
Tuy nhiên, đầu vào sản xuất polyester chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự khan hiếm các sản phẩm dầu mỏ tinh chế do gián đoạn eo biển Hormuz. Tại Surat (Ấn Độ), Radheshyam Textile đã ngừng hoạt động một nửa trong số 200 khung dệt polyester, kể từ khi xung đột Trung Đông bắt đầu cuối tháng 2.
Công ty này đã ngừng mua sợi polyester mới, vì nếu không sẽ phải tăng giá bán lên khoảng 15%, mức khách hàng không thể chấp nhận. "Trước chiến sự, sản lượng hàng ngày của chúng tôi là 10.000 m, nhưng giờ còn 3.500 đến 4.000 m", Chủ công ty, cho biết.
Chi phí tăng cao khiến các nhà máy dệt nhuộm ở Surat phải đóng cửa hai ngày một tuần, tăng từ một ngày trước đây, theo Kailash Hakim, Chủ tịch Liên đoàn Hiệp hội Thương nhân Dệt may Surat. "Nếu tình hình tiếp diễn, tình trạng thiếu nguyên liệu thô sẽ bắt đầu xảy ra và các nhà máy phải đóng cửa", ông cảnh báo.
Dữ liệu từ Wood Mackenzie cho biết giá sợi polyester staple (sợi PSF) ở Ấn Độ đã tăng từ 100 rupee vào cuối tháng 2 lên 126,5 rupee mỗi kg sau một tháng. Giá giảm nhẹ sau khi chính phủ Ấn Độ giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu thô hóa dầu, nhưng vẫn giữ ở mức 120 rupee mỗi kg, tính đến ngày 9/4.
Tại Trung Quốc, nhà sản xuất polyester lớn nhất thế giới, giá cũng đã tăng mạnh. Trong khi, ở Bangladesh, các nhà máy chủ yếu sản xuất quần áo từ vải cotton nhưng vẫn đối mặt với giá chỉ may polyester và chi phí hậu cần cao hơn. Dẫn lý do này, nhà sản xuất chỉ Coats Bangladesh đã thông báo tăng giá 15,5% từ ngày 15/4.
"Người mua đang thận trọng và cân nhắc rủi ro kỹ hơn trước khi đặt hàng, có thể ảnh hưởng đến sản lượng", ông Mohammad Hatem, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng dệt kim Bangladesh, cho biết. Theo ông, nếu tình hình kéo dài thêm một tháng, sản lượng quần áo sẽ giảm vì giá tăng kéo giảm nhu cầu.
Đến nay, các thương hiệu thời trang nhanh và bán lẻ quần áo vẫn ổn định được giá bán lẻ, nhờ lượng hàng tích trữ từ trước. Nhà bán lẻ Primark (Anh) cho biết hàng tồn kho xuân/hè và phần lớn hàng thu/đông sẽ không bị ảnh hưởng.
"Nếu mua nguyên liệu thô liên quan đến năng lượng ngay lúc này, chúng tôi sẽ thấy lạm phát đáng kể, chỉ là chúng tôi không làm vậy", George Weston, Giám đốc điều hành Associated British Foods - công ty mẹ Primark, giải thích.
Nguồn tin của Reuters cho biết H&M dự kiến sẽ hấp thụ mức giá sản xuất tăng từ các nhà cung cấp Bangladesh trong những tuần tới, thay vì tăng giá bán. Trong tuyên bố chính thức, công ty nói không ghi nhận gián đoạn lớn nào đối với sản xuất tại Bangladesh và chưa thấy "bất kỳ số lượng yêu cầu đáng kể nào từ các nhà cung cấp để điều chỉnh đơn đặt hàng liên quan đến chi phí năng lượng".
Tập đoàn Inditex, chủ sở hữu của Zara, từ chối bình luận về nguồn cung polyester. Target, Walmart và IKEA chưa đưa ra phản hồi.
Theo số liệu của Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), trong 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nhân điều đạt 139.865 tấn, tăng gần 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu đạt 953,5 triệu USD, tăng gần 10,9%, trong khi giá xuất khẩu bình quân đạt 6.802 USD/tấn, chỉ giảm nhẹ 1% so với cùng kỳ.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất của ngành điều Việt Nam với mức tăng trưởng tích cực cả về lượng và kim ngạch, lần lượt tăng 29,7% và 30,3%. Trong khi đó, thị trường Trung Quốc giảm do ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ và kỳ nghỉ đầu năm. Singapore tiếp tục gia tăng vai trò là thị trường trung chuyển trong tháng 3.
Đáng chú ý, khu vực Trung Đông - thị trường lớn thứ ba của ngành điều Việt Nam trong năm 2025 - đang chịu tác động mạnh từ xung đột địa chính trị. Theo Vinacas, sau khi Israel và Mỹ tấn công Iran, lượng xuất khẩu điều vào khu vực này trong tháng 3 giảm tới 50% so với cùng kỳ. Sang tháng 4/2026, do tình hình chiến sự leo thang, hoạt động xuất khẩu sang khu vực này gần như đình trệ.
Không chỉ đầu ra gặp khó, hoạt động nhập khẩu điều thô phục vụ chế biến cũng tăng mạnh trong quý I do lo ngại thiếu hụt nguồn cung. Việt Nam đã nhập khẩu hơn 810.000 tấn điều thô, tăng 35,9% so với cùng kỳ, với tổng trị giá vượt 1,31 tỷ USD. Riêng trong tháng 3, lượng nhập khẩu tăng hơn 44% so với cùng kỳ năm trước.
Campuchia tiếp tục là nguồn cung điều thô lớn nhất cho Việt Nam, trong khi Bờ Biển Ngà ghi nhận mức tăng trưởng mạnh cả về lượng lẫn giá trị xuất khẩu sang Việt Nam.
Ông Bạch Khánh Nhựt - Phó Chủ tịch thường trực Vinacas - đánh giá, số liệu quý I chưa phản ánh đầy đủ xu hướng cả năm do đây là giai đoạn cao điểm thu mua nguyên liệu phục vụ chế biến của ngành điều. Tuy nhiên, những biến động vừa qua đã cho thấy tác động tức thì của chiến sự Trung Đông đến hoạt động xuất nhập khẩu của ngành điều.
Một trong những khó khăn lớn hiện nay là giá điều thô nhập khẩu vẫn ở mức cao trong khi giá xuất khẩu nhân điều giảm nhẹ, khiến chi phí nguyên liệu trong cơ cấu giá thành tăng mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trước bối cảnh đó, Vinacas đã đưa mục tiêu xuất khẩu điều năm 2026 xuống còn 5 tỷ USD, thấp hơn mức hơn 5,43 tỷ USD đạt được trong năm 2025. Hiệp hội cho rằng mục tiêu này phù hợp với bối cảnh hiện nay và có thể tiếp tục được điều chỉnh tùy theo diễn biến thị trường trong thời gian tới.
Ngoài biến động thị trường, ngành điều còn phải đối mặt với áp lực logistics khi tình hình bất ổn tại Trung Đông và tuyến vận tải Biển Đỏ - Suez khiến giá cước vận chuyển duy trì ở mức cao và tiềm ẩn nguy cơ tăng thêm.
Cùng với đó, lãi suất tăng nhanh trong 4 tháng đầu năm và điều kiện tiếp cận tín dụng khó khăn đang gây áp lực lớn lên dòng tiền của doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn thu mua nguyên liệu.
Ở góc độ thị trường xuất khẩu, các quy định mới liên quan đến môi trường, phát triển bền vững, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc tại EU và Trung Quốc cũng đang làm gia tăng đáng kể chi phí tuân thủ của doanh nghiệp chế biến điều.
Trước những áp lực này, Vinacas kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ tín dụng như giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và xây dựng các gói vay phù hợp cho doanh nghiệp thu mua, chế biến điều.
Hiệp hội cũng đề xuất các bộ, ngành liên quan làm việc với hãng tàu nhằm ổn định giá cước vận tải, ưu tiên chỗ cho nông sản xuất khẩu và tìm kiếm các tuyến vận tải thay thế các kênh đi qua khu vực xung đột.
Về dài hạn, ngành điều cho rằng cần thúc đẩy ký kết các hiệp định thương mại tự do với các quốc gia châu Phi nhằm tạo môi trường kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động nhập khẩu nguyên liệu.
Bên cạnh đó, Vinacas kiến nghị Chính phủ có chính sách tín dụng ưu đãi để doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến sâu, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trên mỗi tấn nhân điều, đồng thời hỗ trợ tái canh và phát triển vùng nguyên liệu trong nước nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn điều thô nhập khẩu.