Sáng 13.5, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 6 (Phòng 6, Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an) trong quá trình tuần tra tuyến cao tốc Cam Lâm – Vĩnh Hảo qua địa bàn Khánh Hòa đã yêu cầu xe tải biển số 89C – 067.xx dừng lại kiểm tra.
Tài xế L.N.N (39 tuổi, ở tỉnh Hưng Yên) không xuất trình được giấy phép lái xe, đồng thời lực lượng chức năng còn phát hiện xe tải có lắp thêm đèn phía trước không đúng quy định.
Đội Cảnh sát giao thông cao tốc số 6 đã lập biên bản xử phạt tài xế L.N.N 20,5 triệu đồng về hành vi điều khiển xe khi không có giấy phép lái xe. Ngoài ra, chủ xe cũng bị xử phạt 58 triệu đồng và tước quyền sử dụng phù hiệu xe 2 tháng. Tổng mức xử phạt cả hai vi phạm trên là 78,5 triệu đồng.
Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 6 khuyến cáo việc tự ý lắp thêm đèn phía trước tiềm ẩn nguy cơ chập điện, cháy nổ và gây chói mắt người lưu thông, dễ dẫn đến tai nạn giao thông nghiêm trọng. Lực lượng chức năng sẽ tiếp tục xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm tương tự.
Cao tốc Cam Lâm – Vĩnh Hảo là tuyến huyết mạch kết nối Khánh Hòa với các tỉnh Nam Trung bộ, lưu lượng xe tải hạng nặng lớn, đặc biệt vào ban đêm. Thời gian qua Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 6 thường xuyên tăng cường tuần tra, kiểm soát nhằm kéo giảm tai nạn giao thông tuyến cao tốc trên.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cùng đi với ông Nguyễn Thanh Nghị có ông Nguyễn Thái Học, Phó bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và ông Y Thanh Hà Niê Kđăm, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng.
Đoàn công tác do ông Nguyễn Thanh Nghị dẫn đầu đã đến thăm gia đình bà Lương Thị Thân (cựu thanh niên xung phong, bị nhiễm chất độc hóa học) và ông Mã Quang Vĩnh (đại diện gia đình thờ cúng liệt sĩ).
Tại các nơi đến thăm, thay mặt Đảng, Nhà nước, ông Nguyễn Thanh Nghị ân cần hỏi thăm sức khỏe, đời sống, đồng thời bày tỏ sự tri ân sâu sắc trước những đóng góp, hy sinh của các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị mong muốn các gia đình chính sách, người có công với cách mạng tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, tích cực đóng góp xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, phát triển.
Ông Nguyễn Thanh Nghị cũng đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương tiếp tục quan tâm, chăm lo đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho người có công trên địa bàn xã Cư Jút, theo quan điểm “uống nước nhớ nguồn” của Đảng và Nhà nước.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Đề xuất mới về công nhận liệt sĩ cho thương binh mất do tái phát vết thương

Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến dự thảo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14 ngày 9-12-2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Theo Bộ Nội vụ, việc thực hiện chính sách công nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh còn phát sinh vướng mắc.
Đặc biệt là tiêu chí với người hy sinh, bị thương khi làm nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, Nhân dân, ngăn chặn, bắt giữ người có hành vi phạm tội hoặc thương binh chết do vết thương tái phát.
Một số quy định sử dụng tiêu chí định tính như "không thể cứu chữa kịp thời", "đặc biệt dũng cảm", dẫn đến khó khăn trong xác định.
Cụ thể, thương binh bị tổn thương cơ thể từ 61% trở lên chết do vết thương tái phát phải có bệnh án điều trị vết thương tái phát của bệnh viện và biên bản kiểm thảo tử vong, trong đó khẳng định vết thương tái phát là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong.
Quy định này, theo Bộ Nội vụ, đảm bảo đầy đủ cơ sở khoa học, chặt chẽ song chưa phù hợp với phong tục, tập quán của Nhân dân. Bởi với thương binh điều trị tại các bệnh viện, đến khi biết là gần tử vong, gia đình sẽ xin về để từ trần tại nhà, do đó không có biên bản kiểm thảo tử vong.
Hay với thương binh nặng bị tổn thương cơ thể từ 81% trở lên (thương binh loại 1), thương binh tại các trung tâm nuôi dưỡng, khi từ trần trong quá trình điều trị ở trung tâm, họ không có bệnh án và biên bản kiểm thảo tử vong của bệnh viện.
Do đó, Bộ Nội vụ đề xuất quy định theo hướng vết thương tái phát là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh với tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên. Như vậy, quy định liên quan đến bệnh án điều trị, biên bản kiểm thảo tử vong sẽ được gỡ bỏ.
Còn thủ tục, hồ sơ cụ thể đã được hướng dẫn trong dự thảo nghị định thay thế nghị định số 131/2021/NĐ-CP, tức dùng xác nhận của cơ sở y tế hoặc của trung tâm nuôi dưỡng thương binh.
Dự kiến dự thảo pháp lệnh sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua vào tháng 5-2026.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 4/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu khả năng đến năm 2045 Việt Nam có thể kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ông gợi ý Hà Nội thí điểm xây dựng mô hình "phường, xã xã hội chủ nghĩa" với quy mô dân số từ 500.000 đến một triệu, đầu tư đồng bộ hạ tầng, trường học, bệnh viện, không gian công cộng và đô thị thông minh.
Thời kỳ quá độ là một giai đoạn tất yếu trong tiến trình phát triển theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là giai đoạn chuyển tiếp kéo dài, khi các yếu tố của xã hội cũ và xã hội mới đan xen, đòi hỏi những bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Đối với Việt Nam, xuất phát điểm là một nước phong kiến lạc hậu, lại trải qua chiến tranh kéo dài, nên việc đi lên chủ nghĩa xã hội phải theo lộ trình từng bước, không thể nóng vội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng diễn đạt giản dị rằng xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội mà đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống tinh thần ngày càng nâng cao. Đồng thời, Người nhấn mạnh phải kiên trì, bền bỉ, xây dựng từng bước để đạt được mục tiêu lâu dài.
Từ những năm đầu đổi mới, Đảng xác định Việt Nam đang ở chặng đường đầu của thời kỳ quá độ. Sau gần 40 năm phát triển, các thành tựu kinh tế - xã hội trở thành nền tảng để đặt ra mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây cũng được xem là dấu mốc quan trọng gắn với khả năng hoàn thành thời kỳ quá độ và bước sang giai đoạn phát triển cao hơn.
Lần đầu xác lập hệ tiêu chí của xã hội xã hội chủ nghĩa
Mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được định hình rõ ràng lần đầu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Văn kiện này không chỉ nêu mục tiêu, mà xác lập một hệ tiêu chí cụ thể để nhận diện xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Theo đó, xã hội được xác định do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công và có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết; mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Việc đưa ra các đặc trưng này đánh dấu bước chuyển từ nhận thức mang tính khái quát sang định hình một mô hình phát triển có thể định hướng chính sách và đo lường kết quả. Đây là nền tảng lý luận xuyên suốt cho các văn kiện sau này.
Qua các kỳ Đại hội, mô hình tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện. Tại Đại hội IX năm 2001, Đảng xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ, nhằm phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện mới.
Đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, hệ đặc trưng được hoàn chỉnh thành 8 nội dung, làm rõ hơn mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời khẳng định vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vị trí trung tâm của con người.
Cụ thể, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam hướng tới được xác định là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới.
Việc xác lập đầy đủ 8 đặc trưng này không chỉ dừng ở việc mô tả mục tiêu, mà còn tạo thành một hệ tiêu chí để định hướng chính sách và đánh giá quá trình phát triển. Mỗi đặc trưng gắn với một trụ cột cụ thể: kinh tế phát triển đi đôi với công bằng xã hội, chính trị bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần, con người là trung tâm, còn Nhà nước giữ vai trò tổ chức và điều tiết toàn bộ quá trình phát triển.
Đại hội XIII xác định mốc phát triển đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, đưa mô hình từ định hướng lý luận sang mục tiêu có thể đo đếm.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong cấu trúc của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vai trò là phương thức tổ chức và vận hành nền kinh tế.
Việc xác định mô hình này tại Đại hội IX cho thấy sự thay đổi trong tư duy phát triển: Việt Nam sử dụng cơ chế thị trường để huy động và phân bổ nguồn lực, nhưng không để thị trường chi phối toàn bộ, mà đặt dưới sự quản lý của Nhà nước nhằm bảo đảm định hướng phát triển vì con người.
Điều này thể hiện ở việc tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, thông qua các chính sách điều tiết, an sinh và phân phối lại. Thị trường được sử dụng như công cụ để thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất và thu nhập, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là nâng cao chất lượng sống của người dân.
Sự khác biệt với mô hình kinh tế tư bản nằm ở chỗ không lấy lợi nhuận làm trung tâm, mà hướng tới sự phát triển toàn diện. Nhà nước giữ vai trò định hướng và điều tiết để hạn chế các hệ quả tiêu cực như phân hóa giàu nghèo hay bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công.
Đưa mô hình xuống cấp cơ sở
Gợi ý xây dựng "phường, xã xã hội chủ nghĩa" cho thấy bước chuyển từ mô hình ở tầm quốc gia xuống cấp cơ sở, nơi các mục tiêu phát triển được cụ thể hóa thành điều kiện sống hàng ngày.
Theo định hướng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu, một đơn vị thí điểm phải bảo đảm hạ tầng đồng bộ, hệ thống giáo dục và y tế phát triển, môi trường sống an toàn, dịch vụ công thuận tiện và chính quyền vận hành hiệu quả. Những yếu tố này chính là cách chuyển các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa thành tiêu chí cụ thể, có thể kiểm chứng.
Việc lựa chọn cấp phường, xã xuất phát từ vai trò đây là cấp gần dân nhất, nơi người dân trực tiếp tiếp xúc với bộ máy quản lý và thụ hưởng chính sách. Nếu mô hình thành công ở đây, sẽ trở thành hình mẫu để nhân rộng toàn quốc, đúng với triết lý "lấy dân làm gốc" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra từ những ngày đầu lập nước.
Tuy nhiên, đến nay "phường, xã xã hội chủ nghĩa" chưa phải là một khái niệm được luật hóa. Hệ thống pháp luật hiện hành chỉ quy định các đơn vị hành chính cơ sở là xã, phường và đặc khu. Vì vậy, mô hình này đang ở giai đoạn nghiên cứu, thí điểm, chưa phải một loại hình đơn vị hành chính chính thức.
Để triển khai, Hà Nội cần làm rõ các tiêu chí đánh giá, cơ chế vận hành, nguồn lực đầu tư và phương thức giám sát. Đây là những điều kiện cần thiết để mô hình có thể vận hành trong thực tế và được đánh giá bằng kết quả cụ thể.
Từ nền tảng lý luận được xây dựng qua các văn kiện, đến mục tiêu phát triển dài hạn và các đề xuất thí điểm hiện nay, mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang từng bước được cụ thể hóa. Trọng tâm của quá trình này là chuyển 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa thành chất lượng sống cụ thể của người dân, thông qua hiệu quả quản trị và mức độ tiếp cận dịch vụ công ở cấp cơ sở.
Tin Gốc: Vnexpress

