“Những người được chuyển tuyến đến Bệnh viện Bạch Mai cấp cứu đều bị tổn thương đường tiêu hóa, 4 bệnh nhân bị viêm gan, suy gan, trong đó một bệnh nhân bị suy đa tạng mặc dù đã điều trị tích cực nhưng không qua khỏi”, BSNT Nguyễn Tiến Đạt, Trung tâm Chống độc, cho biết hôm 12/5.
Vụ ngộ độc xảy ra hôm 2/5 khi một gia đình ở bản Nà Hiên, xã Phiêng Pằn, tổ chức bữa cơm với 24 người tham gia. Thực đơn gồm thịt chó hấp, ngan luộc, canh măng khô, rượu cần và rượu trắng. Dùng bữa xong, 6 người tiếp tục ăn thêm món canh nấm hái trong rừng.
Tới 20h cùng ngày, nhóm này đau bụng, nôn nhiều lần và tiêu chảy. Con gái chủ nhà có triệu chứng nặng nhất, tử vong tại nhà vào sáng 4/5. 18 người không ăn canh nấm hiện sức khỏe bình thường.
5 người sau đó được chuyển tuyến xuống trong tình trạng mất nước nặng, suy gan cấp, suy thận cấp. Các bác sĩ xác định đây là loài nấm độc chứa độc tố amatoxin, ở Việt Nam có nấm độc trắng hình nón (Amanita virosa) hoặc nấm độc tán trắng (Amanita verna) – 2 loại nấm độc nguy hiểm nhất ở Việt Nam.
Các bệnh nhân sau đó được hồi sức, giải độc, lọc máu tăng thải độc, song diễn biến bệnh cực kỳ phức tạp. Một bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan tối cấp, suy tim, tụt huyết áp, suy thận, hôn mê gan, phù não, men gan tăng trên 7.000 U/L – cao gấp hàng trăm lần bình thường. Dù được điều trị hết sức, bao gồm cấp cứu hồi sức, các thuốc giải độc, lọc máu kết hợp nhiều phương pháp, nhưng vẫn diễn biến nặng nhanh chóng, cận kề tử vong. Gia đình đã xin đưa bệnh nhân về tối 6/5.
Ba bệnh nhân khác gồm hai nữ 25 tuổi và 20 tuổi, một trẻ 60 tháng tuổi cũng viêm gan nặng, suy gan, phải điều trị tích cực, đang cải thiện. Còn bệnh nhân nam giới 35 tuổi bị tổn thương đường tiêu hóa, đã xuất viện.
TS.BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc, cho hay nguyên nhân của tất cả vụ ngộ độc nấm hiện nay đều bắt nguồn từ việc người dân hái nấm mọc hoang trong rừng về ăn. Ngành y tế phân loại nấm có độc tố thành hai nhóm sớm và muộn.
Với nhóm gây ngộ độc sớm, triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 6 giờ sau ăn. Người bệnh có thể nôn, đau bụng, tiêu chảy, thậm chí có biểu hiện thần kinh, tim mạch. Tuy nhiên, nếu được cấp cứu kịp thời, gần như tất cả các trường hợp sẽ qua khỏi.
Nguy hiểm nhất là nhóm gây ngộ độc muộn – cũng chính là nhóm bệnh nhân ở Sơn La đã ăn phải. Đây là những loại nấm màu trắng, nhìn sạch sẽ, rất hấp dẫn, trông giống nấm ăn bình thường.
Độc tố amatoxin có trong nấm gây ngăn cản quá trình tổng hợp protein, đây là vật liệu chính để xây dựng nên tế bào, do đó không thể tạo nên tế bào mới thay thế cho các tế bào cũ đang liên tục già cỗi chết đi. Quá trình thay thế này diễn ra liên tục và rất nhanh ở các cơ quan có tốc độ hoạt động và chuyển hóa cao như niêm mạc ruột, gan, thận, tim, não, máu.
Do đó, độc tố amatoxin vào cơ thể thì đi đến đâu gây tổn thương đến đó. Bắt đầu ở đường tiêu hóa vừa hấp thu, vừa gây tổn thương, chết niêm mạc ruột (biểu hiện ỉa chảy, đau bụng, nôn rất nhiều), rồi đến gan bị nặng nhất, thận, tim, não,… cực kỳ dữ dội mà chúng ta vẫn gọi là tối cấp, bạo phát và đây thực sự là một bạo bệnh.
Theo chuyên gia, biểu hiện ngộ độc diễn tiến qua 3 giai đoạn rất điển hình. Giai đoạn đầu xuất hiện muộn, phải sau ăn hơn 6 giờ, người bệnh đau bụng, nôn, tiêu chảy dữ dội kéo dài khoảng một ngày. Sau đó là giai đoạn “im lặng” – khi các triệu chứng tiêu hóa giảm dần, người bệnh tưởng đã khỏi, nhưng thực tế lúc này gan đang bị phá hủy âm thầm.
“Nhiều trường hợp ở giai đoạn này bệnh nhân thấy đỡ, thậm chí có thể được cho về. Nhưng chỉ sau đó không lâu sẽ quay lại viện trong tình trạng suy gan, suy thận, hôn mê và tử vong. Giai đoạn 3 chính là giai đoạn cuối với biểu hiện rầm rộ với tổn thương, suy đa tạng”, TS Nguyên nói, thêm rằng qua các vụ ngộ độc nấm amatoxin, Trung tâm Chống độc đã ước tính tỷ lệ tử vong có thể lên tới 50%, kể cả khi đã được hồi sức tích cực.
Thực tế, hiện nhiều người dân vẫn giữ thói quen hái nấm mọc tự nhiên trong rừng để làm thức ăn do nghĩ là nấm lành. Tuy nhiên, TS Nguyên khẳng định, việc phân biệt nấm độc và không độc bằng mắt thường gần như không thể, kể cả với người có kinh nghiệm.
“Không có cách dân gian nào giúp nhận biết chính xác nấm độc. Nấm độc và nấm ăn được có thể giống nhau gần như hoàn toàn”, ông nhấn mạnh.
Các chuyên gia chống độc cho biết, nếu vừa ăn nấm xong và người bệnh còn tỉnh táo, có thể gây nôn sớm để giảm hấp thu độc tố. Trường hợp nôn, tiêu chảy nhiều cần bù nước, bù điện giải. Tuy nhiên, với các loại nấm gây ngộ độc muộn như amatoxin, các biện pháp sơ cứu ban đầu không có tác dụng do khi đã biểu hiện ngộ độc thì đã quá muộn, quá 6 giờ sau ăn, khi đó nấm và các độc tố đã đi sâu xuống ruột và hấp thu vào cơ thể, gây nôn hay rửa dạ dày không có tác dụng.
Điều quan trọng nhất là bệnh nhân phải được đưa tới cơ sở y tế càng sớm càng tốt, đặc biệt là các bệnh viện có khả năng hồi sức chống độc chuyên sâu.
Ngày 11.5, tại phường Quy Nhơn Nam (Gia Lai), Công ty CP Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định (Bidiphar) phối hợp cùng Citek khởi động dự án chuyển đổi số quy mô lớn trong ngành dược phẩm với hàng loạt hạng mục trọng điểm như nâng cấp hệ thống quản trị SAP ERP lên SAP S/4HANA Private Cloud.
Hai đơn vị ký kết triển khai các giải pháp đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất thuốc của Liên minh châu Âu (EU), áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, ứng dụng QR Code và xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ phân tích, điều hành.
Theo Bidiphar, dự án là bước đi chiến lược nhằm nâng cao năng lực quản trị, chuẩn hóa hoạt động theo các tiêu chuẩn quốc tế trong ngành dược phẩm. Thay vì cải tiến riêng lẻ từng hệ thống, doanh nghiệp lựa chọn triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để tăng hiệu quả vận hành, minh bạch dữ liệu và đáp ứng yêu cầu tuân thủ quốc tế.
Bidiphar là một trong những doanh nghiệp dược tại Việt Nam tiên phong triển khai SAP ERP từ năm 2014. Sau hơn 10 năm vận hành, doanh nghiệp tiếp tục đầu tư nâng cấp lên SAP S/4HANA Private Cloud - giải pháp quản trị thế hệ mới của Tập đoàn SAP (Đức).
Phát biểu tại lễ ký kết, bà Phạm Thị Thanh Hương, Tổng giám đốc Bidiphar, cho biết doanh nghiệp lựa chọn chuyển đổi số để chuẩn hóa quy trình, tối ưu vận hành và sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu khắt khe của thị trường toàn cầu.
Sự khởi phát của ung thư đại trực tràng (colorectal cancer) có liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó thói quen ăn uống và việc hấp thụ dinh dưỡng đóng vai trò then chốt, đặc biệt là chế độ ăn "hai cao một thấp" gồm nhiều chất béo, giàu protein nhưng lại thiếu hụt chất xơ. Theo giáo sư dinh dưỡng Ma Guansheng tại Đại học Bắc Kinh, trong số các loại thực phẩm hàng ngày, ba nhóm thịt có mối liên hệ mật thiết với căn bệnh này không nên tiêu thụ quá mức.
Trước hết là nhóm thịt đỏ, gồm phần thịt nạc và nội tạng của các loại gia súc như lợn, bò, cừu. Sở dĩ có tên thịt đỏ là do cơ bắp của chúng có sắc tố đậm, tạo nên màu đỏ sẫm đặc trưng. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng chế độ ăn nhiều chất béo sẽ thúc đẩy sự hình thành ung thư đại trực tràng, mà thịt đỏ lại chính là nguồn chứa rất nhiều chất béo bão hòa gây hại. Trong khi các loại chất béo khác từ sữa, gia cầm hay dầu thực vật không làm tăng nguy cơ mắc bệnh, chất béo có trong thịt đỏ lại là tác nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro này.
Đầu tiên là các loại thịt đỏ như lợn, bò, cừu gồm cả phần thịt nạc và nội tạng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng chế độ ăn giàu chất béo bão hòa vốn có nhiều trong thịt đỏ sẽ thúc đẩy sự hình thành ung thư kết trực tràng, trong khi chất béo từ sữa, gia cầm hay dầu thực vật lại không gây ra rủi ro này.
Theo một nghiên cứu trên gần 500.000 người trên tạp chí Dịch tễ học Quốc tế vào tháng 4/2019, việc tiêu thụ thêm mỗi 50 gram thịt đỏ mỗi ngày, tương đương một miếng thịt bò hoặc cừu dày, sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư kết trực tràng lên tới 18%.
Bên cạnh thịt đỏ tươi, các loại thịt đã qua chế biến cũng là tác nhân đáng báo động đối với sức khỏe đường ruột. Thịt chế biến sẵn là thuật ngữ dùng để chỉ bất kỳ loại thịt nào đã trải qua các công đoạn như muối, phơi khô, lên men, xông khói hoặc các phương pháp xử lý khác nhằm tăng hương vị và kéo dài thời gian bảo quản. Ngoài lượng chất béo sẵn có, quá trình chế biến còn bổ sung thêm muối và nitrite; khi nitrite kết hợp với các gốc amin từ quá trình phân giải protein sẽ tạo thành nitrosamine, một chất gây ung thư cực mạnh. Nghiên cứu trên tạp chí trên cũng cảnh báo rằng chỉ cần ăn thêm 25 gram thịt chế biến mỗi ngày, tương đương một lát thịt xông khói, nguy cơ ung thư đại trực tràng đã tăng thêm 19%.
Nhóm thứ ba cần lưu ý là các loại thịt nướng. Khi nướng trực tiếp trên lửa, mỡ từ thịt nhỏ xuống than hồng sẽ tạo ra các hydrocarbon thơm đa vòng, điển hình là benzo[a]pyrene (BaP), vốn là chất có thể tích tụ trong cơ thể và gây ung thư dạ dày hoặc đường ruột.
Ngoài ra, việc đun nấu thịt ở nhiệt độ cao thông qua các hình thức nướng, quay hay chiên rán còn sản sinh ra amin dị vòng, tác nhân gây đột biến niêm mạc đại tràng. Các báo cáo y tế khuyến cáo lượng benzo[a]pyrene nạp vào cơ thể mỗi ngày không được vượt quá 10 microgram.
Việc tiêu thụ các loại thịt này làm tăng rủi ro về sức khỏe nhưng không đồng nghĩa với việc phải loại bỏ hoàn toàn thịt đỏ khỏi thực đơn, quan trọng là cần ăn uống có chừng mực và chế biến đúng cách. Theo khuyến nghị từ Hướng dẫn chế độ ăn uống cho người dân Trung Quốc năm 2022, mỗi người nên cân đối lượng thịt, cá, trứng và thịt nạc ở mức vừa phải, trong đó hải sản và thịt gia súc gia cầm mỗi loại chỉ nên dao động từ 40 đến 75 gram mỗi ngày. Việc ưu tiên các loại cá, thịt gia cầm, hạn chế mỡ và đồ muối, đồng thời thay thế các phương pháp nướng, rán bằng hấp, luộc sẽ giúp bảo vệ sức khỏe hệ tiêu hóa một cách bền vững.
TS.BS Hoàng Tiến Trọng Nghĩa, Chủ nhiệm khoa Nội thần kinh, Bệnh viện Quân y 175, cho biết theo các tổ chức y tế uy tín như Tổ chức Giấc ngủ Quốc gia Mỹ và Học viện Y học Giấc ngủ Mỹ (AASM), thời lượng ngủ trung bình cần thiết được chia theo độ tuổi.
Người trưởng thành (18-64 tuổi) cần 7-9 giờ mỗi đêm, trong khi người lớn trên 65 tuổi giảm nhẹ nhu cầu xuống còn khoảng 7-8 giờ. Trẻ em cần thời gian ngủ dài hơn do não bộ đang trong giai đoạn phát triển và xây dựng cấu trúc mạnh mẽ. Trong đó, trẻ sơ sinh đòi hỏi nhiều thời gian nhất với 14-17 giờ và thanh thiếu niên cần 8-10 giờ.
Lý giải nguyên nhân não bộ người trưởng thành cần 7-9 giờ nghỉ ngơi, bác sĩ Nghĩa nhấn mạnh đây là lúc não thực hiện những nhiệm vụ không thể làm được khi thức, điển hình là việc dọn dẹp "rác thải" chuyển hóa thông qua hệ thống Glymphatic. Trong giấc ngủ sâu, không gian giữa các tế bào não mở rộng, cho phép dịch não tủy rửa trôi các protein độc hại tích tụ ban ngày như Beta-amyloid và Tau - những tác nhân liên quan mật thiết đến bệnh Alzheimer.
Đồng thời, giấc ngủ giúp củng cố trí nhớ và học tập bằng cách chọn lọc thông tin, chuyển ký ức ngắn hạn ở đồi hải mã lên vỏ não để lưu trữ thành ký ức dài hạn và xóa bỏ những thông tin thừa thãi, đặc biệt trong giai đoạn giấc ngủ REM và giấc ngủ sóng chậm.
Quá trình bảo dưỡng này còn bao gồm việc cân bằng nội môi Synapse và phục hồi cảm xúc. Khi thức, não bộ liên tục tạo ra các kết nối thần kinh mới khiến tiêu hao rất nhiều năng lượng. Giấc ngủ giúp "cắt tỉa" bớt các kết nối yếu, đưa mạng lưới thần kinh về trạng thái cân bằng để sẵn sàng tiếp nhận thông tin mới. Bên cạnh đó, giấc ngủ điều chỉnh sự kết nối giữa hạch hạnh nhân (trung tâm kiểm soát cảm xúc) và vỏ não trước trán (trung tâm tư duy logic), giúp con người giữ được sự điềm tĩnh và phán đoán chính xác vào hôm sau.
Tuy nhiên, chất lượng hay còn gọi là kiến trúc giấc ngủ cũng đóng vai trò quan trọng không kém số lượng. Não bộ không chỉ cần đủ thời gian mà còn phải hoàn thành 4 đến 5 chu kỳ giấc ngủ mỗi đêm, mỗi chu kỳ kéo dài 90-110 phút bao gồm đầy đủ các giai đoạn ngủ nông, ngủ sâu và ngủ REM.
Việc ngủ đủ 8 tiếng nhưng bị gián đoạn liên tục, ví dụ do chứng ngưng thở khi ngủ, sẽ khiến não bộ thiếu hụt giấc ngủ sâu trầm trọng. Hậu quả của tình trạng này thậm chí còn tồi tệ hơn cả việc chỉ ngủ 6 tiếng nhưng ngủ liền mạch. Để một bộ não người trưởng thành hoạt động minh mẫn, sắc bén và phòng ngừa các bệnh lý thoái hóa thần kinh về già, việc đảm bảo 7-8 giờ ngủ liền mạch mỗi đêm là bắt buộc.