Trao đổi thêm với báo Tuổi Trẻ, ông Đậu Anh Tuấn – Phó tổng thư ký, kiêm Trưởng ban pháp chế VCCI – nói:
Sau một giai đoạn dài xây dựng hoàn thiện, hệ thống pháp luật kinh doanh của chúng ta đã khá đầy đủ và toàn diện. Nhưng có nhiều luật đôi khi lại chồng lên nhau, mâu thuẫn nhau và mỗi nơi hiểu một kiểu.
Ví dụ doanh nghiệp (DN) muốn triển khai một dự án đầu tư sản xuất, họ phải đồng thời tuân thủ Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy chữa cháy… Mỗi luật riêng lẻ có thể hợp lý, nhưng các thủ tục yêu cầu lẫn nhau làm điều kiện tiên quyết, tạo thành một vòng lặp mà DN không biết bắt đầu từ đâu.
* Các luật đều được thẩm định kỹ, câu chuyện ông nói cụ thể thế nào?
Ví dụ để triển khai một dự án, DN cần chấp thuận chủ trương đầu tư để xin giao đất, nhưng hồ sơ chấp thuận đầu tư lại cần thông tin về đất đai. Muốn xin giấy phép xây dựng thì phải có quyền sử dụng đất và đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.
Nhưng để lập báo cáo đánh giá môi trường lại cần có thiết kế cơ sở đủ chi tiết, mà thiết kế cơ sở chỉ có ý nghĩa khi đã xác định được mặt bằng. Các thủ tục cứ yêu cầu lẫn nhau, DN không biết bắt đầu từ đâu.
Giải pháp mà chúng tôi kiến nghị với Bộ Tư pháp rất rõ ràng: phải thay đổi cách rà soát pháp luật. Lâu nay chúng ta rà soát theo từng luật, đó là góc nhìn của cơ quan quản lý. Nhưng DN không sống theo từng luật, DN sống theo chuỗi hoạt động kinh doanh – từ thành lập, đầu tư, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu cho đến giải thể.
Chỉ khi nào chúng ta đặt mình vào vị trí của người phải tuân thủ, đi theo hành trình của họ, thì mới nhìn thấy hết những điểm nghẽn, chồng chéo mà DN đang gánh chịu hàng ngày.
Bên cạnh đó, khâu thực thi cần có cơ chế giải thích pháp luật thống nhất. Hiện cùng một điều luật mà cơ quan thuế có thể hiểu một đằng, cơ quan đất đai hiểu một nẻo, DN bị kẹt ở giữa và chịu rủi ro pháp lý. DN cần biết trước hệ quả pháp lý của quyết định kinh doanh của mình. Đó là điều kiện tối thiểu để họ dám đầu tư, dám mở rộng sản xuất.
* Theo VCCI, nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế “xin cho” dưới hình thức giấy phép con, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận… Liệu có giải pháp rốt ráo nào không?
Những năm qua, Chính phủ đã quyết liệt cắt bỏ hàng nghìn điều kiện kinh doanh, nhưng thực tế cho thấy nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế “xin cho” dưới những cái tên mới như chứng nhận đủ điều kiện, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận… Tên gọi thay đổi, nhưng bản chất tiền kiểm vẫn nguyên. DN vẫn phải xếp hàng chờ đợi.
Có một nghịch lý: khi chuyển sang hậu kiểm thì năng lực thanh tra, kiểm tra lại chưa theo kịp. Kết quả là hoặc buông lỏng, hoặc thanh tra kiểm tra tràn lan, chồng chéo, gây phiền hà không kém gì tiền kiểm.
Chúng tôi kiến nghị ba việc cần làm đồng thời. Thứ nhất, tổng rà soát thực chất tất cả các loại giấy phép, điều kiện kinh doanh. Với từng loại phải trả lời được ba câu hỏi: có thực sự cần thiết? có thể thay thế bằng hậu kiểm? chi phí tuân thủ bao nhiêu? Nếu không trả lời được thì nên bỏ.
Thứ hai, đề nghị nghiên cứu áp dụng nguyên tắc mỗi điều kiện kinh doanh mới phải đi kèm bãi bỏ ít nhất một điều kiện cũ có gánh nặng tuân thủ tương đương. Các nước Anh, Đức, Hàn Quốc đã áp dụng thành công mô hình này. Nó tạo ra một kỷ luật tự nhiên cho cơ quan quản lý.
Thứ ba, phải xây dựng năng lực hậu kiểm dựa trên rủi ro. Không thể thanh tra đại trà tất cả DN như nhau. Phải ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để phân loại rủi ro.
* Nhiều DN nói pháp luật thay đổi nhanh, họ không thể lập kế hoạch kinh doanh ổn định trong dài hạn, ông nghĩ sao?
Đây là một trong những phản ánh mà chúng tôi nhận được nhiều, đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài và các DN có dự án dài hạn.
Hãy hình dung thế này, một DN đầu tư một nhà máy, vòng đời dự án 10 – 15 năm. Họ tính toán từ ưu đãi thuế, điều kiện sử dụng đất, quy chuẩn môi trường, chi phí lao động… Nhưng chưa đầy 1 – 2 năm, luật thay đổi, nghị định mới ra đời, thông tư hướng dẫn chưa kịp ban hành thì luật đã bị sửa.
Tác động có hai tầng. Thứ nhất là chi phí tuân thủ trực tiếp, DN phải chỉnh quy trình nội bộ, đào tạo lại nhân sự, thậm chí thuê thêm luật sư và tư vấn xem mình có vi phạm gì không. Với DN nhỏ và vừa, chi phí này là gánh nặng lớn.
Tầng thứ hai nguy hiểm hơn: DN trì hoãn đầu tư, ngại mở rộng, không dám đổi mới. Đó là tổn thất mà chúng ta không nhìn thấy trên sổ sách nhưng rất thực.
Chúng tôi không đề nghị pháp luật đứng yên. Nhưng thời gian chuyển tiếp tối thiểu cần 12 – 24 tháng, trừ trường hợp khẩn cấp. Với dự án đầu tư lớn và dài hạn, cần áp dụng điều khoản ổn định đầu tư – tức là cam kết không áp dụng hồi tố các thay đổi bất lợi về thuế, ưu đãi đầu tư trong một thời hạn nhất định. Đây là thông lệ quốc tế nhiều nước trong khu vực đã áp dụng.
* Việt Nam đẩy mạnh phân cấp phân quyền, vì sao VCCI kiến nghị bổ sung nguyên tắc “thống nhất thị trường quốc gia”?
Cộng đồng DN hoàn toàn ủng hộ việc phân cấp phân quyền nhưng phải có giới hạn là sự thống nhất của thị trường quốc gia.
Các DN hoạt động đa tỉnh thành phản ánh rất nhiều với chúng tôi rằng cùng một quy định pháp luật nhưng mỗi tỉnh hiểu và áp dụng một khác. Cùng một loại hàng hóa, ở tỉnh A thì được phép, sang tỉnh B thì bị yêu cầu thêm giấy phép.
Cùng một quy chuẩn phòng cháy chữa cháy, tỉnh này áp dụng thoáng, tỉnh kia áp dụng chặt… DN có nhà máy ở ba bốn tỉnh phải đối phó với ba bốn bộ quy tắc khác nhau.
Điều này gây ra chi phí tuân thủ tăng, bất bình đẳng, có thể đánh mất lợi thế quy mô. Vì vậy VCCI kiến nghị chính quyền địa phương không được ban hành quy định tạo ra rào cản đối với lưu thông hàng hóa, dịch vụ, lao động, vốn giữa các địa phương.
Chính phủ cần tăng cường kiểm tra, rà soát. Đồng thời cần xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về cách áp dụng pháp luật của từng địa phương trong các lĩnh vực trọng yếu để DN có thể tra cứu và so sánh. Khi mọi thứ minh bạch, sự khác biệt vô lý sẽ tự động bị phát hiện và điều chỉnh.
Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) vừa điều chỉnh tăng 0,1%/năm lãi suất huy động trực tuyến ở các kỳ hạn từ 6-36 tháng cho cả 3 nhóm tiền gửi: dưới 100 triệu đồng, từ 100-500 triệu đồng và trên 500 triệu đồng.
Sau điều chỉnh, lãi suất trực tuyến dành cho khoản tiền gửi dưới 100 triệu đồng dao động 6,5-7,1%/năm; nhóm từ 100-500 triệu đồng ở mức 6,6-7,2%/năm còn tiền gửi trên 500 triệu đồng được hưởng mức cao nhất tới 7,3%/năm tại kỳ hạn 36 tháng. Lãi suất kỳ hạn 12 và 21 tháng đối với nhóm tiền gửi trên 500 triệu đồng đã chạm mốc 7%/năm.
Trong khi đó, OCB giữ nguyên lãi suất tiết kiệm tại quầy, với mức cao nhất 7%/năm cho kỳ hạn 36 tháng. Ngân hàng cũng tiếp tục áp dụng mức lãi suất đặc biệt 8,5%/năm cho khách hàng gửi từ 1.000 tỷ đồng trở lên tại kỳ hạn 6 và 12 tháng.
Thực tế, sau cuộc họp với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn hồi đầu tháng 4, các ngân hàng cho biết đồng thuận giảm lãi suất để giữ mặt bằng thấp hỗ trợ nền kinh tế. “Cuộc đua” lãi suất ưu đãi của các ngân hàng bớt "nóng" hơn. Nhiều nhà băng sau đó dừng hoặc giảm dần lãi suất ưu đãi cho khách gửi tiết kiệm.
OCB trước khi điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất cũng đã giảm từ 0,2-0,5%/năm lãi suất tiết kiệm các kỳ hạn từ 6-36 tháng.
Lãi suất các ngân hàng ra sao?
Theo biểu lãi suất các ngân hàng công bố ngày 12/5, ở kỳ hạn 1 tháng, mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến dao động từ 1,6%/năm tại SCB đến 4,75%/năm tại nhiều ngân hàng như Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank, ACB, OCB, PGBank hay VPBank. Nhóm ngân hàng quốc doanh đồng loạt niêm yết mức trần 4,75%/năm cho kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng theo quy định hiện hành.
Tại kỳ hạn 3 tháng, xu hướng tương tự tiếp tục được duy trì khi nhiều ngân hàng niêm yết mức 4,75%/năm. Trong khi đó, SCB vẫn là ngân hàng có lãi suất tiết kiệm thấp nhất thị trường với 1,9%/năm. Một số ngân hàng tư nhân như Techcombank, SHB hay MB áp dụng mức lãi suất thấp hơn nhóm dẫn đầu, dao động quanh 4,65-4,7%/năm.
Ở kỳ hạn 6 tháng, nhiều ngân hàng đẩy lãi suất vượt mốc 6%/năm. MBV hiện dẫn đầu với mức 7,2%/năm, theo sau là ACB với 7,1%/năm. Các ngân hàng như LPBank, PGBank, BVBank, OCB hay nhóm ngân hàng quốc doanh niêm yết phổ biến từ 6,5% đến 6,9%/năm. Trong khi đó, SCB tiếp tục duy trì mức thấp nhất chỉ 2,9%/năm.
Tại kỳ hạn 9 tháng, MBV tiếp tục giữ vị trí cao nhất với 7,2%/năm, kế đến là ACB với 7,2%/năm và LPBank, PGBank cùng ở mức 6,9%/năm. Nhóm Big4 gồm Agribank, Vietcombank và VietinBank niêm yết 6,6%/năm, cao hơn BIDV ở mức 5,8%/năm.
Đối với kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất tăng mạnh hơn, trong đó ACB dẫn đầu với 7,3%/năm, tiếp theo là MBV đạt 7,2%/năm. LPBank, PGBank và VIB cùng niêm yết mức 7%/năm, trong khi nhiều ngân hàng khác dao động quanh 6,3-6,9%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức 6,8%/năm, riêng BIDV thấp hơn ở mức 5,9%/năm.
Ở kỳ hạn dài 18 tháng, mức lãi suất cao nhất thuộc về MBV với 7,2%/năm, tiếp theo là LPBank đạt 7,1%/năm. Nhóm ngân hàng như ACB, OCB, PGBank, Agribank, Vietcombank và VietinBank niêm yết quanh 6,7-6,8%/năm.
Ngày 7/5, Tổng thống Mỹ Donald Trump viết trên mạng xã hội Truth Social rằng ông "vẫn kiên nhẫn đợi EU thực hiện phần cam kết của mình trong thỏa thuận thương mại lịch sử" hai bên đạt được tháng 7 năm ngoái.
"EU đã cam kết giảm các loại thuế nhập khẩu của họ về 0. Tôi cho họ thời hạn đến ngày Quốc khánh của Mỹ, nếu không, thuế nhập khẩu với họ sẽ ngay lập tức nhảy lên các mức cao hơn nhiều", ông viết. Thông báo này được đưa ra sau khi ông có "một cuộc điện đàm tuyệt vời" với Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen.
Cuối tuần trước, ông Trump cho biết sẽ nâng thuế nhập khẩu với ôtô của Liên minh châu ÂU (EU), từ 15% lên 25%, vì khối này không tuân thủ thỏa thuận thương mại. Theo thỏa thuận, EU cần giảm thuế về 0% với hàng hóa công nghiệp Mỹ, và áp hạn ngạch miễn thuế với một số nông sản và hải sản Mỹ. Tuy nhiên, tiến trình thông qua luật để thực thi thỏa thuận này tại Nghị viện châu Âu (EP) đang diễn ra chậm chạp.
Trong một bài đăng trên X, bà Von der Leyen cũng cho biết đã thảo luận với ông Trump về thỏa thuận thương mại và Iran. "Chúng tôi vẫn cam kết thực thi đầy đủ các nghĩa vụ của mình. Quá trình hướng tới giảm thuế trước tháng 7 tiến triển tốt", bà viết.
Chủ tịch Ủy ban Thương mại thuộc EP Bernd Lange cho biết các nghị sĩ và chính phủ EU đang đạt tiến triển trong việc hoàn tất thỏa thuận xóa bỏ thuế nhập khẩu với hàng hóa Mỹ. Tuy nhiên, ông nói "vẫn còn một chặng đường nữa" do còn bất đồng liên quan các biện pháp bảo vệ mà một số nước trong khối yêu cầu.
Một số nghị sĩ EU muốn bổ sung các biện pháp bảo vệ cứng rắn hơn, gồm đình chỉ thỏa thuận nếu Mỹ không tuân thủ, chỉ giảm thuế khi Mỹ có động thái tương ứng và chấm dứt hoàn toàn các ưu đãi thuế của EU vào ngày 31/3/2028.
Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer cho biết thời hạn để EU thực thi thỏa thuận "đã qua từ lâu", ám chỉ Mỹ có thể thực hiện các biện pháp khác ngoài tăng thuế ôtô nếu EU không tuân thủ. "Ôtô chỉ là một phần thôi. Còn nhiều vấn đề khác mà Mỹ vẫn hoàn toàn tuân thủ, trái ngược với châu Âu nhiều tháng qua", ông Greer trả lời trên Bloomberg Television.
Chỉ thị mới của Thủ tướng về thúc đẩy tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà không chỉ tạo thêm động lực cho thị trường mà còn mở ra kỳ vọng sớm tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện cơ chế nhằm đạt mục tiêu nâng tỉ lệ công suất điện mặt trời tại các địa phương, cơ quan và hộ gia đình trong thời gian tới.
Nhận hóa đơn tiền điện tháng 3 vừa rồi đến hơn 4 triệu đồng, chị Đặng Lan Hương (phường Thanh Xuân, Hà Nội) quyết định lắp điện mặt trời mái nhà. Sau khi chuyển xuống nhà đất và cho thuê thêm hai phòng trọ, chi phí điện tăng mạnh so với ở chung cư, khiến chị kỳ vọng hệ thống này sẽ giúp chủ động nguồn điện và giảm chi phí hằng tháng.
Tham khảo các thông tin trên mạng, chị Hương khá bất ngờ khi thị trường có rất nhiều sản phẩm và nhà cung cấp với những mức giá khác nhau.
Với nhu cầu sử dụng điện hiện tại khoảng từ 2 - 3 triệu đồng/tháng, gia đình chị được tư vấn lắp đặt hệ thống điện áp mái gồm pin lưu trữ công suất khoảng 6kW và lưu trữ từ 12 - 18kW, với chi phí dao động khá lớn từ các nhà cung cấp, khoảng từ 80 - 120 triệu đồng. Nếu có thêm các chính sách hỗ trợ cho người dân cũng giúp phần nào giảm bớt gánh nặng.
Không chỉ mức giá chênh lệch, các thiết bị lắp đặt cũng có nhiều loại sản phẩm của nhiều thương hiệu khác nhau. Chị Hương chia sẻ, theo tư vấn của nhân viên lắp đặt, các thiết bị có nguồn gốc khác nhau, từ sản phẩm có thương hiệu đến hàng trôi nổi trên thị trường, nên có mức giá khác nhau, thường "tiền nào của nấy" và chỉ nên lựa chọn các nhà cung ứng cam kết bảo hành.
Thực tế này khiến chị băn khoăn không biết chọn nhà cung ứng nào đảm bảo được chất lượng sản phẩm khi tính ra chi phí lắp đặt cũng ngót cả trăm triệu đồng.
Anh Trần Văn Hưng (phường Hòa Lạc, Hà Nội) cho biết chi phí xăng tăng cao khiến anh tính mua xe máy điện. Tuy nhiên, tiền điện gia đình hiện đã khoảng 5 triệu đồng/tháng, nên nếu có thêm nhu cầu sạc xe, anh dự định lắp điện mặt trời mái nhà để chủ động nguồn điện, nhất là vào mùa nắng nóng hay mất điện, đồng thời giảm chi phí.
Qua tìm hiểu, anh được tư vấn các gói lắp đặt trọn gói khoảng 200 - 250 triệu đồng cho hệ thống 13 - 15kW, với mức giá phụ thuộc vào chất lượng thiết bị như biến tần và pin lưu trữ.
Trong khi đó, anh Nguyễn Tuấn Đức (phường Thủ Dầu Một, TP.HCM) băn khoăn về thủ tục, chi phí và chất lượng thiết bị. Ban đầu lo ngại phải làm nhiều giấy tờ, nhưng sau khi tìm hiểu, anh được biết hiện chỉ cần đăng ký qua Cổng dịch vụ công và có thể thuê đơn vị làm trọn gói.
Tuy vậy, điều anh Đức lo nhất vẫn là chất lượng sản phẩm khi thị trường có nhiều mức giá khác nhau. "Nếu có chính sách hỗ trợ tài chính hoặc vay ưu đãi, người dân sẽ mạnh dạn lắp đặt hơn, đồng thời cần kiểm soát chất lượng để tránh tình trạng chọn thiết bị giá rẻ nhưng không đảm bảo", anh Đức nêu ý kiến.
Theo ông Lê Quang Vinh - đại diện Sigenergy, đơn vị chuyên lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà, chỉ thị mới của Thủ tướng đang tạo cú hích cho thị trường điện mặt trời mái nhà, nhất là trong bối cảnh nhu cầu lắp đặt tăng sớm do lo ngại thiếu điện và dự báo nắng nóng cực đoan.
Nhu cầu tăng mạnh cũng kéo theo giá thiết bị leo thang: tấm quang điện đã tăng 30 - 35% vào cuối năm 2025, còn pin lưu trữ tăng khoảng 20%. Đồng thời, xu hướng đầu tư hệ thống lưu trữ (BESS) để tận dụng điện giá thấp giờ thấp điểm, cùng với nhu cầu sạc xe điện gia tăng, đang khiến thị trường càng thêm sôi động.
Ông Vinh cho biết chi phí lắp đặt hiện đã tăng từ mức 15 - 16 triệu đồng/kW lên khoảng 18 - 20 triệu đồng/kW, tùy thuộc vào chất lượng thiết bị. Riêng pin lưu trữ có giá trung bình khoảng 5 triệu đồng/kW, với cấu hình phổ biến 10kW. Tuy nhiên, ông cảnh báo người dùng không nên chạy theo giá rẻ, bởi thiết bị kém chất lượng có thể khiến "tiền mất, tật mang".
"Người dùng luôn muốn mua với giá rẻ nhất, nhưng cần đi đôi với chất lượng. Ví dụ như đầu tư một thiết bị lưu trữ khoảng 50 triệu đồng, tương đương một chiếc xe máy, nhưng liệu có đảm bảo chất lượng suốt vòng đời thiết bị hay không?
Nếu mỗi ngày tích trữ được 10kWh, thì mỗi tháng là 300kWh, tương đương với mức điện hiện nay sẽ tiết kiệm được 900.000 đồng, thì cũng phải vài năm mới thu hồi vốn. Vì vậy, cần phải kiểm soát được chất lượng thiết bị để đảm bảo việc lắp đặt xong mà chỉ sử dụng được một vài năm", ông Vinh nói.