Th.S Nguyễn Ngọc Tuấn, Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và tái tạo, Bệnh viện Đại học Y dược – cơ sở Linh Đàm (Hà Nội), cho biết thực tế điều trị các bác sĩ đã ghi nhận các ca bệnh nhập viện do bị người khác cắn. Tổn thương do người cắn thường gặp nhất trong các vụ bạo lực là mất tai, mất môi hoặc một phần mũi.
Mới đây nhất, người đàn ông 45 tuổi ở Bắc Ninh vào cấp cứu do bị người thân cắn đứt rời môi trên, khuyết toàn bộ phần mềm môi trên. Mảnh môi bị đứt rời và thất lạc, nên các bác sĩ đã phải thực hiện phẫu thuật tạo hình môi mới cho bệnh nhân. Đây là phẫu thuật phức tạp và cần nhiều thời gian “hoàn thiện”.
“Vết thương do người cắn là một dạng tổn thương rất đặc biệt”, Th.S Nguyễn Ngọc Tuấn nói và cho hay cơ chế tổn thương khác các vết thương thông thường, không chỉ là rách da mà còn có lực nghiền, xé và đâm xuyên do răng dẫn đến dễ làm dập nát mô, tổn thương sâu.
Bác sĩ Tuấn lưu ý thêm, trong các vụ xô xát, ẩu đả, bạo lực, có dạng vết thương rất điển hình khác là “clenched fist injury” (chấn thương do đấm vào răng người khác). Trường hợp này vết thương bên ngoài nhỏ nhưng tổn thương sâu vào khớp bàn tay. Vết thương này có nguy cơ nhiễm trùng cao, dễ bị bỏ sót do biểu hiện ban đầu kín đáo, khiến người có vết thương đến cơ sở y tế muộn, do đó cách xử trí cũng cần thận trọng.
Đáng lưu ý, theo bác sĩ Tuấn, vết thương do người cắn là vết thương bẩn tương đương vết thương do súc vật cắn, vì trong khoang miệng người chứa hệ vi khuẩn rất phức tạp, nhiều hơn cả một số loài động vật. Trung bình có hàng trăm loài vi khuẩn: hiếu khí và kỵ khí, trong đó, có một số vi khuẩn điển hình: Streptococcus, Staphylococcus aureus, Eikenella corrodens (rất đặc trưng trong vết cắn người), vi khuẩn kỵ khí như Fusobacterium, Prevotella…
Khi cắn, các vi khuẩn này được “tiêm” trực tiếp vào mô sâu, là nguy cơ nhiễm trùng cao (10 – 50%), thậm chí gây viêm mô tế bào, áp xe, rất nguy hiểm cho nạn nhân.
“Nếu chẳng may gặp tai nạn này, việc quan trọng nhất là tìm lại các mảnh đã bị cắt (mảnh môi, tai bị cắn rời), bảo quản đúng cách để tăng cơ hội nối lại thành công. Bệnh nhân cần được đưa đến các cơ sở có chuyên khoa phẫu thuật tạo hình càng sớm càng tốt để được xử lý đúng quy trình chuyên môn”, bác sĩ Tuấn hướng dẫn.
Ngày 15.4 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, một bé trai chào đời với cân nặng 2,4 kg bằng phương pháp sinh mổ khi thai nhi được 38 tuần tuổi. Trước đó 13 tuần, chị gái song sinh của bé trai này đã chào đời non tháng khi được 25 tuần tuổi, với cân nặng 650 gr.
32 tuổi, ở Bắc Ninh, mang thai nhờ IVF, nhập viện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội khi song thai được 20 tuần tuổi do nguy cơ sinh non, cổ tử cung bắt đầu mở 2 - 3 cm, một thai sa thấp. Khi thai được 25 tuần tuổi, sản phụ chuyển dạ sinh thường bé gái đầu lòng. Do là trường hợp sinh cực non, bé gái được hồi sức sơ sinh và chuyển đến chăm sóc đặc biệt tại Bệnh viện Nhi T.Ư.
Thai nhi thứ hai của song thai này tiếp tục được bác sĩ của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giữ lại trong bụng mẹ với sự hỗ trợ sát sao về y tế. Trong 13 tuần "nuôi dưỡng" thai nhi trong bụng mẹ, các bác sĩ đã phối hợp rất chặt chẽ các chuyên khoa: sản, nhi, gây mê - chống nhiễm khuẩn; theo dõi chặt chẽ diễn biến sức khỏe sản phụ, các chỉ số bạch cầu, thân nhiệt để có các chỉ định phù hợp, đảm bảo an toàn cho mẹ và thai. Quá trình điều trị, chăm sóc, các bác sĩ phải khống chế nhiễm trùng, giảm cơn co ở người mẹ, chống phù não thai nhi…
TS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, chia sẻ: Thai nhi được phát triển trong bụng mẹ có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển, hoàn thiện của thai nhi và sức khỏe của em bé sau khi chào đời, đặc biệt cần thiết cho sự phát triển của phổi, tim mạch.
Để giữ lại được thai nhi trong bụng mẹ suốt 13 tuần là thử thách rất lớn về chuyên môn, trước thực tế người mẹ vẫn có nguy cơ sinh non do cơn co "đẩy" thai; thai có nguy cơ nhiễm trùng rất cao, đồng thời cũng lo ngại về sự phát triển thai nhi do được giữ lại trong điều kiện không hoàn toàn bình thường, vì mẹ đã vỡ ối sinh non bé gái trước đó.
Bé trai nêu trên - trường hợp có nguy cơ sinh cực non (khi 25 tuần tuổi) được kéo dài đến khi trưởng thành về tuổi thai, về sự phát triển, và chào đời khi được 38 tuần tuổi - là ca đầu tiên tại VN. Sức khỏe của mẹ và bé trai hiện hoàn toàn bình thường. Trước đây đã có các trường hợp trẻ có nguy cơ sinh non khi thai 25 - 26 tuần được kéo dài đến 30 - 31 tuần.
Theo TS Mai Trọng Hưng, thành công trong việc nuôi dưỡng thêm 13 tuần tuổi, tránh sinh cực non không chỉ giúp bé chào đời, phát triển tốt mà góp phần cho khởi đầu xây dựng các phác đồ điều trị mới, nhằm kéo dài thai kỳ trong những trường hợp bệnh lý phức tạp, thai kỳ nguy cơ cao. Vì các bé được sinh ra khi thai ngoài 30 tuần tuổi thì khả năng hoàn thiện về sự phát triển (tim, phổi…) cao. Nếu sinh non và cực non (dưới 27 tuần tuổi) thì sự phát triển của em bé sẽ rất khó khăn.
Đây là một trong những ca kéo dài thai kỳ lâu nhất sau khi đã sinh một thai, tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Thai kỳ thứ hai được duy trì thêm 13 tuần, từ tuần 26 - 38, là trường hợp thành công hiếm gặp tại VN và thế giới.
Cơ thể con người hoạt động tốt nhất khi được thay đổi trạng thái liên tục. Khi công việc buộc chúng ta ở yên trong một tư thế quá lâu, dù là ngồi hay đứng, đó mới là lúc các vấn đề sức khỏe bắt đầu xuất hiện.
Câu nói "ngồi nhiều nguy hiểm như hút thuốc" từng lan truyền rộng rãi, nhưng các nhà khoa học cho rằng nhận định này mang tính cảnh báo hơn là kết luận chính xác.
Trên thực tế ngồi lâu có liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe như đau cột sống, giảm chuyển hóa năng lượng và tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Tuy nhiên đứng lâu cũng không phải là giải pháp thay thế hoàn hảo, theo The Conversation.
Những người làm việc phải đứng nhiều giờ liên tục như nhân viên y tế, giáo viên, công nhân dây chuyền hay nhân viên bán hàng thường gặp tình trạng đau chân, mỏi cơ, giãn tĩnh mạch và áp lực kéo dài lên cột sống.
Các nghiên cứu trong lĩnh vực công thái học cho thấy cả hai trạng thái ngồi và đứng đều có thể gây hại nếu kéo dài mà không có sự thay đổi.
Điểm chung của hai tư thế này là tính "tĩnh". Cơ thể con người được thiết kế để vận động liên tục, không phải để giữ nguyên một trạng thái trong nhiều giờ. Khi ngồi quá lâu, các nhóm cơ ít được kích hoạt, tuần hoàn máu chậm lại, gây căng cứng vùng cổ, vai và thắt lưng.
Ngược lại, khi đứng lâu, trọng lực dồn xuống chi dưới, làm tăng áp lực lên bàn chân, đầu gối và hệ tĩnh mạch.
Các chuyên gia về vật lý trị liệu nhấn mạnh rằng yếu tố nguy cơ lớn nhất không nằm ở việc "ngồi hay đứng", mà là thời gian duy trì tư thế và mức độ thiếu vận động đi kèm. Đây cũng là nguyên nhân khiến rối loạn cơ xương khớp trở thành nhóm bệnh nghề nghiệp phổ biến hàng đầu hiện nay.
Một khía cạnh quan trọng nhưng thường bị bỏ qua là vai trò của bàn chân trong toàn bộ hệ vận động. Bàn chân là điểm tiếp xúc trực tiếp với mặt đất, chịu trách nhiệm phân bổ lực và giữ ổn định cho cơ thể. Khi phải đứng lâu, áp lực liên tục lên bàn chân có thể lan truyền lên các khớp phía trên như mắt cá, đầu gối, hông và cột sống, dẫn đến đau và rối loạn tư thế.
Trong khi đó xu hướng sử dụng bàn làm việc đứng hoặc các thiết bị hỗ trợ công thái học ngày càng phổ biến. Những công cụ này có thể giúp cải thiện tư thế, nhưng không phải là giải pháp toàn diện. Một môi trường làm việc "tốt" không chỉ nằm ở thiết bị, mà còn ở cách tổ chức nhịp sinh hoạt trong ngày.
Theo khuyến nghị của Cơ quan An toàn và Sức khỏe lao động châu Âu, chiến lược hiệu quả nhất là giảm thời gian duy trì tư thế tĩnh và tăng cường vận động xen kẽ.
Điều này có thể được thực hiện thông qua những thay đổi đơn giản như đứng dậy đi lại sau mỗi 30-60 phút, kết hợp ngồi - đứng linh hoạt, thực hiện các bài giãn cơ ngắn, hoặc bố trí công việc theo hướng luân phiên hoạt động.
Bên cạnh đó các yếu tố như giày dép phù hợp, chiều cao bàn ghế, ánh sáng, cũng như thói quen vận động ngoài giờ làm việc đều góp phần quan trọng trong việc bảo vệ hệ cơ xương khớp. Những điều chỉnh nhỏ nhưng duy trì đều đặn có thể tạo ra khác biệt lớn về lâu dài.
Nói cách khác, thay vì tìm kiếm một "tư thế lý tưởng", cách tiếp cận khoa học hơn là xem cơ thể như một hệ thống cần được vận hành linh hoạt. Sự thay đổi, thích nghi và vận động thường xuyên mới chính là chìa khóa giúp giảm nguy cơ bệnh tật và duy trì sức khỏe trong môi trường làm việc hiện đại.
Bệnh viện Sir Run Run Shaw liên kết với trường Y thuộc Đại học Chiết Giang hôm 28/4 thông tin về trường hợp vợ chồng chị Li và anh Zhang ở thành phố Hàng Châu, khiến nhiều người xúc động, theo Sohu. Suốt 19 năm chung sống, cả hai được người ngoài ngưỡng mộ như một cặp hoàn hảo nhưng ít ai ngờ họ chưa từng giao hợp như những đôi vợ chồng bình thường.
Nguyên nhân bắt nguồn từ việc chị Li mắc hội chứng sợ bẩn (mysophobia) nghiêm trọng, cùng tâm lý lo âu và bài trừ đụng chạm thân thể. Suốt từng ấy năm, anh Zhang chọn cách bao dung, tôn trọng và kiên nhẫn bảo vệ cuộc hôn nhân của mình.
Tuy nhiên, khi tuổi tác ngày một lớn và chứng kiến con cái của bạn bè dần trưởng thành, nỗi khao khát về một mái ấm trọn vẹn trong hai vợ chồng càng thêm cháy bỏng, thôi thúc cả hai tìm đến sự hỗ trợ của y tế.
Kết quả kiểm tra cho thấy dự trữ buồng trứng của chị Li đang suy giảm, trong khi chức năng sinh sản của anh Zhang vẫn bình thường. Ban đầu, bác sĩ chỉ định lộ trình tư vấn tâm lý trong ba tháng để hướng tới việc thụ thai tự nhiên. Tuy nhiên, những rào cản tinh thần của chị Li quá lớn khiến nỗ lực này không mang lại kết quả.
Trước tình hình đó, các chuyên gia đã xây dựng một phác đồ hỗ trợ sinh sản (ART - gồm các phương pháp như thụ tinh nhân tạo IUI hay thụ tinh trong ống nghiệm IVF) chuyên biệt dành riêng cho cặp vợ chồng. Sau thất bại ở lần điều trị đầu tiên, hai vợ chồng không bỏ cuộc mà cùng nhau điều chỉnh tâm lý để bước vào liệu trình thứ hai. Sự bền bỉ của họ cuối cùng được đền đáp xứng đáng khi chị Li mang thai và sinh một bé gái khỏe mạnh. Giờ đây, tổ ấm nhỏ của họ tràn ngập tiếng cười và niềm vui nhờ sự hiện diện của thành viên mới.
Hội chứng sợ bẩn, hay còn gọi là mysophobia hoặc chứng sợ vi trùng, là một dạng rối loạn lo âu đặc trưng bởi nỗi sợ hãi tột độ, phi lý và dai dẳng đối với bụi bẩn, vi khuẩn hoặc sự lây nhiễm, thường liên quan mật thiết đến chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế.
Khác với thói quen ưa sạch sẽ thông thường, nỗi sợ của người bệnh lớn đến mức chi phối hoàn toàn các hoạt động sống. Họ thường có những hành vi làm sạch cưỡng chế như rửa tay hoặc tắm rửa liên tục đến mức bong tróc da, đồng thời né tránh việc đụng chạm thân thể, bắt tay, ôm ấp hay thậm chí là quan hệ tình dục. Họ cũng rất sợ không gian công cộng, từ chối chạm vào tay nắm cửa hay đi phương tiện giao thông chung, và nếu buộc phải đối mặt với môi trường mà họ cho là ô nhiễm, người bệnh có thể hoảng loạn, tim đập nhanh, khó thở, đổ mồ hôi và run rẩy.
Nguyên nhân dẫn đến hội chứng này thường là sự kết hợp của nhiều yếu tố như trải nghiệm sang chấn tâm lý trong quá khứ, yếu tố di truyền từ gia đình có người mắc rối loạn lo âu, hoặc do ảnh hưởng từ cách giáo dục quá khắt khe về vấn đề vệ sinh từ khi còn nhỏ. Đôi khi, các đợt dịch bệnh lớn cũng có thể kích hoạt chứng bệnh này ở những người nhạy cảm.
Việc điều trị không thể chỉ dựa vào những lời khuyên thông thường mà đòi hỏi sự can thiệp của y khoa thông qua liệu pháp nhận thức - hành vi, đặc biệt là phương pháp cho bệnh nhân tiếp xúc dần với các tác nhân gây sợ hãi trong môi trường kiểm soát để họ từ từ làm quen và giảm bớt lo âu. Trong những trường hợp nghiêm trọng, bệnh nhân có thể cần sử dụng thêm thuốc chống lo âu hoặc thuốc chống trầm cảm để kiểm soát các triệu chứng đi kèm.