Theo biểu lãi suất niêm yết mới của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), lãi suất tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ hạn 3 tháng giảm 0,12%/năm, xuống còn 4,63%/năm; kỳ hạn 4 tháng giảm 0,13%/năm, còn 4,62%/năm; kỳ hạn 5 tháng giảm 0,14%/năm xuống 4,61%/năm.
Nhóm kỳ hạn từ 6-8 tháng ghi nhận mức giảm mạnh hơn, dao động 0,24-0,3%/năm. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 6 tháng còn 5,76%/năm, kỳ hạn 7 tháng còn 5,72%/năm và kỳ hạn 8 tháng còn 5,7%/năm. Lãi suất kỳ hạn 9 tháng giảm 0,28%/năm xuống 5,72%/năm; kỳ hạn 10 tháng giảm nhẹ còn 5,96%/năm; kỳ hạn 11 tháng còn 5,95%/năm.
Lãi suất huy động trực tuyến cao nhất tại VPBank áp dụng cho kỳ hạn 12 tháng đã giảm mạnh 0,36%/năm, xuống còn 5,94%/năm. Các kỳ hạn từ 13-36 tháng cũng đồng loạt được điều chỉnh xuống dưới mốc 6%/năm. Trong đó, kỳ hạn 13-15 tháng còn 5,83%/năm, kỳ hạn 18 tháng còn 5,76%/năm, kỳ hạn 24 tháng còn 5,68%/năm và kỳ hạn 36 tháng giảm sâu nhất, tới 0,58%/năm, xuống còn 5,02%/năm.
Như vậy, toàn bộ lãi suất tiền gửi các kỳ hạn từ 6-36 tháng tại VPBank hiện đều được niêm yết dưới ngưỡng 6%/năm.
VPBank là ngân hàng thứ 2 giảm lãi suất huy động từ đầu tháng 5 đến nay, sau Saigonbank. Đây đồng thời là lần điều chỉnh giảm lãi suất thứ 3 của VPBank kể từ sau cuộc họp ngày 9/4 giữa các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước về yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất trên thị trường.
Theo biểu lãi suất niêm yết của các ngân hàng, với kỳ hạn ngắn 1-3 tháng, mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến ghi nhận sự phân hóa khá rõ giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân. Mức phổ biến dao động quanh 4,6-4,75%/năm. Nhóm ngân hàng có lãi suất cao nhất ở kỳ hạn 1 tháng gồm ACB, MSB, OCB, PGBank, VIB và VPBank cùng niêm yết 4,75%/năm.
Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất cao nhất thị trường hiện thuộc về MBV với mức 7,2%/năm. Xếp ngay sau là ACB với 7,1%/năm. Một số ngân hàng khác duy trì mức lãi suất cao từ 6,8-6,9%/năm như LPBank, PGBank, Bac A Bank và BVBank. Trong nhóm Big4, Agribank, VietinBank và Vietcombank cùng niêm yết 6,6%/năm.
Tại kỳ hạn 9 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục nghiêng về nhóm ngân hàng tư nhân quy mô vừa và nhỏ. ACB và MBV dẫn đầu với cùng mức 7,2%/năm. Nhóm ngân hàng niêm yết từ 6,8-6,9%/năm gồm LPBank, PGBank, BVBank và Bac A Bank. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức 5,8-6,6%/năm tùy từng nhà băng.
Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất huy động cao nhất thị trường hiện thuộc về ACB với 7,3%/năm, tiếp đến là MBV ở mức 7,2%/năm. Nhiều ngân hàng khác niêm yết quanh ngưỡng 7% như LPBank, PGBank và VIB. Nhóm Big4 gồm Agribank, VietinBank và Vietcombank cùng giữ mức 6,8%/năm, trong khi BIDV niêm yết thấp hơn, ở mức 5,9%/năm.
Đối với kỳ hạn dài 18 tháng, MBV tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức 7,2%/năm. Xếp sau là LPBank với 7,1%/năm. Nhóm ngân hàng có lãi suất từ 6,6-6,8%/năm gồm Agribank, VietinBank, Vietcombank, OCB và PGBank. Trong khi đó, SCB vẫn là ngân hàng có lãi suất thấp nhất với chỉ 3,9%/năm.
Cục Thống kê vừa công bố Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian (SCOLI) của 34 tỉnh, thành phố và 6 vùng kinh tế – xã hội. SCOLI tính bằng %, phản ánh sự chênh lệch giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng hằng ngày của người dân giữa địa phương.
Năm 2025, Hà Nội làm mốc so sánh (SCOLI=100) và đây cũng là địa phương dẫn đầu cả nước với mức giá đắt đỏ nhất. Đứng thứ hai và ba là Quảng Ninh và Hải Phòng, ghi nhận SCOLI lần lượt bằng 98,56% và 98,43% so với Hà Nội.
TP HCM đứng thứ tư, với SCOLI năm 2025 bằng 97,96%. Theo Cục Thống kê, đây là trung tâm kinh tế lớn với tốc độ đô thị hóa cao, dân số đông và nhu cầu tiêu dùng đa dạng, góp phần duy trì mặt bằng giá ở mức cao.
Tuy nhiên, nhờ hệ thống phân phối hiện đại, nguồn cung hàng hóa dồi dào và mức độ cạnh tranh cao, mặt bằng giá bình quân tại TP HCM thấp hơn Hà Nội, tiêu biểu như các nhóm hàng thiết bị và đồ dùng gia đình (93,66%); may mặc, mũ nón và giày dép (94,33%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (97,23%).
Đà Nẵng đứng thứ 5 cả nước, với chỉ số SCOLI năm 2025 bằng 97,89%. Thành phố này có lợi thế về vị trí địa lý và hạ tầng giao thông, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, chi phí sinh hoạt chưa ở mức cao như Hà Nội.
Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian 2025
Thứ hạng
Cao nhất
Thấp nhất
Địa phương
SCOLI
Địa phương
SCOLI
1
Hà Nội
100
Vĩnh Long
91,47
2
Quảng Ninh
98,56
Gia Lai
92,62
3
Hải Phòng
98,43
Cà Mau
92,97
4
TP HCM
97,96
Quảng Trị
92,99
5
Đà Nẵng
97,89
Tây Ninh
93,51
Trong khi đó, top 5 địa phương có chi phí sinh hoạt dễ chịu nhất năm qua là Vĩnh Long, Gia Lai, Cà Mau, Quảng Trị và Tây Ninh. Trong đó, Vĩnh Long có chỉ số SCOLI 2025 thấp nhất cả nước, bằng 91,47% Hà Nội.
Tỉnh này có lợi thế về sản xuất nông nghiệp và thủy sản nên nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào. Trong khi, hoạt động thương mại và dịch vụ phát triển vừa phải, nhu cầu tiêu dùng không cao, giúp mặt bằng giá ổn định. Đây cũng là điểm chung của các địa phương có mức giá sinh hoạt thấp.
Tính chung 34 tỉnh, thành, Cục Thống kê đánh giá mức giá sinh hoạt chênh lệch không nhiều, nhờ hệ thống phân phối, logistics phát triển. Đặc biệt, thương mại điện tử đã góp phần tăng tính minh bạch, cạnh tranh và rút ngắn khoảng cách giá.
Xét theo vùng, lấy Đồng bằng sông Hồng làm mốc so sánh (SCOLI=100), thì vùng này cũng là khu vực có giá sinh hoạt đắt nhất cả nước. Nguyên nhân được chỉ ra là kinh tế phát triển ổn định, mật độ dân số cao và tốc độ đô thị hóa nhanh.
Cơ cấu tiêu dùng của người dân vùng này tập trung vào tiền thuê nhà, y tế, giáo dục và ăn ngoài. Giá bất động sản tại Hà Nội và các đô thị tăng do quỹ đất hạn chế trong khi nhu cầu lớn, kéo theo chi phí thuê nhà và sinh hoạt tăng. Giáo dục và y tế chất lượng cao cũng nhiều, góp phần làm tăng SCOLI.
Ngoài ra, chi phí đầu vào như giá thuê mặt bằng, chi phí lao động và chi phí dịch vụ tại các đô thị lớn ở mức cao, làm tăng chi phí sản xuất, kinh doanh và cung ứng hàng hóa, dịch vụ, qua đó tác động đến mặt bằng giá tiêu dùng của dân cư.
Đứng thứ hai là vùng Đông Nam Bộ với chỉ số SCOLI đạt 98,88%. Tiếp theo là Trung du và miền núi phía Bắc; Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên; Bắc Trung Bộ và thấp nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng 95,11%. Như vậy, khoảng cách giữa vùng có mức giá cao nhất và thấp nhất ở mức 4,89 điểm phần trăm, phản ánh chênh lệch không lớn, theo Cục Thống kê.
Thông tin trên được Hóa chất Đức Giang công bố trong tài liệu chuẩn bị phiên họp thường niên diễn ra ngày 8/5. Trong đó, ông Đào Hữu Huyền đang giữ chức Chủ tịch, còn ông Đào Hữu Duy Anh là Phó chủ tịch.
Nếu miễn nhiệm ông Đào Hữu Huyền và con trai, Hội đồng quản trị (HĐQT) công ty này còn lại hai thành viên là Tổng giám đốc Lưu Bách Đạt và bà Nguyễn Thị Thu Hà. Để đảm bảo số lượng thành viên HĐQT, doanh nghiệp này dự kiến bầu bổ sung 3 người mới cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ 2024-2029. Hóa chất Đức Giang hiện chưa công bố các ứng viên thay thế.
Trước đó, ngày 17/3, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an đã khởi tố và bắt tạm giam ông Đào Hữu Huyền, Chủ tịch Hóa chất Đức Giang và con trai Đào Hữu Duy Anh, Phó chủ tịch nguyên Tổng giám đốc công ty.
Hóa chất Đức Giang được thành lập vào năm 1963, từng thuộc Tổng cục Hóa chất. Doanh nghiệp này được cổ phần hóa vào năm 2003, hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất axit photphoric, photpho vàng, phân bón...
Theo báo cáo tự lập, năm 2025, Hóa chất Đức Giang ghi nhận gần 11.266 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 14% so với năm trước. Lợi nhuận sau thuế tăng gần 3% lên 3.188 tỷ đồng, vượt kế hoạch cả năm.
Tính đến nay, doanh nghiệp này vẫn chưa công bố báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025, muộn 19 ngày so với quy định. Vì vậy, cổ phiếu DGC bị Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM (HoSE) đưa vào diện cảnh báo và không còn đủ điều kiện để giao dịch ký quỹ từ ngày 23/4.
Hóa chất Đức Giang cho biết việc chậm nộp báo cáo tài chính kiểm toán là tình huống bất khả kháng. Họ đã gửi văn bản giải trình lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và HoSE, xin gia hạn thời gian nộp báo cáo sau mốc 30/3. Doanh nghiệp cam kết cùng đơn vị kiểm toán hoàn thiện báo cáo và công bố thông tin ngay khi các điều kiện cho phép.
Theo đó, Bộ Công Thương chính thức bãi bỏ cụm từ "dầu hỏa" tại khoản 2, Điều 1 của Thông tư số 18/2025 sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định tại các thông tư quy định về kinh doanh xăng dầu.
Nội dung của quy định liên quan tới các mặt hàng xăng dầu nhà nước công bố giá cơ sở. Bao gồm những mặt hàng xăng, dầu được tiêu dùng phổ biến trên thị trường như xăng sinh học, xăng khoáng, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut. Như vậy với việc chính thức bãi bỏ quy định này, mặt hàng dầu hỏa không còn nằm trong danh mục công bố giá cơ sở.
Theo quy định về kinh doanh xăng dầu, giá cơ sở xăng dầu là căn cứ để cơ quan quản lý nhà nước điều hành giá bán lẻ xăng dầu trong nước. Mức giá này được tính dựa trên các yếu tố gồm: Giá xăng dầu thành phẩm thế giới, các khoản chi phí và lợi nhuận định mức, mức trích lập, chi sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu, các khoản thuế.
Trong đó giá xăng dầu thế giới trong công thức giá cơ sở xăng dầu được xác định là giá thành phẩm xăng dầu được giao dịch trên thị trường Singapore (của Hãng tin Platts). Chi phí này chiếm tỉ trọng chủ yếu, nên có vai trò quyết định tới giá nếu giá xăng dầu thế giới tăng.
Chi phí định mức sẽ gồm: chi phí đưa xăng dầu từ nước ngoài về Việt Nam, Premium, lợi nhuận (có nghĩa là phần thưởng, ưu đãi, tiền lãi, chi phí trả thêm, chi phí thưởng, phí bảo hiểm, tiền đóng bảo hiểm) cùng lợi nhuận định mức. Quỹ bình ổn giá xăng dầu hiện được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với thực tế.
Bộ Công Thương cho hay mặt hàng dầu hỏa chỉ chiếm 0,1% tổng lượng tiêu thụ xăng dầu. Trong khi đó, các mặt hàng khác như xăng, dầu diesel chiếm tỉ trọng lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống người dân, nên vẫn thuộc danh mục các mặt hàng do bộ điều hành giá cơ sở.