Bài viết Không được yêu cầu học thuộc bài mẫu để kiểm tra cuối năm đăng trên Báo Thanh Niên hôm 4.5 nhận được nhiều phản hồi từ độc giả.
Bạn V.Năng gửi ý kiến về Báo Thanh Niên “Tôi thấy cả học kỳ 2, giáo viên bắt học sinh viết đi viết lại bài văn tả mẹ. Cô sửa bài nhiều lần đến nỗi đọc xong không còn nhận ra mẹ của mình luôn”.
Phụ huynh An Nguyễn chia sẻ: “Con tôi học lớp 3. Cô chủ nhiệm cho 3 bài tập làm văn đã được cô chỉnh sửa, bắt học thuộc lòng để cô kiểm tra trước ngày thi. Mong Bộ Giáo dục chấn chỉnh lại cả hệ thống để trả lại giáo dục trong sáng cho các em”.
Phụ huynh Trà Giang kể lại một kỷ niệm ngày con của chị học lớp 7, được bồi dưỡng thi học sinh giỏi văn, con rất hăm hăm hở và tự hào. Cho tới ngày bồi dưỡng, cô giáo của con bắt học thuộc 12 dàn ý.” Lúc đó vừa trở lại trường sau dịch Covid-19, tối tối đúng 7 giờ phải mở Zoom lên trả bài. Con năn nỉ mẹ xin cô để ra khỏi đội, mình nói thôi cố gắng gần tới ngày thi rồi. Sáng hôm đi thi, con nói hy vọng không vô mấy đề cô đã bắt học, con sẽ điểm thấp và năm sau không chọn đi thi nữa. Từ đó, con cũng cụt hứng với môn văn”.
Phụ huynh Thiên Thanh, cho hay con của chị học lớp 5, mấy tối nay bé nhờ mẹ trả bài văn “với điều kiện không được sai 1 chữ, không là cô kiểm tra cô la”.
Bạn đọc Mỹ Đức Đặng chia sẻ: “Bây giờ thật sự mà nói con nít đi học khác nào con vẹt. Văn thì con phải tự diễn tả viết theo suy nghĩ của con chứ. Còn đằng này làm theo văn mẫu có sẵn”.
Bạn đọc Hung.nguyen kể: “Tôi năm nay 69 tuổi, tôi thấy trước đây, học sinh bậc tiểu học thời tôi học rất nhàn nhã, thời nay thấy đứa cháu nội tôi học mà thấy thương, học liên tục từ sáng đến 7, 8 giờ tối”.
Bạn đọc Hùng Đỗ thẳng thắn: “Vấn đề khó nhất là thay đổi nhận thức của giáo viên về việc kiểm tra đánh giá học sinh như thế nào. Học sinh và phụ huynh không thể quyết định về vấn đề này”.
Thầy Nguyễn Hải Phong (tên nhân vật đã được thay đổi), từng là giáo viên tiểu học một trường công lập tại TP.HCM, kể với PV Báo Thanh Niên, cho biết có tình trạng những bài văn na ná nhau ở học sinh tiểu học. Một phần đến từ sự nôn nóng của giáo viên chủ nhiệm, nhiều thầy cô lo học sinh không thể làm tốt bài kiểm tra định kỳ, sẽ ảnh hưởng thành tích học tập của học sinh, tập thể lớp. Do đó, để an toàn hơn, một số giáo viên sẽ có cách làm là cho học sinh viết trên lớp, cô sửa lại cho chuẩn chỉnh, học sinh căn cứ bài mẫu để học theo, làm theo.
“Khi ấy tôi dạy lớp 4, vào đầu năm học, mới nhận lớp, tôi cho học sinh viết bài tập làm văn và thu lại thì thấy buồn vô cùng, gần 40 bài tập làm văn na ná nhau. Cảm xúc của một người thầy khi đọc gần 40 bài văn mà bài nào cũng giông giống bài nào nó chán vô cùng. Tôi đã thay đổi lại toàn bộ cách dạy và học tập làm văn mà các em đã được học, dạy các em cách lập dàn ý. Để học sinh có nhiều ý để viết, tôi và học sinh chơi trò chơi hỏi đáp, thầy phỏng vấn, trò trả lời, từ những câu trả lời, các em có thể phát triển bài của mình”, thầy giáo nói.
“Sở dĩ phần viết văn của học sinh tiểu học là “tập làm văn”, tức là giai đoạn này, các con cần được “tập” làm, tập viết văn, chứ không phải học thuộc lòng bài văn mẫu, học thuộc lòng ý tưởng của người khác, như thế không thể phát triển tư duy lâu dài được”, thầy giáo tiểu học thẳng thắn.
Cô Nguyễn Mộng Tuyền, sáng lập Học viện ngôn từ, giáo viên dạy viết văn sáng tạo cho học sinh tiểu học cũng là người ôn luyện ngữ văn cho học sinh THCS, THPT, có dịp được quan sát nhiều thế hệ học sinh viết văn, sử dụng ngôn từ trong bài văn. Có một thực trạng mà cô Tuyền nhận thấy hiện nay là nhiều học sinh tiểu học học thuộc bài mẫu để ứng phó với các kỳ kiểm tra định kỳ, thậm chí, nhiều học sinh tiểu học đã rất “rành” dùng các công cụ AI như ChatGPT hoặc Gemini để gợi ý bài mẫu để làm theo.
Việc dùng AI khi đứng trước một đề văn lại càng phổ biến hơn với học sinh THCS, THPT. Đồng thời, câu đầu tiên mà nhiều học sinh thường hỏi cô giáo khi tiếp nhận đề văn là “có bài mẫu, bài tham khảo không cô ơi”.
Kết quả là nhiều bài văn được “sản xuất” ra na ná nhau. Nhiều bài có cách diễn đạt đọc là biết được viết bởi “máy”, tưởng là rất trôi chảy nhưng không có cảm xúc, thiếu đi trải nghiệm cá nhân. Nhiều bài lại đưa cả văn nói, câu thiếu chủ ngữ vị ngữ, thậm chí cả những từ thô tục vào bài viết, mà học sinh không hề ý thức được điều đó là không nên.
“Khi dạy viết văn, giáo viên cũng dạy học sinh cách tư duy, cách đặt câu hỏi, phản biện với vấn đề được đưa ra. Nhưng nếu học sinh khi đã quen với việc có bài mẫu, quen với việc viết văn cũng được học thuộc, được gợi ý, được mớm trước ý tưởng thì sinh ra việc lười suy nghĩ, thui chột ngôn từ, mất dần khả năng sáng tạo, mất dần khả năng đặt câu hỏi lật ngược vấn đề. Dần dần, việc học thuộc bài mẫu, học theo văn mẫu cũng khiến học sinh chán học văn”, cô Tuyền nói.
Trong khi, điều rất nguy hiểm là, ở những năm tháng tiểu học, học sinh cần giữ được sự tưởng tượng, ước mơ, sự sáng tạo bay bổng, nhìn thế giới bằng nhiều màu sắc. Thế nhưng, nếu tư duy của các bạn đã bị đóng khung trong cách diễn đạt, định hình ý tưởng của giáo viên, thì khi học sinh học lên THCS, THPT, muốn thay đổi lại cách dạy, cách học, định hình lại cho các bạn cách viết văn tư duy – lập luận khoa học cũng rất khó, mất rất nhiều thời gian.
Cô Nguyễn Mộng Tuyền cho rằng, cùng với sự nỗ lực đổi mới của giáo viên, phụ huynh cũng cần đồng hành cùng hành trình đọc – viết của con, từ tiểu học. Những hoạt động đọc sách cùng con được khuyến khích, trò chuyện cùng con trước một đề văn, xây dựng dàn bài, phát triển ý bằng các câu hỏi – đáp cùng con, từ đó gợi lại cho con những kỷ niệm, cảm xúc cá nhân trước đề bài được nêu tên, tham khảo cách diễn đạt hay từ thầy cô giáo, bạn bè, từ đó con có nhiều ý tưởng, cảm xúc có thể giúp con tự hoàn thành bài viết của mình…
Kiên định với tầm nhìn dài hạn và chủ trương đúng đắn, ngành giáo dục TP hôm nay đang bước vào giai đoạn tăng tốc và bước đầu đã gặt hái được những kết quả khả quan.
Tiết dạy môn khoa học ở lớp 5/4 Trường tiểu học Đống Đa (phường Tân Hòa, TP.HCM) của cô Nguyễn Thị Hòa vào ngày 22-4 thật đặc biệt. Phòng học không chỉ có tivi thông minh đã tích hợp AI mà trên bàn học của học sinh đã được trang bị sẵn máy tính, iPad cùng bảng con, bút màu, phiếu học tập...
Sau phần khởi động vui vẻ, học sinh háo hức bước vào bài học "Các giai đoạn phát triển của con người". Ngay ở hoạt động đầu tiên, các em đã rất thành thạo dùng iPad để quét mã QR, vào link Google AI studio để tham gia trò chơi tìm hiểu về bài học.
Tiếp theo đó, cô Hòa liên tục tổ chức các hoạt động có sử dụng công cụ số để học sinh thực hiện theo nhóm. Từng nhóm một di chuyển đến các góc, tìm hiểu tài liệu và ghi chép thông tin vào phiếu học tập cá nhân.
Các em đọc sách điện tử (flipbook) ở góc đọc, xem phim về đặc điểm nổi bật của giai đoạn tuổi ấu thơ ở góc xem phim, nối hình ảnh phù hợp qua trò chơi trực tuyến ở góc trải nghiệm, hỏi trợ lý ảo môn khoa học ở góc chuyên gia...
Cuối cùng, học sinh quay về bàn học của mình để thảo luận nhóm và thực hiện phiếu bài tập của nhóm mình rồi lên thuyết trình cho cả lớp nghe.
Trong suốt quá trình đó, cô Hòa thường xuyên tương tác với học sinh đồng thời tạo điều kiện để các học sinh tương tác với nhau, bởi như cô nói: "AI là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và học.
Các em học sinh rất hào hứng khi được sử dụng công cụ số trong quá trình học tập. Nhưng AI không thể làm thay công việc của giáo viên. Vì thế, người giáo viên không chỉ tổ chức, dẫn dắt các hoạt động mà cần sâu sát, quan tâm, kết nối trực tiếp với học sinh để giúp các em phát triển năng lực của mình".
Đó là một tiết dạy trong nhiều tiết dạy thể hiện sự chuyển đổi số mạnh mẽ trong các trường phổ thông ở TP.HCM hiện nay. Trong đó, việc ứng dụng AI, đưa AI vào chương trình giảng dạy cho học sinh không chỉ thực hiện ở các trường THCS, THPT mà nhiều trường tiểu học trên địa bàn TP.HCM cũng đã thực hiện từ năm học 2024 - 2025. Thế nên, học sinh tiểu học TP.HCM sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật số cũng là điều dễ hiểu.
Những năm gần đây, xã hội bắt đầu chú ý đến TP.HCM khi học sinh TP tám năm liền dẫn đầu cả nước về điểm trung bình môn tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT; 5 năm liên tục TP có học sinh đạt điểm toán cao nhất thế giới cấp tiểu học khi thi toán bằng tiếng Anh (do hội đồng khảo thí Pearson Edexcel, Anh Quốc tổ chức); số lượng học sinh đoạt giải cao trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia môn tiếng Anh tăng lên hằng năm...
Ngoài những con số biết nói ấy là thực tế nhiều học sinh phổ thông ở TP.HCM giao tiếp thành thạo bằng tiếng Anh, đặc biệt là trong các tình huống liên quan đến học thuật và khoa học.
Tuy nhiên, ít ai biết được rằng để có được thành quả như hôm nay TP.HCM đã có những bước đi táo bạo, bắt nguồn từ tầm nhìn xa của lãnh đạo TP cũng như lãnh đạo ngành GD-ĐT TP.
Năm 1998, trong khi chương trình giáo dục quốc gia mới chỉ dạy tiếng Anh cho học sinh bắt đầu từ lớp 6 thì TP.HCM đã tiên phong thí điểm dạy tiếng Anh cho học sinh bắt đầu từ lớp 1.
Năm 2014, Sở GD-ĐT TP tiếp tục tham mưu và được UBND TP phê duyệt cho triển khai đề án 5695 ở 18 trường phổ thông. Đây là chương trình dạy - học các môn toán, khoa học và tiếng Anh - tích hợp chương trình Anh và Việt Nam, bắt đầu cho học sinh lớp 1 (gọi tắt là chương trình tiếng Anh tích hợp).
Đến nay, TP.HCM đã có hơn 30.000 học sinh thuộc 160 trường phổ thông công lập theo học chương trình tiếng Anh theo đề án 5695. Riêng chương trình tăng cường tiếng Anh đã được nhân rộng đến hầu hết các trường tiểu học trên địa bàn TP.HCM (trước sáp nhập).
Không những thế, hiện tại TP có gần 70% trường mầm non đã tổ chức chương trình cho trẻ mẫu giáo làm quen với tiếng Anh từ 3 - 6 tuổi.
Từ thành quả trên, hiện TP.HCM đang xây dựng đề án "Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045". Đề án này được xem là "cú hích" không chỉ cho sự phát triển của ngành GD-ĐT TP. HCM mà còn tạo động lực, chia sẻ kinh nghiệm và làm hình mẫu cho các địa phương khác trên cả nước, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, một lãnh đạo Sở GD-ĐT TP.HCM cho hay dự kiến sở sẽ đề xuất với UBND TP về lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học gồm ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1 (2025 - 2030) là giai đoạn xây dựng nền tảng và chuẩn hóa, triển khai có trọng điểm. Đây là thời kỳ đặt nền móng vững chắc để tiếng Anh được sử dụng thường xuyên, tạo nhu cầu giao tiếp và thói quen sử dụng tiếng Anh trong trường học. Chuẩn hóa chương trình, đội ngũ, hạ tầng và xây dựng mô hình thí điểm chất lượng cao.
Giai đoạn 2 (2030 - 2040) sẽ mở rộng và tăng cường, hình thành hệ sinh thái tiếng Anh. Đây là thời gian mở rộng quy mô sử dụng tiếng Anh trong dạy học và hoạt động giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú trong hệ thống giáo dục.
Giai đoạn 3 (2040 - 2045) sẽ hoàn thiện và nâng cao, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong môi trường giáo dục tại TP.HCM. Giai đoạn này tiếng Anh được sử dụng một cách tự nhiên, phổ biến và trở thành một phần trong văn hóa học đường.
Ngày 21-4, lãnh đạo Trường tiểu học Hà Tông Mục (xã Tùng Lộc, Hà Tĩnh) xác nhận một bé gái học lớp 2 của nhà trường bị bạn đánh dẫn đến bầm tím người và tay.
Theo đó chiều 20-4, trong giờ ra chơi, bé gái lớp 2 tên T. đã bị bạn nam cùng lớp tên K. đánh dẫn đến bị thâm tím ở người và tay.
Theo lãnh đạo nhà trường, nguyên nhân là do bé gái T. hứa cho bạn nam kẹo nhưng không giữ lời. Sau đó nam sinh K. đã dùng thước nhựa dẻo đánh vào người và tay bạn nữ, khiến em bị thâm tím.
Thời điểm xảy ra sự việc tại lớp chỉ có 2 học sinh này, còn cô giáo chủ nhiệm không có tiết dạy nên nghỉ ở nhà.
Khi vào giờ học, các bạn học sinh phát hiện sự việc và đưa bé gái lên phòng Hiệu trưởng nhà trường. Lãnh đạo nhà trường sau đó gọi cho giáo viên chủ nhiệm, thông báo đến phụ huynh và đưa cháu đi khám kịp thời.
"Chúng tôi đã đưa cháu bé đến cơ sở y tế để chụp chiếu, bác sĩ kết luận cháu bị thương ngoài da. Sáng nay, nhà trường đã tổ chức họp với phụ huynh để thống nhất phương án chăm sóc sức khỏe cho cháu trong giai đoạn này" - vị lãnh đạo Trường tiểu học Hà Tông Mục cho hay.
Được biết sau sự việc, nhà trường nhận trách nhiệm và đã xin lỗi phụ huynh về sự việc đáng tiếc nói trên.
Thông tin trích trong báo cáo của Bộ Nội vụ Australia (DHA), công bố cuối tháng trước. Trong kỳ tháng 3, khoảng 6.900 visa du học được cấp, tỷ lệ đỗ khoảng 59%. Trong khi hơn 20 năm qua, con số phê duyệt đều duy trì trên 73%.
Đằng sau cú rơi thẳng đứng này có thể là một quy định "ngầm", theo một số chuyên gia.
Trung Quốc và một số thị trường Đông Nam Á trọng điểm như Việt Nam, Philippines, Indonesia ghi nhận tỷ lệ từ chối ở mức thấp, chỉ khoảng 4-15%. Trong khi đó, nhóm du học sinh từ Nam Á bị ảnh hưởng mạnh nhất. Cụ thể, tỷ lệ sinh viên Nepal được cấp visa chỉ 27%, Ấn Độ là 49%.
Các chuyên gia "hoang mang", cảm thấy khó hiểu vì cho rằng đây là tỷ lệ từ chối cao bất thường. Trên trang tin của tổ chức xếp hạng Times Higher Education, ông Phil Honeywood, Giám đốc điều hành Hiệp hội Giáo dục Quốc tế Australia (IEAA), đoán bộ phận di trú dường như đang áp dụng một chính sách từ hai năm trước gọi là "chỉ thị 106". Theo đó, cơ quan này tiến hành "đánh giá tài chính toàn diện" để xem ứng viên có đủ khả năng chi trả sinh hoạt phí cho toàn bộ thời gian học hay không, trong khi tiêu chí cốt lõi ban đầu chỉ yêu cầu ứng viên chứng minh đủ tiền cho một năm đầu tiên.
Jon Chew, Giám đốc của tổ chức giáo dục Navitas tại Australia, chỉ ra rằng trước đây khi tỷ lệ từ chối tăng vọt, DHA giải thích lý do là để sinh viên, đại lý và trường học kịp thời điều chỉnh. Tuy nhiên, các trường bối rối không biết tiêu chí lần này là gì.
Ông Chew cảnh báo việc này có thể làm chệch hướng mục tiêu thu hút nhân tài của Australia.
"Du học sinh không muốn bị ghi vết đen vào hồ sơ là bị từ chối visa của Australia, vì nó ảnh hưởng đến cơ hội xin visa vào Anh, Canada và các nước khác", ông lưu ý.
Từ hai năm nay, Australia liên tục siết quy định thị thực du học, nằm trong kế hoạch kiểm soát lượng người nhập cư của Australia, sau giai đoạn bùng nổ hậu Covid-19 với gần 1,1 triệu sinh viên quốc tế vào năm 2024.
Nhiều biện pháp được thực hiện như rút thời gian ở lại làm việc sau tốt nghiệp từ 4-6 năm xuống còn 2-3 năm, nâng yêu cầu tiếng Anh cùng mức chứng minh tài chính lên 29.710 AUD (564 triệu đồng), cao hơn 20% so với trước. Phí xin visa du học cũng tăng thành 2.000 AUD, thuộc diện cao nhất thế giới.
Năm 2025, hơn một triệu du học sinh đến Australia. Ngành học được ưa chuộng ở bậc đại học (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) là Quản lý và Thương mại, theo sau là Công nghệ thông tin.