Sau 4 năm xung đột Nga – Ukraine, Robin Radar, công ty Hà Lan chuyên sản xuất hệ thống radar phát hiện thiết bị bay không người lái (drone) được Ukraine và các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông sử dụng, đã nhận ra bài học rằng việc quá chú trọng vào tính hoàn hảo của vũ khí có thể khiến kho dự trữ bị thiếu hụt và không kịp đưa ra chiến trường.
Kristian Brost, tổng giám đốc Robin Radar chi nhánh tại Mỹ, nói rằng một giải pháp chưa hoàn hảo ở “ngay thời điểm hiện tại đôi khi vẫn tốt hơn một giải pháp hoàn hảo nhưng lại quá muộn”.
Đây cũng là điều mà ngày càng nhiều nhà sản xuất vũ khí cũng như quân đội phương Tây nhận ra nhờ chiến sự Ukraine. Mục tiêu của họ hiện tại không phải sở hữu một vũ khí hoàn hảo nữa, mà là nắm trong tay những hệ thống sẵn sàng được tung vào chiến trường ở quy mô lớn.
Bài học từ băng keo và dây thun
“Có rất nhiều điều chúng ta học hỏi được từ Ukraine, nơi mà đôi khi họ phải dùng cả băng keo và dây thun để xoay xở”, Brost nói. “Tôi nghĩ bản thân điều này đã là một bài học. Hãy dùng những gì hiệu quả và rẻ tiền”.
“Không nên từ bỏ các loại vũ khí tinh vi mà Mỹ vốn ưa chuộng, nhưng chúng ta phải thực tế hơn. Chỉ cần tạo ra những thứ dùng được và đưa ngay cho binh sĩ, huấn luyện họ sử dụng, vì một giải pháp dù chỉ đạt 80% yêu cầu vẫn tốt hơn là không có gì”, ông giải thích.
Nỗ lực chống drone, mảng hoạt động của Robin Radar, là một trong những lĩnh vực trọng yếu mà các đồng minh phương Tây đang học hỏi từ Ukraine. Họ giờ đây hiểu rằng cần tập trung vào các hệ thống rẻ hơn và có khả năng sản xuất hàng loạt, thay vì những khí tài tinh vi, đắt tiền, chỉ có thể xuất xưởng với số lượng nhỏ.
Chẳng hạn, Mỹ và các đồng minh đang ngày càng quan tâm đến những drone đánh chặn theo kiểu của Ukraine để đối phó với thiết bị bay đối phương, thay vì phụ thuộc vào những loại tên lửa phòng không đắt đỏ.
“Đây là lĩnh vực then chốt mà các công ty không nên chờ đợi đến lúc hoàn hảo”, Brost nói. “Đặc biệt là khi đối mặt với một trong những lỗ hổng lớn nhất của quốc phòng Mỹ hiện nay. Chúng ta cần đưa khí tài ra thực địa dù chưa hoàn thiện, bởi chính chúng ta cũng có thể rút ra bài học từ đó”.
Robin Radar vẫn sản xuất vũ khí hiện đại và hướng tới hiệu suất cao, nhưng cũng muốn có những hệ thống rẻ hơn, dễ nhân rộng và linh hoạt hơn so với khí tài truyền thống của phương Tây.
Brost cho rằng một số loại vũ khí phương Tây rất tuyệt vời, nhưng liệu chúng có trụ vững qua thời gian và có khả năng thích ứng linh hoạt hay không lại là câu chuyện khác.
Tốc độ hơn hoàn hảo
Ý kiến của ông cũng nhận được đồng tình từ các quan chức phương Tây và những công ty quốc phòng đang nghiên cứu về chiến trường Ukraine.
Tổng thư ký NATO Mark Rutte năm ngoái từng nhận định liên minh này đang đổi mới quá chậm chạp. “Một trong những vấn đề chúng ta gặp phải là cái tốt thường bị cái hoàn hảo cản trở. Chúng ta luôn yêu cầu mọi thứ phải thật hoàn hảo”, ông nói. “Nhưng chúng không cần phải hoàn hảo đến vậy”.
Rutte cho rằng liên minh phải học hỏi cách tiếp cận của Kiev. Theo ông, Ukraine sẵn sàng triển khai các khí tài chỉ đạt mức 6 hoặc 7 trên thang điểm 10, trong khi quân đội các nước trong liên minh luôn khăng khăng phải đạt mức 9 hoặc 10. Thời bình cho phép họ làm như vậy, nhưng giới lãnh đạo NATO đã cảnh báo hòa bình đang bị đe dọa.
“Tốc độ mới là yếu tố cốt lõi chứ không phải hoàn hảo”, Tổng thư ký NATO khẳng định, đồng thời cho biết liên minh cần tập trung vào cả tốc độ lẫn chất lượng nhưng ở mức vừa đủ.
Agris Kipurs, giám đốc điều hành (CEO) Origin Robotics, công ty sản xuất drone của Latvia có sản phẩm đang được sử dụng tại Ukraine, từng cho biết binh sĩ Ukraine không quan tâm công nghệ tiên tiến đến mức nào, họ chỉ cần các hệ thống hoạt động ổn định và có sẵn với số lượng lớn.
“Họ cần những thứ chỉ đơn giản là dùng được”, Kipurs nói. “Họ không bận tâm công nghệ nào tạo ra tính năng đó. Dù là mô hình AI, thuật toán thị giác máy tính hay đơn giản là một phi công giàu kinh nghiệm điều khiển hoàn toàn bằng tay, họ cũng không quan tâm”.
Theo ông, một số cơ chế khuyến khích dành cho các công ty phương Tây đang đi chệch hướng, khi họ thường ưu tiên khí tài tối tân hoặc hào nhoáng hơn là những thứ thực sự thiết thực ngay lúc này.
Công ty của ông cũng không sản xuất những loại khí tài thô sơ. Họ thậm chí còn ứng dụng các công nghệ như AI. Tuy nhiên, họ tập trung vào những hệ thống đơn giản và rẻ tiền hơn so với các loại vũ khí truyền thống như tên lửa.
Kuldar Vaarsi, CEO công ty robot Milrem Robotics của Estonia với các sản phẩm đang được sử dụng ở Ukraine, nói rằng cuộc xung đột Nga – Ukraine đã cho thấy “tính đơn giản” là chìa khóa để chế tạo vũ khí nhanh hơn với chi phí rẻ hơn.
“Công nghệ càng phức tạp thì càng dễ phát sinh vấn đề”, ông nói. “Trong xung đột, khí tài tin cậy mới là thứ cần thiết”.
Ukraine cũng đưa ra những cảnh báo tương tự. Serhiy Goncharov, giám đốc điều hành Hiệp hội các ngành Công nghiệp Quốc phòng Quốc gia Ukraine, đại diện cho khoảng 100 công ty trong nước, nhấn mạnh trong một cuộc xung đột kéo dài, việc phương Tây tập trung vào số lượng ít khí tài tối tân không phải hướng tiếp cận đúng đắn. Thay vào đó, cần số lượng lớn các loại vũ khí ở mức “dùng tốt”.
Ngành công nghiệp quốc phòng đang phát triển nhanh chóng của Ukraine có cách vận hành khác biệt so với phần lớn phương Tây. Hệ thống này gồm hàng loạt công ty, trong đó có nhiều cơ sở quy mô nhỏ sản xuất các sản phẩm được nâng cấp thần tốc, đôi khi chỉ tính bằng giờ hoặc bằng ngày, ngay sát chiến trường, dựa trên những góp ý trực tiếp từ binh sĩ.
Điều này giúp các công ty có thể bắt đầu với những thiết kế đơn giản rồi liên tục cập nhật dựa trên phản hồi từ những người sử dụng chúng trên chiến trường.
Lo ngại về tình hình an ninh, giới chức châu Âu đang thúc giục NATO tính toán lại cách thức mua sắm và phát triển vũ khí. Một trong những nhận thức quan trọng của họ là quân đội các nước phương Tây cần lượng lớn vũ khí giá rẻ và phải từ bỏ việc quá tập trung vào những hệ thống tối tân nhưng số lượng ít.
Các quan chức NATO cũng đã nêu lên vấn đề này, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Đan Mạch Troels Lund Poulsen. Ông từng nói rằng “một trong những bài học” từ Ukraine là phương Tây cần lượng lớn vũ khí giá rẻ.
Điều này không đồng nghĩa rằng phương Tây sẽ không còn cần những loại vũ khí tối tân vốn là thế mạnh của họ. Tuy nhiên, trong một cuộc chiến quy mô lớn và kéo dài, các hệ thống như vậy có nguy cơ bị cạn kiệt và mất nhiều thời gian để thay thế, Poulsen nói.
Theo Hãng tin Bloomberg ngày 11-5, quân đội Hàn Quốc đang tìm kiếm quan hệ đối tác chiến lược với Tập đoàn Hyundai Motor nhằm triển khai robot ra tiền tuyến - bước đi trong lộ trình đẩy mạnh đầu tư vào các hệ thống tự hành tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để giải quyết tình trạng thiếu hụt binh sĩ ngày càng trầm trọng.
Bộ Quốc phòng Hàn Quốc cho biết đang thảo luận với Tập đoàn Hyundai về việc thích ứng với những thay đổi của chiến trường và xây dựng lực lượng khoa học công nghệ cao.
Theo báo Korea Economic Daily, quân đội nước này đang xem xét sử dụng máy móc cho các vai trò phi chiến đấu như giám sát, trinh sát và hỗ trợ hậu cần.
Các thiết bị tiềm năng có thể được triển khai gồm robot bốn chân Spot của Boston Dynamics, robot di động bốn bánh MobED và khung xương trợ lực X-ble Shoulder.
Động thái này diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng nhân khẩu học tại nền kinh tế lớn thứ tư châu Á đang đe dọa làm suy yếu lực lượng quân thường trực, trong khi Triều Tiên không ngừng gia tăng các mối đe dọa hạt nhân và tên lửa.
Lực lượng quân thường trực của Hàn Quốc đã giảm 20% trong sáu năm qua, hiện còn khoảng 450.000 quân do tỉ lệ sinh xuống mức thấp kỷ lục. Bộ Quốc phòng dự báo con số này sẽ tiếp tục giảm sâu xuống còn 350.000 quân vào năm 2040.
Seoul đang nỗ lực tái định nghĩa hoạt động tác chiến tương lai, chuyển đổi từ cấu trúc thâm dụng nhân lực sang mô hình lấy công nghệ làm trung tâm.
Đối với Tập đoàn Hyundai, một hợp đồng quân sự có thể đánh dấu cột mốc quan trọng trong chiến lược thúc đẩy mảng robot của tập đoàn.
Theo bà Esther Yim - chuyên gia phân tích tại công ty chứng khoán thuộc Tập đoàn Samsung, việc triển khai robot Spot đến khu vực phi quân sự trên bán đảo Triều Tiên sẽ khẳng định tính linh hoạt của công nghệ này ngoài phạm vi thương mại và công nghiệp. Đây là thiết bị từng được sử dụng để tuần tra tại khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago của Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Bà Yim nhận định trong một báo cáo: "Robot là lĩnh vực không bị ràng buộc bởi các yếu tố truyền thống. Chúng có thể tận dụng các công nghệ điện và điện tử được thiết lập trong xe tự hành, qua đó đẩy nhanh việc triển khai diện rộng".
"Chúng tôi hoàn toàn không còn dầu mazut và dầu diesel. Chúng tôi không có nguồn dự trữ", Bộ trưởng Năng lượng Cuba Vicente de la O Levy cho biết hôm 13/5, thêm rằng lưới điện quốc gia đang trong tình trạng "nguy cấp".
Các nhà máy nhiệt điện tại Cuba vận hành bằng dầu mazut và dầu diesel.
Bộ trưởng O Levy cho biết tính từ tháng 12/2025, Cuba đã trải qua gần 4 tháng không được chuyển giao nhiên liệu. "Không có tàu chở nhiên liệu nào cập cảng cho đến khi lô hàng viện trợ gồm khoảng 100.000 tấn dầu thô của Nga tới", ông nói.
Granma, cơ quan ngôn luận của Trung ương đảng Cộng sản Cuba, nói rằng lô hàng giúp giảm bớt phần nào tình trạng khó khăn trong vài tuần. Số dầu thô được xử lý tại nhà máy lọc dầu Cienfuegos, tạo ra sản phẩm phục vụ cho quá trình phát điện.
Dù vậy, lượng dầu chỉ đủ dùng trong một phần tháng 4 và vài ngày trong tháng 5. Số nhiên liệu này đã cạn kiệt, khiến Cuba một lần nữa phải đối mặt với tình hình cực kỳ khó khăn. Tình trạng càng trầm trọng hơn do nhiệt độ tăng cao và nhu cầu sử dụng điện lớn hơn khi mùa hè bắt đầu.
Quan chức Cuba nói rằng tình trạng mất điện đã gia tăng trên khắp thủ đô Havana trong hai tuần qua, khiến nhiều khu dân cư phải sống trong tình trạng không có ánh sáng gần như cả ngày.
Lưới điện quốc gia Cuba đang vận hành hoàn toàn bằng dầu thô nội địa, khí đốt tự nhiên và năng lượng tái tạo. Bộ trưởng O Levy cho biết Cuba đã lắp đặt 1.300 MW điện Mặt Trời trong hai năm qua, song phần lớn công suất bị thất thoát do sự thiếu ổn định của lưới điện giữa lúc thiếu hụt nhiên liệu, làm giảm hiệu suất và sản lượng.
Cuba đang tiếp tục đàm phán để nhập khẩu nhiên liệu dù bị áp đặt phong tỏa về năng lượng, song giá dầu và chi phí vận chuyển tăng cao do xung đột Trung Đông đang khiến nỗ lực này trở nên khó khăn hơn. "Cuba chào đón bất kỳ ai muốn bán nhiên liệu", ông O Levy cho hay.
Venezuela và Mexico, từng là hai nhà cung cấp dầu hàng đầu cho Cuba, đã không chuyển nhiên liệu cho quốc đảo này kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump hồi tháng 1 đe dọa áp thuế đối với mọi quốc gia làm điều đó.
Nhà Trắng hồi tháng 4 cho biết tuần duyên Mỹ không chặn tàu dầu Nga đến Cuba nhằm phục vụ nhu cầu nhân đạo của người dân, thêm rằng những quyết định như vậy được đưa ra dựa trên từng trường hợp cụ thể. Điện Kremlin nói đã thảo luận trước với Mỹ về hoạt động vận chuyển dầu tới Cuba.
Liên Hợp Quốc tuần trước gọi lệnh phong tỏa nhiên liệu của Mỹ với Cuba là "bất hợp pháp", cản trở "quyền phát triển của người dân Cuba và làm suy yếu quyền về lương thực, giáo dục, y tế, nước và vệ sinh".
Đài NPR ngày 15.5 đưa tin một bồi thẩm đoàn tại Chicago (bang Illinois, Mỹ) vừa phán quyết Boeing phải bồi thường 49,5 triệu USD cho gia đình một phụ nữ trẻ thiệt mạng trong vụ rơi máy bay Boeing 737 MAX ở Ethiopia năm 2019.
Phán quyết này giải quyết một trong những vụ kiện cuối cùng liên quan hai vụ tai nạn chết người khiến tổng cộng 346 người thiệt mạng, xảy ra chỉ cách nhau vài tháng.
Cô Samya Stumo qua đời ở tuổi 24 trong vụ rơi máy bay Boeing 737 MAX thứ hai.
"Con gái chúng tôi lên máy bay với lòng tin tuyệt đối. Cô ấy đang thực hiện nhiệm vụ đầu tiên ở Đông Phi cho một tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Cô ấy không bao giờ nghĩ rằng sẽ có bất kỳ vấn đề nào với chính chiếc máy bay, và rồi đã xảy ra một vấn đề nghiêm trọng", theo lời mẹ cô là bà Nadia Milleron.
Boeing đã thừa nhận trách nhiệm về vụ tai nạn, vì vậy phiên tòa chỉ xoay quanh việc hãng phải trả bao nhiêu tiền bồi thường thiệt hại.
"Chúng tôi vô cùng lấy làm tiếc cho tất cả những người đã mất người thân trên chuyến bay 610 của Lion Air và chuyến bay 302 của Ethiopian Airlines", Boeing cho biết trong thông cáo.
"Dù chúng tôi đã giải quyết gần như tất cả các vụ việc này thông qua các thỏa thuận dàn xếp, nhưng các gia đình vẫn có quyền theo đuổi vụ kiện thông qua thủ tục tòa án, và chúng tôi tôn trọng quyền đó của họ", theo thông cáo.
Boeing đã đạt được thỏa thuận với Bộ Tư pháp Mỹ để tránh bị truy tố hình sự. Hãng cũng đồng ý dàn xếp kín trong hàng chục vụ kiện của các thành viên gia đình các nạn nhân vụ tai nạn. Tuy nhiên, một vài vụ đã được đưa ra xét xử.
"Chúng tôi rất vui mừng vì có cơ hội được xét xử vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại", các luật sư Shanin Specter và Elizabeth Crawford của hãng luật Kline & Specter, đại diện cho gia đình cô Stumo, cho biết.
Theo các luật sư, bồi thẩm đoàn đã phán quyết gia đình nạn nhân được bồi thường 21 triệu USD cho những tổn thất mà cô Stumo phải gánh chịu trên chuyến bay định mệnh, 16,5 triệu USD cho những tổn thất mà gia đình cô phải gánh chịu và 12 triệu USD cho nỗi đau buồn của gia đình.
Vào tháng 11, một bồi thẩm đoàn khác đã phán quyết bồi thường hơn 28 triệu USD cho gia đình của cô Shikha Garg, một nhân viên môi trường của Liên Hiệp Quốc cũng thiệt mạng trong vụ rơi máy bay Boeing 737 MAX năm 2019.