Theo Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (Bộ Công Thương), những năm gần đây, ngành bán hàng đa cấp tại Việt Nam đang dần đi vào ổn định sau quá trình sàng lọc các doanh nghiệp yếu kém. Hết tháng 4, Việt Nam có 15 doanh nghiệp có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp đang hoạt động, giảm 4 đơn vị so với năm 2024.
Tổng số lượng người tham gia bán hàng đa cấp đạt 652.184 người, giảm khoảng 6% so với năm 2024. Tổng doanh thu ngành bán hàng đa cấp năm 2025 đạt khoảng 15.096 tỷ đồng, giảm khoảng 6% so với năm 2024. Cơ quan quản lý đánh giá xu hướng giảm doanh thu của toàn ngành đã diễn ra liên tục từ năm 2022 đến nay. Số thuế các doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã nộp vào ngân sách nhà nước năm 2025 đạt hơn 2.306 tỷ đồng.
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cho biết doanh thu của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp vẫn chủ yếu đến từ nhóm sản phẩm thực phẩm chức năng, chiếm khoảng 87,7% tổng doanh thu; từ mỹ phẩm chiếm khoảng 4,7%; từ các mặt hàng như đồ gia dụng, quần áo thời trang, thiết bị và sản phẩm khác chiếm khoảng 7,6%.
Mức hoa hồng và tiền thưởng bình quân mà mỗi người tham gia có hoạt động bán hàng nhận được trong năm 2025 khoảng 11,42 triệu đồng/người, tương đương 9% thu nhập bình quân đầu người của cả nước trong năm 2025.
Trong năm 2025, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cho biết đã rà soát, thu thập thông tin và chuyển 9 trường hợp có dấu hiệu tội phạm liên quan đến hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp đến các cơ quan công an; phối hợp với cơ quan công an nhiều địa phương trong việc cung cấp thông tin và xác minh mô hình có dấu hiệu kinh doanh đa cấp đối với 41 trường hợp.
Nhiều vụ việc đã được cơ quan chức năng đã khởi tố liên quan đến các tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp; tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (có sử dụng phương thức kinh doanh đa cấp) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tin Gốc: Dân Trí

Liên quan đến nhiệm vụ này, hầu hết các doanh nghiệp, người dân đều cho rằng việc cắt giảm đã được làm quyết liệt trong các nhiệm kỳ vừa qua nhưng đến nay vẫn tồn tại nhiều thủ tục, điều kiện kinh doanh gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thậm chí các chuyên gia còn cho rằng việc cắt giảm có nơi chưa đi vào thực chất và lần này cần phải khắc phục.
Ông Phạm Đức Toản, Tổng giám đốc Công ty CP bất động sản EZ, cho rằng trong lĩnh vực xây dựng, đầu tư, kinh doanh bất động sản, dù khung pháp lý khá thông thoáng, nhưng khi đi vào từng quy định cụ thể, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian.
Một dự án xây dựng tòa nhà chung cư, chủ đầu tư phải qua nhiều lần xin ý kiến các sở ngành liên quan. Chẳng hạn, trước khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, doanh nghiệp phải xin ý kiến các sở ngành về sự phù hợp quy hoạch, đến khi được phê duyệt quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 lại phải xin ý kiến một lần nữa.
Ngoài ra, trước khi khởi công xây dựng, doanh nghiệp phải trình cấp thẩm quyền thẩm định phương án PCCC tòa nhà. Và sau khi hoàn thành, doanh nghiệp lại phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu phương án PCCC tòa nhà trước khi đưa vào sử dụng.
Cũng theo ông Toản, dù nghị quyết 201/2025/QH15 của Quốc hội cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội theo hướng rút ngắn thủ tục đầu tư dự án nhà ở xã hội, nhưng theo quy trình này thì thời gian phê duyệt thủ tục đầu tư một dự án trung bình cũng mất khoảng 9 tháng.
Nếu phát sinh vướng mắc, thời gian phê duyệt dự án càng bị kéo dài hơn. Thực tế tại Hà Nội, nhiều dự án nhà ở xã hội dù được phê duyệt chủ đầu tư nhưng lại vướng chỉ tiêu dân số nên phải chờ xin ý kiến các sở ngành để điều chỉnh, tăng chỉ tiêu về mật độ dân số trước khi xây dựng.
Đối với các dự án nhà ở thương mại, dù Quốc hội đã ban hành nghị quyết 171/2024/QH15 cho phép thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất. Nhưng trên thực tế, khi chủ đầu tư mua được đất lại phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch các khu đất trước khi xây dựng.
Và để có được quy hoạch xây dựng nhà ở trên đất đã nhận chuyển nhượng, doanh nghiệp phải thực hiện hàng loạt các thủ tục liên quan. "Có thể thấy trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, quy định bên trên đã mở, thông thoáng giống như chúng ta mở cửa chính của một ngôi nhà, nhưng để sử dụng được phải tiếp tục mở khóa cửa từng phòng", ông Toản ví von.
Còn theo đại diện một doanh nghiệp bất động sản tại Hà Nội, thủ tục cấp phép xây dựng các dự án nhà ở, khu đô thị hiện nay nhanh chậm với tùy từng trường hợp. Đối với các chủ đầu tư lớn, thực hiện các siêu dự án như trục cảnh quan sông Hồng, khu đô thị Olympic..., thành phố cho áp dụng cơ chế đặc biệt trong cấp phép đầu tư và giải phóng mặt bằng.
Do vậy, các thủ tục liên quan tới dự án được thực hiện đồng thời cùng lúc nên chỉ sau khoảng 3 - 4 tháng, chủ đầu tư dự án đã có mặt bằng sạch để xây dựng. Tuy nhiên, cũng có những dự án mắc kẹt nhiều năm chưa thể xây dựng vì vướng đủ thứ.
Trong kiến nghị gửi tới Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới đây, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) đã nêu ra hàng loạt vướng mắc, khó khăn về thủ tục hành chính mà các doanh nghiệp thủy sản đang gặp phải. Cụ thể, trong lĩnh vực kiểm dịch, an toàn thực phẩm, Vasep cho rằng quy định bắt buộc doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN) đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý tập trung của KCN là quy trình "xử lý kép" bất hợp lý.
Theo đó, doanh nghiệp tự xử lý đạt cột B, sau đó đưa vào hệ thống nước thải của KCN để xử lý tiếp lên cột A, khiến tổng chi phí bị đội lên rất cao từ 18.500 - 28.000 đồng/m3, trong khi nếu doanh nghiệp tự đầu tư xử lý đạt chuẩn cột A từ đầu, chi phí chỉ từ 5.500 - 10.500 đồng/m³, giúp tiết kiệm 13.000 - 17.500 đồng/m³, tương đương hàng trăm tỉ đồng/năm cho toàn ngành.
Vì thế, Vasep kiến nghị Quốc hội xem xét sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 và nghị định 08/2022 theo hướng cho phép doanh nghiệp thủy sản trong KCN được miễn trừ đấu nối hệ thống tập trung nếu tự đầu tư, vận hành hệ thống xử lý riêng đạt chuẩn cột A trước khi xả thải.
Vasep cũng nêu những bất cập trong hướng dẫn về mức thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản. Theo đó, cùng một sản phẩm phế liệu (đến từ hai dây chuyền sản xuất, dây chuyền sản xuất sản phẩm sơ chế và dây chuyền sản xuất sản phẩm có gia nhiệt), bán cho cùng một khách hàng tại cùng một thời điểm nhưng lại có hai thuế suất VAT khác nhau.
Vì vậy, hiệp hội đề nghị Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn cho tất cả các chi cục thuế địa phương và các doanh nghiệp để các loại phế liệu, phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản (dù của mặt hàng sơ chế hay chế biến) nhưng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường thì không phải kê khai, tính nộp thuế VAT ở khâu kinh doanh thương mại.
Ngoài ra, Vasep cũng cho rằng đang có bất cập về thuế suất thuế VAT cho sản phẩm thủy sản đông lạnh do quan điểm không thống nhất giữa Bộ Tài chính và Cục Thuế về thuế suất VAT với sản phẩm thủy sản đông lạnh.
Vasep đề nghị Bộ Tài chính và Cục Thuế sớm có văn bản hướng dẫn thống nhất, rõ ràng gửi tới các Cục Thuế địa phương và doanh nghiệp, theo hướng ưu đãi thuế TNDN thực hiện theo công văn 2550/BTC-TCT, áp dụng cho sản phẩm được xác định là "chế biến" theo quy định.
Việc áp dụng thuế VAT phải thực hiện đúng theo thông tư 219 của Bộ Tài chính, không mặc định rằng nếu sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì phải chịu thuế VAT 10%. Nếu sản phẩm đông lạnh chưa qua chế biến sâu, chỉ sơ chế như rửa, cấp đông, cắt khúc... cần được xác định là không chịu thuế VAT như trước nay vẫn áp dụng.
"Việc hướng dẫn cần mang tính thống nhất, áp dụng đồng bộ trên toàn quốc để tránh tình trạng mỗi địa phương hiểu và thực hiện khác nhau, làm tăng gánh nặng và rủi ro cho doanh nghiệp", đại diện hiệp hội này kiến nghị.
Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, cho biết còn nhiều quy định chưa phù hợp trong ngành sản xuất chăn nuôi và thực phẩm, dù đã có sửa đổi trong quy định để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Cụ thể, theo ông Dương, sau khi Quốc hội thông qua việc sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, hàng hóa sẽ được phân loại mức độ rủi ro để quản lý. Vấn đề đặt ra là phân loại ra sao, phương pháp quản lý thế nào để vừa tạo điều kiện môi trường tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa có không gian cho cơ quan quản lý kiểm soát sản phẩm đảm bảo an toàn, doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh.
Như với ngành chăn nuôi, một sản phẩm thức ăn chăn nuôi bao gồm nguyên liệu thông thường như ngô, đậu tương, đậu nành... không có rủi ro cao, nhưng có những thức ăn bổ sung như kim loại, lại có yếu tố rủi ro cao hơn, nên cần phân loại sao cho phù hợp. Hay nhiều mặt hàng khác như phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật... phân loại vào nhóm nào?...
Theo ông Dương, trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, các bộ cần dũng cảm bỏ bớt công việc, chỉ thực hiện chức năng kiến tạo và thiết kế chính sách để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương thực hiện. Cũng với đó, phải tăng cường hậu kiểm theo hướng kiểm soát rủi ro, kiểm soát mối nguy, tăng cường vai trò tự chịu trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh, thay vì thắt chặt quản lý.
Bởi muốn tăng trưởng hai con số, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, cần phải nâng cao sức sản xuất, giải phóng tiềm năng sản xuất đang còn nằm trong dân, doanh nghiệp. "Do đó, phải tập trung cải cách thể chế, thủ tục và điều kiện kinh doanh. Mạnh dạn cắt giảm những điều kiện kinh doanh không cần thiết, không đảm bảo tính khả thi trong thực hiện", ông Dương nói.
Ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên, cho rằng việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh đã được làm quyết liệt trong nhiệm kỳ vừa rồi, song vẫn được Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ này quan tâm và ưu tiên ngay, cho thấy đây vẫn đang là vấn đề cấp bách, cần tiếp tục được tháo gỡ. Nếu giảm được các thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa rất lớn và cần thiết trong bối cảnh khó khăn hiện nay.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Diễn đàn The Innovation Insiders #3 với chủ đề "Đổi mới cách doanh nghiệp thực sự vận hành cho cuộc chơi kế tiếp" sắp diễn ra tại TP.HCM, sẽ có sự tham gia của hàng trăm lãnh đạo từ các doanh nghiệp trên cả nước.
Các CEO (giám đốc điều hành), COO (giám đốc vận hành), CFO (giám đốc tài chính), CHRO (giám đốc nhân sự) và trưởng các bộ phận vận hành, hành chính… sẽ cùng nhau mổ xẻ những điểm “ma sát” vận hành thực sự đang bào mòn doanh nghiệp mỗi ngày, và cùng nhau tiếp cận những giải pháp vận hành thông minh.
Thay vì tập trung vào những lý thuyết xa rời thực tiễn, diễn đàn hướng tới việc giải quyết các thách thức vận hành hằng ngày mà doanh nghiệp đang đối mặt.
Đây là sự chuyển dịch quan trọng từ tư duy "làm nhiều hơn" sang tư duy "vận hành tốt hơn" - nơi mà sự kỷ luật, hiệu quả và khả năng thích ứng nhanh trở thành nguồn lợi thế cạnh tranh then chốt cho "cuộc chơi kế tiếp".
Một số doanh nghiệp nổi tiếng trên thế giới và Việt Nam sẽ tham gia diễn đàn như: Grab For Business, Salesforce, Meta, Zalo, Sổ Bán Hàng.... được kỳ vọng mang đến những góc nhìn thực chiến về việc ứng dụng công nghệ và các nền tảng tích hợp để tối ưu hóa nguồn lực phù hợp với nhiều quy mô của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là SMEs.
Đặc biệt có sự tham gia chia sẻ của bà Nguyễn Phi Vân - Chủ tịch Go Global Holdings, chuyên gia uy tín hàng đầu trong lĩnh vực nhượng quyền và bán lẻ toàn cầu, cuộc đối thoại giữa các "ông lớn" công nghệ, giúp bóc tách những bài học cốt lõi và chuyển hóa những chiến lược quy mô khu vực thành các giải pháp thực tiễn cho doanh nghiệp Việt Nam.
Nhận xét về diễn đàn, bà Trương Lý Hoàng Phi - Chủ tịch kiêm CEO Liên minh Đổi mới sáng tạo quốc tế InnoEx & IBP; Phó chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ TP.HCM - cho rằng: “The Innovation Insiders #3 không chỉ là một diễn đàn, mà là 'cú hích' để các nhà lãnh đạo thực hiện cuộc cải tổ quyết liệt: tái cấu trúc nhân sự, thắt chặt tuân thủ và chuyển dịch nguồn lực sang các hoạt động tạo giá trị cao hơn để không bị đào thải trong cuộc chơi 2026".
The Innovation Insiders #3 sẽ do Liên minh Đổi mới sáng tạo quốc tế phối hợp cùng Grab For Business tổ chức, sẽ diễn ra vào ngày 22-4, tại TP.HCM.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tính đến nay Việt Nam đã tham gia khoảng 20 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 16 FTA đã được thực thi trong thời gian dài.
Các FTA thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) hay EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu) mở ra cơ hội lớn khi nhiều thị trường áp thuế nhập khẩu gạo ở mức 0% hoặc rất thấp.
Tuy nhiên thực tế cho thấy xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống trong khu vực như Philippines và Indonesia - những quốc gia áp thuế nhập khẩu khá cao - lần lượt khoảng 35% và 25%.
Đáng chú ý trong khuôn khổ RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực), Philippines không tự do hóa ngành gạo, còn Indonesia vẫn duy trì mức thuế cao. Dù vậy hai thị trường này có thời điểm chiếm tới 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Trong khi đó các thị trường thuộc CPTPP như Canada áp thuế 0% đối với gạo Việt Nam, Mexico áp 10% với gạo và 0% đối với sản phẩm từ gạo. Đặc biệt theo EVFTA, Liên minh châu Âu dành hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm được miễn thuế, nhưng Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết cơ hội này.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên thị trường dễ tiếp cận như Philippines, Indonesia do khoảng cách địa lý gần, thủ tục đơn giản. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và doanh nghiệp, nguyên nhân không chỉ dừng lại ở việc "chọn dễ".
Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ) - cho rằng doanh nghiệp không phải không muốn vào các thị trường FTA, mà chủ yếu do thiếu đơn hàng và gặp nhiều rào cản kỹ thuật.
Theo ông Bình, các thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản yêu cầu quy trình sản xuất chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và chất lượng ổn định. Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này, nên thường lựa chọn thị trường truyền thống có điều kiện nhập khẩu dễ hơn.
"Bên cạnh đó ngành lúa gạo Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất phân tán, thiếu liên kết chuỗi. Việc đầu tư cho thương hiệu, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, khiến khả năng tiếp cận các thị trường cao cấp chưa tương xứng với tiềm năng", một doanh nghiệp ngành lúa gạo thừa nhận.
Dù dễ tiếp cận, các thị trường truyền thống lại tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá. Theo ghi nhận, đã có thời điểm doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lỗ khi xuất khẩu gạo sang Philippines do biến động thị trường.
Lãnh đạo một doanh nghiệp xuất khẩu gạo thừa nhận nhu cầu từ Philippines và Indonesia là "nhu cầu thực", giúp doanh nghiệp dễ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên việc lựa chọn thị trường này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận biên lợi nhuận thấp, thậm chí rủi ro thua lỗ, trong khi áp lực về giá thường chuyển sang người nông dân.
"Ngoài ra chi phí logistics, giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sang các thị trường đòi hỏi đầu tư lớn về tiêu chuẩn và quy trình sản xuất", vị này nói.
Một lãnh đạo Tập đoàn Tân Long cũng cho biết hoạt động xuất khẩu gạo vẫn diễn ra bình thường, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thuế nhập khẩu tại các thị trường. Theo vị này, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện FOB (giao hàng lên tàu), nên trách nhiệm về thuế và thủ tục nhập khẩu thuộc về đối tác nước ngoài. Do đó doanh nghiệp không trực tiếp nắm rõ mức thuế tại từng thị trường, mà chủ yếu sản xuất và bán hàng theo nhu cầu của khách hàng.
"Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay vẫn mang tính "theo đơn hàng", phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường, thay vì chủ động định hướng chiến lược khai thác các thị trường FTA", vị này thừa nhận.
Các chuyên gia cho rằng để tận dụng hiệu quả các FTA, ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển đổi mạnh sang sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong việc khai thác các ưu đãi từ FTA trong bối cảnh nhu cầu gạo thế giới vẫn ở mức cao, cơ hội mở rộng thị trường vẫn còn lớn. "Nếu không thay đổi cách tiếp cận, ngành gạo Việt Nam có thể tiếp tục phụ thuộc vào các thị trường "dễ tính", với giá trị gia tăng thấp và rủi ro cao", một chuyên gia khuyến cáo.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

