Tuy nhiên theo các chuyên gia, cần phải hiểu IELTS là một định hướng dài hạn để xây nền tiếng Anh học thuật chứ không nên chỉ học IELTS khi cần thi lấy chứng chỉ, đạt điểm số cho “bằng bạn bằng bè”.
Chia sẻ tại buổi tư vấn trực tuyến chủ đề Học IELTS thế nào chuẩn bị cho các kỳ thi lớn? của Báo Thanh Niên diễn ra hôm 5.5, tiến sĩ (TS) Đỗ Hữu Nguyên Lộc, Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy tiếng Anh TP.HCM (TESOL TP.HCM), cho biết theo quy chế tuyển sinh 2026 của Bộ GD-ĐT thì thí sinh có chứng chỉ IELTS được chọn một trong 2 hình thức: hoặc quy đổi điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển, hoặc được cộng điểm. Với quy định của Bộ GD-ĐT thì IELTS không thể là tấm vé “2 trong 1”, vừa được quy đổi điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển vừa được cộng điểm nữa. Đồng thời, thí sinh cũng có thể sử dụng chứng chỉ IELTS, tùy mức điểm, để xét học bổng khi trúng tuyển đầu vào ĐH, hay sử dụng khi du học. Nhưng không phải vì những ích lợi của tấm vé IELTS, mà phụ huynh, học sinh (HS) ngộ nhận về việc học tiếng Anh, ngộ nhận về IELTS.
TS Lộc cho rằng một trong những hiểu lầm phổ biến hiện nay là phụ huynh thường nhìn việc học tiếng Anh của trẻ tiểu học bằng tiêu chuẩn của người lớn: xem học tiếng Anh để thi sao cho đạt IELTS 7.0 hay 8.0; trẻ muốn học giỏi tiếng Anh là phải học nhiều ngữ pháp, làm nhiều bài tập, hoặc luyện thi chứng chỉ càng sớm càng tốt; hoặc nghĩ rằng trẻ phải phát âm giống người bản xứ mới được xem là giỏi; hay học với giáo viên (GV) nước ngoài thì hiệu quả hơn… Nhưng ở lứa tuổi tiểu học, điều quan trọng hơn là trẻ được tiếp xúc với tiếng Anh một cách tự nhiên, nghe, nói nhiều, bắt chước, tương tác, chơi trò chơi, sử dụng ngôn ngữ trong tình huống quen thuộc. Đặc biệt với trẻ em, yếu tố quan trọng là GV có hiểu tâm lý lứa tuổi, biết tổ chức hoạt động, biết điều chỉnh ngôn ngữ và biết giúp trẻ tiến bộ từng bước. Đó là lý do không phải ai có điểm IELTS cao cũng dạy được tiếng Anh, đặc biệt là dạy cho trẻ em.
Nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL IELTS Đình Lực, cho biết nếu nghĩ chỉ học tiếng Anh 1 – 2 năm là đạt được điểm IELTS mơ ước thì không khả thi; nhất là khi vào bậc THPT, HS vừa có quá nhiều môn học, kỳ thi để lo lắng, trong khi nếu học IELTS sớm, HS được bồi đắp vốn kiến thức, vốn tiếng Anh học thuật, xây dựng tư duy của mình, chứ không phải với tâm thế “học để thi”.
Hơn nữa, lứa tuổi tiểu học là giai đoạn vàng để HS học nghe, nói tiếng Anh, bồi đắp tư duy, phát triển kiến thức. Do đó, nên trả IELTS về đúng vị trí của nó – học để các em phát triển ngôn ngữ và tư duy, kết nối với thế giới – không phải là một đường đua điểm số.
TS Đỗ Hữu Nguyên Lộc nhìn nhận: “Nếu học IELTS ở tiểu học bằng cách cho các em luyện đề thật, học mẹo làm bài, viết bài nghị luận học thuật, hoặc chạy theo mức điểm từ quá sớm, điều này có thể quá sức và chưa phù hợp. HS tiểu học chưa có nhu cầu thực tế phải thi IELTS ngay. Quan trọng hơn, các em đang trong giai đoạn hình thành ngôn ngữ, tư duy, cảm xúc học tập và sự tự tin. Nếu đưa áp lực thi cử vào quá sớm, trẻ có thể học một cách máy móc, thậm chí mất hứng thú với tiếng Anh”.
Ông Lộc nói thêm: “Nếu IELTS được hiểu là một định hướng dài hạn để xây nền tiếng Anh học thuật, thì câu chuyện sẽ khác. Ở cấp tiểu học, các em hoàn toàn có thể làm quen với những năng lực nền tảng mà sau này IELTS cần: nghe hiểu ý chính, mô tả tranh, kể chuyện, so sánh, đưa ra lý do đơn giản, đọc văn bản phù hợp với lứa tuổi, viết câu và đoạn ngắn rõ ràng. Vấn đề không nằm ở chữ IELTS mà nằm ở cách chương trình được thiết kế”.
Nghiên cứu sinh Như Quỳnh cũng cho hay hiện nay nhiều HS tiểu học đã học các chương trình Starter, Mover, Flyer; nhiều em mới lớp 2, lớp 3 đã hoàn thành Flyers, có nền tảng tiếng Anh khá vững. Sau khi hoàn thành các cấp độ trên, HS thường đã có vốn từ vựng, ngữ pháp và mẫu câu giao tiếp đủ tốt để miêu tả những điều quen thuộc xung quanh mình, cũng như giao tiếp cơ bản trong các tình huống đời thường. Vì vậy, khi chuyển lên IELTS ở bậc THCS, các em không bắt đầu từ con số 0, mà đã có một bước đệm tốt về ngôn ngữ.
Thạc sĩ Đỗ Thị Ngọc Anh, giảng viên tại DOL IELTS Đình Lực, cho rằng hoàn toàn khả thi nếu một HS tiểu học đạt được 7.0 IELTS, nếu em đó có phương pháp học tập, lộ trình phù hợp. Ví dụ, HS được học Starters từ lớp 1, Movers ở lớp 2, Flyers ở lớp 3, sau đó chuyển sang IELTS THCS trong giai đoạn lớp 4, lớp 5 và lớp 6. Khi lên lớp 7 hoặc lớp 8, các em có thể bắt đầu học IELTS theo hướng chuyên sâu hơn. “Còn lại nếu chỉ học IELTS bằng cách học tủ, học mẹo, luyện đề, học tập nhồi nhét để lấy điểm số thì điều này vừa áp lực, vừa không khả thi với HS tiểu học, THCS”, thạc sĩ Ngọc Anh nói.
Phạm Vũ Thiên Di, lớp 6 Trường THCS – THPT Trần Đại Nghĩa, TP.HCM, đang học IELTS tại DOL English. Di cho biết lý do học IELTS sớm: “Con thấy giỏi tiếng Anh thì nghe được nhiều loại nhạc, xem nhiều loại phim và đọc được nhiều sách, tìm hiểu được nhiều nền văn hóa. Con cũng thích đi du lịch, du học và mọi thứ sẽ dễ dàng hơn nếu mình giỏi ngoại ngữ từ sớm. Nên con nghĩ cái gì mình có cơ hội chinh phục trước thì mình tập trung học giỏi để từ đó có nền tảng chinh phục, cải thiện các kỹ năng khác. Con thấy việc học vui vẻ, không áp lực”. Mỗi ngày trên lớp, Di thường nói chuyện bằng tiếng Anh với các bạn. Khi rảnh rỗi, em xem các chương trình, nghe nhạc bằng tiếng Anh.
Tại Trường tiểu học Đống Đa (P.Tân Hòa, TP.HCM), cụm chuyên môn 3 tổ chức tiết dạy minh họa môn khoa học lớp 5 và báo cáo chuyên đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong dạy học".
Được biết, sau sáp nhập, vận hành chính quyền 2 cấp, không còn phòng GD-ĐT các quận, huyện, ngành giáo dục thành phố phân chia các trường ở các cấp học thành 16 cụm quản lý chuyên môn. Trong đó, cụm chuyên môn 3 bao gồm các trường học tại các phường như Tây Thạnh, Tân Sơn Nhì, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Phú Thạnh (quận Tân Phú cũ); phường Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhất, Tân Hòa, Bảy Hiền, Tân Bình, Tân Sơn (quận Tân Bình cũ).
Tại hoạt động chuyên môn của cụm chuyên 3 tổ chức sáng nay, thực hiện tiết dạy minh họa môn khoa học lớp 5 với nội dung các giai đoạn phát triển của con người, cô Nguyễn Thị Hòa, giáo viên lớp 5/4, Trường tiểu học Đống Đa, đã khởi động học sinh bằng trò chơi "mảnh ghép bí ẩn".
Lớp học chia thành nhiều nhóm, lần lượt các nhóm lật các mảnh ghép trên màn hình để trả lời các câu hỏi đuổi hình bắt chữ, nghe nhạc đoán tên bài hát… Sau khi hoàn thành các mảnh ghép, màn hình hiện ra bức tranh hoàn chỉnh về các giai đoạn phát triển của con người.
Bên cạnh đó, học sinh còn tham gia nhiều hoạt động như quét mã QR chơi game để tìm hiểu kiến thức, thực hiện phiếu bài tập cá nhân, thuyết trình sản phẩm học tập cá nhân… Học sinh lần lượt trải nghiệm các góc học tập gồm: Góc đọc (đọc văn bản giấy hoặc sách điện tử), Góc quan sát (xem phim ngắn), Góc trải nghiệm (chơi trò chơi trực tuyến) và Góc chuyên gia (hỏi trợ lý ảo về nội dung bài học).
Tại "Góc chuyên gia", một học sinh lớp 5/4, cho biết: "Em đã sử dụng ChatGPT từ cuối năm học lớp 4 để tìm kiếm thông tin và đối chiếu đáp án khi làm bài tập. Ngoài ra, em cũng sử dụng công cụ Gemini, trợ lý ảo của Google, để làm sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức bài học".
Sau tiết dạy minh họa, cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học của cụm chuyên môn 3 đã chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học.
Chia sẻ kinh nghiệm sau tiết dạy, cô Nguyễn Thị Hòa cho biết để học sinh sử dụng "mượt mà" các công cụ AI và thiết bị công nghệ (như máy tính, ipad), giáo viên và học sinh cần được nhà trường tạo điều kiện tiếp cận từ trang thiết bị, đường truyền internet, năng lực chuyên môn. Ngoài ra, còn thêm các hoạt động lồng ghép khác như học tập trên thư viện số, đưa nội dung giáo dục AI vào dạy học cho học sinh phổ thông, dạy học tin học theo chuẩn quốc tế...
Tham luận chuyên đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học", giáo viên Bùi Thị Thu Hà, Trường tiểu học Đống Đa chia sẻ công cụ AI giúp giáo viên tiết kiệm nhiều thời gian thông qua việc hỗ trợ thiết kế bài dạy, tạo hệ thống câu hỏi kiểm tra, thiết kế hình ảnh và học liệu. Ngoài ra, ứng dụng AI còn giúp phân bổ bài tập phù hợp với khả năng tiếp nhận kiến thức của từng nhóm đối tượng học sinh; tạo môi trường học tập tương tác sôi nổi thông qua trò chơi; đánh giá sát năng lực thực tế của học sinh.
Tuy nhiên, các giáo viên cũng cho rằng cần sử dụng AI đúng mục đích. Giáo viên phải là người tổ chức, dẫn dắt lớp học, dành thời gian quan tâm, tương tác với học sinh. Đặc biệt, các thầy cô phải kiểm soát nội dung, đảm bảo tính chính xác, kiến thức phù hợp lứa tuổi học sinh bởi AI có thể cung cấp thông tin sai lệch.
Tham dự tại buổi báo cáo của cụm chuyên môn 3, ông Lưu Phương Thanh Bình, chuyên viên Phòng Giáo dục phổ thông Sở GD-ĐT TP.HCM, nhận định, ứng dụng AI vào dạy học là một trong những nội dung triển khai của mô hình trường học chất lượng cao, tiên tiến, hội nhập.
Tuy nhiên, việc ứng dụng AI cần phù hợp điều kiện thực tế của từng trường về cơ sở vật chất, năng lực giáo viên, khả năng tiếp nhận của học sinh; phù hợp nội dung bài học, môn học, đảm bảo thời lượng chương trình; sử dụng đồng thời nhiều phương pháp đổi mới dạy học, không nên lạm dụng AI, không để AI làm thay vai trò của giáo viên.
Trong thông báo của Sở GD-ĐT TP.HCM nêu rõ, theo định hướng phát triển mạng lưới trường lớp trên địa bàn, TP bổ sung 5 trường THPT công lập vào hệ thống tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027.
Danh sách 5 trường THPT mới trên hệ thống tuyển sinh lớp 10
Danh sách 5 trường THPT công lập bổ sung nêu trên sẽ được cập nhật trên hệ thống tuyển sinh lớp 10 tại địa chỉ ts10.hcm.edu.vn. Phụ huynh và học sinh có thể điều chỉnh, thay đổi nguyện vọng trong thời gian quy định, bắt đầu vào lúc 14 giờ ngày 4.5 và kết thúc vào lúc 17 giờ ngày 8.5.
Sở GD-ĐT lưu ý tên trường trong danh sách nêu trên là tên tạm thời, được sử dụng trên hệ thống tuyển sinh trong thời gian chờ UBND TP ban hành quyết định đặt tên chính thức. Ngay sau khi quyết định được ban hành, tên trường chính thức sẽ được cập nhật trên hệ thống tuyển sinh.
Phụ huynh và học sinh có nguyện vọng đăng ký lớp 10 vào các trường nêu trên truy cập hệ thống tuyển sinh tại địa chỉ ts10.hcm.edu.vn, tra cứu theo tên trường tạm thời tương ứng tại các phường trong danh sách đã công bố để thực hiện đăng ký nguyện vọng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) hôm 23/4 công bố quy định về công tác sinh viên. Theo đó, sinh viên phải tham gia ít nhất một trong hơn 80 câu lạc bộ của trường, thời gian tối thiểu hai năm, áp dụng với K69 (năm thứ hai) trở đi.
Bài đăng trên một số kênh thông tin của trường ngay lập tức gây chú ý. Chẳng hạn, một bài nhận hơn 1.600 lượt tương tác, trong đó 1.200 là biểu tượng "phẫn nộ".
Hoàng Anh, sinh viên năm thứ hai ngành Khoa học kinh tế và Quản lý, cho rằng việc bắt buộc là vô lý. Theo nữ sinh, bản chất của các hoạt động ngoại khóa là dựa trên đam mê, nhu cầu thực tế và tinh thần tự nguyện. Chưa kể, Hoàng Anh thấy tham gia câu lạc bộ còn tốn kém, vì phải đóng góp một số khoản như quỹ liên hoan.
"Việc ép buộc sẽ dẫn tới tình trạng đối phó, gây áp lực, lãng phí và giảm chất lượng hoạt động của các câu lạc bộ", nữ sinh đánh giá.
Không phủ nhận lợi ích, song Trần Hương nhìn nhận việc bắt buộc chưa phù hợp. Lý do là sinh viên K69 chuẩn bị bước vào giai đoạn thực tập. Nếu chưa tham gia trước đó, trong hai năm cuối, sinh viên sẽ phải vừa thực tập, làm thêm, thi chứng chỉ, vừa sinh hoạt ngoại khóa ở trường.
"Mình muốn tập trung vào các hoạt động bên ngoài giúp tăng thu nhập, kinh nghiệm làm việc, không muốn vào câu lạc bộ", Hương nói.
Ngoài ra, một số sinh viên đặt mục tiêu tốt nghiệp trong 3,5 năm, nên băn khoăn liệu chỉ tham gia trong 1,5 năm có vi phạm quy định hay không, có được xét tốt nghiệp không.
Trả lời VnExpress tối 24/4, ông Giang Trung Khoa, Trưởng ban Công tác sinh viên, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho biết trường chủ trương đổi mới đào tạo, nhằm tăng cường phát triển toàn diện cho sinh viên, gồm kỹ năng mềm, năng lực nghiên cứu khoa học, tinh thần khởi nghiệp, kỹ năng làm việc nhóm và năng lực thích ứng với thị trường lao động.
Theo ông, việc tham gia câu lạc bộ không ảnh hưởng nhiều đến kế hoạch học tập và sinh hoạt của sinh viên, do thường chỉ 2-3 tiếng mỗi tuần, không phải đóng phí.
Cùng đó, sinh viên có thể theo nhiều hình thức như nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội, dự án trải nghiệm, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo... Tuy bắt buộc nhưng trường chưa đưa ra hình thức xử lý với những sinh viên không thực hiện, nên "không có chuyện" các em không được xét tốt nghiệp.
Với những sinh viên hoàn thành chương trình trong 3,5 năm, tức chỉ có 1,5 năm tham gia câu lạc bộ, ông Khoa cho biết tiến độ ra trường sẽ không bị ảnh hưởng.
"Sinh viên tích lũy đủ tín chỉ thì đủ điều kiện ra trường, không có lý do gì lại phải ở lại sinh hoạt câu lạc bộ thêm nửa năm", ông Khoa nói. "Sinh viên hoàn toàn an tâm".
Chiều cùng ngày, Đoàn Thanh niên trường ra thông báo, khuyến khích sinh viên phản ánh, nêu thắc mắc thông qua các kênh chính thống để được giải đáp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thành lập năm 1956, mỗi năm tuyển khoảng 8.000 sinh viên. Ngoài những ngành truyền thống, trường còn đào tạo lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật.