Ông Phạm Ngọc Thưởng, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, cho biết, bộ này đang triển khai nhiều nhóm việc cụ thể để đảm bảo thống nhất sách giáo khoa trên toàn quốc từ năm học 2026 – 2027, đồng thời tiếp tục đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng dạy và học đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực, kỹ năng cho học sinh trong giai đoạn mới.
Trước đó, theo ông Thưởng, để triển khai theo yêu cầu về một bộ sách giáo khoa, Bộ GD-ĐT đã thành lập tổ nghiên cứu, tham khảo ý kiến các sở GD-ĐT và chuyên gia, xây dựng tiêu chí lựa chọn và quyết định chọn một trong 3 bộ sách hiện hành. Bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã được Bộ trưởng phê duyệt để áp dụng thống nhất.
Về triển khai trong thời gian tới, ông Thưởng cho biết, Bộ GD-ĐT đã ban hành văn bản hướng dẫn các địa phương sử dụng thống nhất bộ sách giáo khoa này, đồng thời cho phép khai thác các bộ sách khác làm tài liệu tham khảo. Quan điểm được nhấn mạnh là, dạy và học theo chương trình, sách giáo khoa chỉ là học liệu; do đó không gây lãng phí đối với các bộ sách khác.
Bộ cũng đã hoàn thành hiệu chỉnh nội dung sách giáo khoa, đặc biệt ở các môn lịch sử, địa lý, giáo dục công dân, phù hợp với việc điều chỉnh địa giới hành chính khi chuyển từ mô hình chính quyền 3 cấp sang 2 cấp.
Với mục tiêu là bảo đảm cung ứng đầy đủ sách giáo khoa cho nhà trường, giáo viên chậm nhất 20 ngày trước khai giảng, ông Thưởng cho biết, đến thời điểm hiện tại, 5/7 miền của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã nhập kho và công bố giảm giá sách trung bình 13,3% so với năm học trước.
Công tác tập huấn giáo viên được thực hiện theo hướng trọng tâm, tập trung vào các nội dung vướng mắc cần giải đáp, tránh dàn trải. Theo Thứ trưởng, với nền tảng chuyên môn, giáo viên có thể giảng dạy hiệu quả với các bộ sách giáo khoa khác nhau.
“Việc thống nhất một bộ sách giáo khoa dùng chung không đồng nghĩa với việc giới hạn nguồn học liệu; sách giáo khoa không phải “pháp lệnh”, mà là tài liệu phục vụ dạy và học. Giáo viên và học sinh có thể tham khảo thêm các nguồn tài liệu khác như sách, báo, internet để làm phong phú kiến thức và phù hợp với định hướng từ “dạy kiến thức” sang “dạy kỹ năng”, từ đó hình thành phẩm chất, năng lực cho học sinh”, ông Thưởng khẳng định.
Về điều chỉnh chương trình và cơ cấu môn học, Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng cho biết, theo thông lệ quốc tế, một chương trình giáo dục có vòng đời từ 10 – 15 năm mới thay đổi tổng thể. Tuy nhiên, hằng năm, Bộ GD-ĐT thực hiện “phát triển chương trình” thông qua rà soát, điều chỉnh nội dung và chỉ đạo chuyên môn. Các nhà trường được chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp trên cơ sở khung chương trình chung.
Trong thời gian tới, ông Thưởng thông tin, Bộ GD-ĐT sẽ tiếp tục tinh chỉnh, bổ sung các nội dung theo Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, như: tăng thời lượng các môn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục STEM, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI). Đồng thời, tăng cường giáo dục kỹ năng sống, văn hóa, nghệ thuật nhằm bảo đảm chuẩn đầu ra nhưng không gây quá tải cho học sinh.
Dù vậy, ông Thưởng nhấn mạnh, việc điều chỉnh chương trình cần được thực hiện thận trọng, có đánh giá tác động và huy động sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học, giáo viên trực tiếp giảng dạy. Mục tiêu là đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh mới, đồng thời bảo đảm tính ổn định của chương trình giáo dục phổ thông.
Định hướng xuyên suốt là chuyển từ “dạy kiến thức” sang “dạy kỹ năng”, quan trọng nhất là đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và phát triển năng lực tự học của học sinh. Khi đó, học sinh có thể thích ứng với mọi chương trình, sách giáo khoa, học liệu khác nhau.
Nhiều năm qua, điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ THPT là hai phương thức xét tuyển chủ yếu của các trường đại học, chiếm phần lớn số lượng thí sinh nhập học.
Trong khi đó, các kỳ thi riêng ngày càng được mở rộng từ đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, đánh giá năng lực chuyên biệt, thi đầu vào đại học trên máy tính (V-SAT) với số lượng thí sinh ngày càng tăng.
Ngoài ra, phương thức xét tuyển kết hợp nhiều thành phần điểm khác nhau cũng được nhiều trường áp dụng trong vài năm gần đây. Điều này khiến thí sinh trúng tuyển và nhập học bằng điểm học bạ, điểm thi tốt nghiệp THPT giảm.
Thống kê 4 năm qua của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy năm 2022, tỉ lệ thí sinh nhập học bằng phương thức điểm thi tốt nghiệp THPT và học bạ đều rất cao, còn tỉ lệ nhập học bằng các kỳ thi riêng chiếm một tỉ lệ rất nhỏ.
Bên cạnh đó, tỉ lệ thí sinh nhập học bằng điểm thi tốt nghiệp THPT tăng giảm theo từng năm, loanh quanh mức 50%. Tỉ lệ phương thức học bạ có xu hướng giảm dần, so với năm 2022, tỉ lệ năm 2025 giảm đến 7%.
Trước đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điểm học bạ trung bình 3 môn trong tổ hợp xét tuyển tối thiểu 18 nhưng nhiều năm qua đã bỏ quy định này.
Việc xét học bạ nhiều năm trước đây chỉ có các trường đại học ngoài công lập thực hiện nhưng gần đây nhiều trường công lập sử dụng phương thức xét tuyển này. Một số trường sử dụng điểm học bạ cho phương thức xét tuyển tổng hợp.
Năm 2025 đánh dấu lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố bảng so sánh tương quan giữa kết quả thi tốt nghiệp THPT 12 môn thi và điểm học bạ của học sinh ở 3 năm học THPT trên cả nước.
Theo thống kê, điểm trung bình học bạ cao hơn 0,12 - 2,26 điểm so với điểm thi tốt nghiệp THPT.
Công nghệ công nghiệp là môn có độ lệch điểm lớn nhất với điểm học bạ trung bình 8,05 so với trung bình 5,79 điểm thi tốt nghiệp THPT, lệch 2,26 điểm.
Kế tiếp là môn toán với điểm trung bình học bạ 3 năm THPT là 7,03, trong khi điểm trung bình thi tốt nghiệp môn toán là 4,78 (thấp hơn điểm trung bình học bạ 2,25 điểm). Môn tiếng Anh lệch 1,57 điểm.
Trái ngược với sự tăng giảm của hai phương thức trên, tỉ lệ của phương thức xét tuyển điểm kỳ thi riêng tăng dần đều trong 4 năm qua.
So với năm 2022, tỉ lệ năm 2025 tăng gần 4 lần. Điều này có thể lý giải bởi số lượng kỳ thi, quy mô tổ chức và chỉ tiêu xét tuyển cho phương thức này ngày càng tăng.
Nếu như trước đây chỉ có một số đại học tổ chức thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy thì vài năm gần đây, có thêm các trường sư phạm tổ chức kỳ thi đầu vào. Chỉ tiêu cho các kỳ thi riêng cũng tăng lên, nhiều trường sử dụng kết quả để xét tuyển hơn.
Chỉ xét riêng kỳ thi đánh giá năng lực do Đại học Quốc gia TP.HCM tổ chức, số lượng thí sinh đã vượt quá 100.000. Kỳ thi đánh giá năng lực đợt 1 năm 2026 của đại học này ghi nhận số lượng thí sinh dự thi cao kỷ lục với hơn 135.000 thí sinh.
Kỳ thi đầu vào đại học trên máy tính (V-SAT) chỉ có khoảng 6 trường tổ chức thi và sử dụng kết quả xét tuyển với chỉ tiêu hạn chế. Đến năm 2025 kỳ thi này có khoảng 20 trường tổ chức với số chỉ tiêu tăng lên rất nhiều.
Tại hội nghị tuyển sinh năm 2026 diễn ra hôm nay 20-4 ở TP.HCM, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân nhấn mạnh định hướng xuyên suốt là đảm bảo tính ổn định trong công tác tuyển sinh, hạn chế những thay đổi gây xáo trộn cho thí sinh và các cơ sở đào tạo, đồng thời vẫn giữ nguyên tắc tự chủ đại học đi kèm quản lý nhà nước linh hoạt.
Theo Thứ trưởng Lê Quân, tuyển sinh không chỉ là "cửa vào" của các trường mà còn là công cụ điều tiết chất lượng, phân tầng và định vị các cơ sở giáo dục đại học.
Trong bối cảnh mới, hệ thống đại học sẽ phân hóa rõ hơn theo chất lượng, sứ mạng và phân khúc đào tạo, đòi hỏi tuyển sinh phải quay về bản chất là đánh giá đúng năng lực người học.
Vì vậy, quản lý nhà nước về tuyển sinh cần chuyển mạnh sang định hướng chất lượng, tạo điều kiện để mỗi trường tuyển đúng người học phù hợp chiến lược phát triển.
Nhiều ngành hiện yêu cầu đầu vào cao hơn, không chỉ ở kiến thức mà còn ở năng lực công nghệ, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng.
Tuyển sinh cần quay lại bản chất là đánh giá đúng năng lực người học để đáp ứng yêu cầu từng lĩnh vực đào tạo.
Bộ đang rà soát danh mục ngành đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, phù hợp với thị trường lao động.
Ông Quân lưu ý các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động xây dựng lộ trình chuẩn bị, tránh bị động khi các quy định mới về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, trong đó có điều chỉnh yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên được áp dụng trong thời gian tới.
Một điểm nhấn quan trọng là tiếp tục mở rộng quyền tự chủ cho các trường trong tuyển sinh.
Thứ trưởng Lê Quân cho rằng chính sách tuyển sinh cần tạo không gian tự chủ để các trường lựa chọn mô hình phù hợp. Tự chủ không đồng nghĩa đưa ra tiêu chí thiếu cơ sở hoặc gây bất bình đẳng cho thí sinh; mọi tiêu chí xét tuyển phải hợp lý, minh bạch và có căn cứ khoa học.
Thực tế từng có trường áp dụng chuẩn ngoại ngữ hoặc công thức xét tuyển chưa phù hợp, gây tốn kém và phát sinh thủ tục, cần được rà soát thường xuyên.
Chính sách tuyển sinh khi ban hành cũng cần có tính ổn định tương đối, có thời gian đánh giá tác động dài hạn, tránh thay đổi liên tục gây xáo trộn tâm lý xã hội.
Thứ trưởng nhấn mạnh quy chế tuyển sinh năm 2026 vì vậy được xây dựng theo hướng ổn định dài hạn đến năm 2030.
Những điều chỉnh chủ yếu mang tính kỹ thuật như giới hạn số nguyện vọng còn 15, chuẩn hóa quy đổi điểm giữa các phương thức. Việc quy đổi điểm do các trường thực hiện dựa trên dữ liệu thực chứng, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đóng vai trò hướng dẫn.
Ông Quân cho rằng chất lượng đại học không chỉ quyết định ở đầu vào mà còn nằm rất lớn ở quá trình đào tạo, nên cần chú trọng cả khâu đánh giá trong đào tạo, không chỉ tập trung vào tuyển sinh.
"Vấn đề tuyển sinh là vấn đề nhạy cảm, nên cần nghiên cứu thật kỹ trước khi đưa ra những chính sách. Những kiến nghị, đóng góp của các trường, các chuyên gia, Vụ Giáo dục đại học và bộ sẽ tiếp thu và cam kết quy chế tuyển sinh ổn định đến năm 2030 và dần hướng về giao quyền tự chủ cho các trường", ông Quân khẳng định.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, năm 2026 sẽ triển khai các chương trình đào tạo tài năng trong các lĩnh vực như bán dẫn, hạt nhân, đường sắt.
Đặc biệt, nhóm ngành công nghệ chiến lược và triển khai học bổng cho các chương trình kỹ sư, thạc sĩ lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học).
Theo quy chế mới, thí sinh đăng ký xét tuyển phải đạt tối thiểu 15 điểm cho tổ hợp ba môn; Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào cho ba nhóm ngành: đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật. Phương thức xét học bạ sẽ sử dụng kết quả cả ba năm THPT thay vì một vài học kỳ như trước.
Đáng chú ý, số nguyện vọng được giới hạn tối đa 15; chứng chỉ ngoại ngữ được quy đổi thành điểm môn ngoại ngữ hoặc điểm thưởng theo bảng quy đổi 5 mức chênh lệch; tổng điểm cộng không vượt quá 10% thang điểm xét tuyển; ưu tiên khu vực được xác định theo nơi học THPT của thí sinh.
Theo kế hoạch, thí sinh đăng ký và điều chỉnh nguyện vọng từ ngày 2 đến 14-7. Các trường công bố kết quả xét tuyển vào ngày 10-8. Toàn bộ quy trình tiếp tục được thực hiện trên hệ thống chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chiều 24.4, ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Vinh phường Bến Cát (TP.HCM) đã có quyết định điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm, đối với giáo viên L.T.M khi cô này phạt học sinh lớp 3 tự đâm kim tiêm vào tay do các lỗi như không đeo khăn quàng đỏ, nói chuyện trong lớp…
Trước đó, sự việc vỡ lở khi một phụ huynh trường này thấy con về nhà mệt mỏi, gặng hỏi mãi mới biết. Ngày 13.4, lãnh đạo Trường tiểu học Lương Thế Vinh ghi nhận ít nhất 5 học sinh đã từng tự chích vào tay mình theo cách ấy.
Là người làm giáo dục gần 20 năm, làm tham vấn tâm lý vài năm gần đây, tôi đã có dịp trò chuyện với hàng ngàn thầy cô, cha mẹ đang vật lộn với cảm giác bất lực trước học sinh, trước con cái. Tôi hiểu áp lực của việc quản lý một lớp học 40-50 em hiếu động, hiểu nỗi sợ bị đánh giá khi lớp thiếu kỷ luật. Tôi không viết bài này để thêm một tiếng nói phẫn nộ. Tôi viết vì đằng sau sự việc "rợn người" nói trên, có một quan niệm đang âm thầm vận hành trong tâm thức nhiều người làm các công việc chạm đến con người như giáo dục.
Triết gia Martin Buber, trong tác phẩm Ich und Du (1923), phân biệt hai cách con người có thể tương tác trong thế giới: "Tôi-Người" và "Tôi-Vật". Trong quan hệ Tôi-Người, tôi đối xử với bạn như một chủ thể trọn vẹn, không thể bị rút gọn thành chức năng hay mục đích sử dụng. Trong quan hệ Tôi-Vật, bạn là một đối tượng có thể đo lường, phân loại, chỉnh sửa.
Buber không cho rằng quan hệ Tôi-Vật là xấu. Khi tôi vận hành một chiếc máy, quan hệ ấy là hợp lẽ. Điều ông cảnh báo là khi cách nhìn Tôi-Vật len lỏi vào những mối quan hệ lẽ ra phải là Tôi-Người, như giữa cha mẹ và con, giữa thầy và trò, thì những hành xử quan tâm và nhân bản bị đánh mất, và bạo lực trở thành một lựa chọn thuận tiện. Trong câu chuyện cô giáo phạt học trò bằng kim tiêm, nếu cô giáo đã xem học sinh là đối tượng, thì mọi đau đớn xảy ra với đối tượng ấy đều có thể quy về "lỗi của đối tượng". Trong mắt của cô giáo ấy, đứa trẻ đã không còn là một con người đang loay hoay lớn lên, mà đã trở thành một đối tượng chờ được răn đe.
Tôi không viết bài này để buộc tội một cô giáo vừa vào nghề ba năm. Điều làm tôi đau lòng không phải một hành vi cá biệt như vậy, mà sâu hơn, tôi có cảm giác rằng những hành vi ấy nảy sinh từ một "mảnh đất tâm thức" đã tồn tại từ lâu.
Trong tâm thức một bộ phận không nhỏ thầy cô lẫn cha mẹ Việt Nam, đứa trẻ vẫn được hình dung như đất sét - hỗn độn chưa thành hình, chờ bàn tay người lớn nhào nặn thành hình dạng họ mong muốn. Tâm thức ấy nếu không được quân bình lại bằng tinh thần tôn trọng phẩm giá con người - dù con người ấy nhỏ bé đến đâu, nó có thể trở thành "giấy phép" để đàn áp một cách thô bạo bất cứ thứ gì không vừa khuôn.
Quan niệm "học sinh/trẻ em là đối tượng để uốn nắn" tồn tại vì nó tiện lợi. Khi tôi xem bạn là con người trọn vẹn, tôi phải dừng lại, phải hỏi, phải lắng nghe, phải thừa nhận giới hạn của bạn và của chính mình. Nhưng khi tôi xem bạn là đối tượng cần định hình, tôi chỉ việc thẳng tay áp dụng kỹ thuật và kỷ luật. Một lớp học 40 em mà xem mỗi em là một con người độc đáo thì có vẻ mệt quá, trong khi một lớp học 40 đối tượng cần quản lý thì cứ "theo đúng công thức" là được.
Đó là lý do vì sao khẩu hiệu "lấy học sinh làm trung tâm" được treo ở nhiều trường, nhưng kim tiêm lại vẫn xuất hiện trên bàn một giáo viên. Khẩu hiệu là ngôn từ bề mặt, trong khi tâm thái và quan niệm là nền tảng sâu bên trong. Khi nền tảng chưa thay đổi, khẩu hiệu chỉ là lớp sơn bóng bẩy bên ngoài.
Cô giáo trong câu chuyện trên sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp, như mới đây, cô bị điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm. Tôi cũng mong những người làm việc với cô vẫn sẽ cân nhắc tất cả các phương diện của cô như một con người toàn vẹn chứ không phải một "đối tượng để xử lý" khác. Mặt khác, những người còn lại chúng ta - thầy cô, cha mẹ, nhà quản lý giáo dục, nhà tham vấn, bác sĩ… mọi nghề nghiệp làm việc chính với con người phải đối diện một câu hỏi khó hơn nhiều: Chúng ta có đang thật sự cư xử với mỗi người mình gặp như một con người trong công việc hàng ngày của mình không, hay đã quen xem họ như "đối tượng làm việc"?
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản đã dành cả đời để bảo vệ một điều đơn giản: Con người - bất kể tuổi tác, hành vi - xứng đáng được đón nhận vô điều kiện với phẩm giá của mình. Không phải chấp nhận mọi hành vi, mà là dù hành vi nào xảy ra, con người ấy vẫn là con người, không thể bị rút gọn thành hành vi và dán nhãn bằng một vài kết luận hạn hẹp.
Một đứa trẻ nói chuyện trong giờ học không phải là đứa ồn ào, mà là một con người đang học cách điều tiết bản thân và cần người lớn đồng hành. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy quyết định cách tương tác nào là phù hợp ở lớp học. Khi nhìn học sinh như một con người, kỷ luật của giáo viên là đối thoại - có giới hạn, có hậu quả, nhưng vẫn trong không gian tôn trọng phẩm giá. Ngược lại, khi nhìn học sinh như đối tượng thì những thứ như kim tiêm, roi vọt, lời lăng mạ hay chửi mắng trở thành những lựa chọn "thích đáng".