Nguyễn Thái, 22 tuổi, đăng ký thi tốt nghiệp THPT tại trường cấp ba cũ chỉ một ngày trước hạn chót.
Năm 2024, khi chỉ còn cách tấm bằng kỹ sư công trình thủy lợi hơn một năm đại học, Thái bỏ ngang, dù gia đình hết lời can ngăn. Thái thấy mình không hợp ngành này, chỉ học theo định hướng của bố mẹ.
Trong hai năm sau đó, Thái làm phục vụ ở quán ăn, cà phê gần nhà gần 10 tiếng mỗi ngày, nhận lương khoảng 8 triệu đồng/tháng. Chán nản trong chuỗi ngày bất định kéo dài, sống không mục tiêu, Thái quyết định “làm lại cuộc đời” bằng cách đăng ký thi lại tốt nghiệp ba môn Văn, Sử, Địa (tổ hợp C00), để đăng ký vào đại học, các ngành Báo chí, Luật vốn yêu thích.
Quỳnh Anh, sinh viên năm thứ nhất ngành Quản trị kinh doanh ở một trường tư thục tại Hà Nội, cũng đăng ký thi tốt nghiệp năm nay. Năm ngoái, nữ sinh đạt điểm thấp hơn kỳ vọng nên đành nhập học dù không thích.
Vào học, cô nhanh chóng thấy lạc lõng giữa nhiều bạn bè “sang chảnh” và cũng mông lung về ngành học. Không muốn bỏ dở, cô đành vừa học, vừa ôn thi lại với mục tiêu vào các ngành dễ nhìn ra cơ hội nghề nghiệp hơn như Tài chính – Ngân hàng.
Thái và Quỳnh Anh nằm trong hơn 63.800 thí sinh tự do của kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026. Con số này cao nhất kể từ năm 2020 đến nay, góp phần đưa tổng số thí sinh lên hơn 1,2 triệu, cũng là mức kỷ lục.
“Đây là hiện tượng đáng chú ý nhưng không bất thường”, ông Đỗ Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, trường Đại học Mở Hà Nội, nói.
Các chuyên gia nhận định đây là hệ quả của việc chọn sai ngành, hoặc muốn tiếp tục theo đuổi nguyện vọng, trong bối cảnh kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học liên tục thay đổi.
Theo ông Ngọc Anh, kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện giữ vai trò quan trọng trong xét tuyển đại học. Năm ngoái, lần đầu tiên kỳ thi theo chương trình phổ thông mới, nhiều em chưa có kinh nghiệm thi cử hay chiến lược xét tuyển nên chưa đạt nguyện vọng mong muốn. Làm công tác tuyển sinh hàng chục năm, ông đánh giá phần đông thí sinh tự do thi lại để cải thiện điểm.
Đồng tình, TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho rằng nghịch lý “điểm chuẩn đại học cao vượt xa điểm thi” năm ngoái cũng có thể là nguyên nhân.
Phân tích kỹ hơn, ông cho biết điểm thi năm 2025 theo tổ hợp phổ biến trong khoảng 21-23, nhưng với mức điểm cộng, quy đổi IELTS khác nhau giữa các trường, các em có thể đạt 25-26 điểm và trúng tuyển. Trong khi đó, những thí sinh không có điểm cộng nhiều khả năng trượt, nên thi lại.
Ngoài ra, có nhóm đã trúng tuyển đại học đúng nguyện vọng nhưng nay không muốn theo đuổi nữa. Điều này bắt nguồn từ việc hướng nghiệp chưa tốt.
“Đây là vấn đề tồn tại nhiều năm, khiến học sinh chọn sai ngành và phải làm lại”, ông Vinh nói.
Ông Đỗ Ngọc Anh chỉ ra một lý do khác là thay đổi về quy chế tuyển sinh đại học năm nay. Cụ thể, thí sinh dù xét tuyển theo phương thức nào cũng phải đạt tổng điểm ba môn trong tổ hợp (hoặc Toán, Văn và một môn khác) từ 15 điểm trở lên. Do đó, có những thí sinh tự do dù định dùng đăng ký bằng học bạ vẫn phải thi tốt nghiệp để đáp ứng điều kiện.
Cuối cùng, còn một nhóm thí sinh chưa tốt nghiệp THPT ở năm trước đăng ký thi lại để hoàn thành hoặc người đã đi làm quay lại để nâng cao trình độ. Song, nhóm này nhỏ, như năm ngoái chưa tới 9.000 em trượt tốt nghiệp (0,8% tổng thí sinh).
Với nhóm chọn lại đại học, ông Hoàng Ngọc Vinh khuyên dựa trên năng lực, sở thích thay vì chỉ cố gắng để đỗ một trường danh tiếng hơn.
“Các bạn có thể xem xét các con đường khác như cao đẳng, học nghề, nếu thấy không phù hợp với đại học”, ông nói.
Số thí sinh cao kỷ lục, cũng đồng nghĩa Quỳnh Anh và Thái đối mặt cuộc cạnh tranh gay gắt hơn cho giấc mơ đại học. Dù vậy, cả hai quyết tâm thử sức để có cơ hội làm lại.
Thái đã nghỉ làm thêm từ cuối năm ngoái để tập trung ôn luyện, mua khóa học trực tuyến khoảng một triệu đồng cho cả ba môn. Trong những lần luyện đề gần đây, chàng trai Ninh Bình thấy khả quan khi có thể đạt 8-9 điểm một môn.
“Mình sẽ dồn lực cho tháng ôn luyện cuối cùng, hy vọng có thể đạt được mong muốn”, Thái nói.
Còn Quỳnh Anh vừa thi chứng chỉ IELTS 6.0 để quy đổi sang điểm môn Tiếng Anh, bởi thấy lợi thế hơn so với việc chỉ dùng thuần điểm thi. Nữ sinh mong ngoài tăng thêm cơ hội nghề nghiệp còn được học ở những trường có tiếng như Học viện Ngân hàng hay Đại học Thương mại.
Ông Ngọc Anh dự đoán cục diện xét tuyển đại học có thể căng thẳng hơn mọi năm, song thí sinh không nên hiểu một cách cơ học rằng “tất cả các ngành, tất cả các trường đều tăng điểm chuẩn”. Cạnh tranh sẽ tăng rõ nhất ở các ngành, trường có sức hút lớn, nhu cầu xã hội cao hoặc có nhiều thí sinh cùng lựa chọn tổ hợp xét tuyển phổ biến.
Trả lời phóng viên Dân trí trưa nay, đại diện Sở GD&ĐT Hà Nội cho biết, Sở đã tiếp nhận phản ánh của phụ huynh học sinh và thông tin từ báo chí liên quan đến hoạt động giáo dục tại cơ sở mang tên “St. Mary’s International School”, địa chỉ Lô C3, khu đô thị mới Yên Hòa, Hà Nội.
Việc xác minh được tiến hành thận trọng, chi tiết bởi nhà trường có liên quan đến yếu tố nước ngoài.
Qua rà soát hồ sơ pháp lý thì UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2131/QĐ-UBND ngày 13/5/2021 cho phép thành lập Trường Mầm non quốc tế St. Mary’s tại địa chỉ trên.
Đồng thời, Sở GD&ĐT Hà Nội đã ban hành Quyết định số 872/QĐ-SGDĐT ngày 16/6/2021 cho phép tổ chức hoạt động giáo dục mầm non.
“Các nội dung liên quan khác đang được tiếp tục rà soát, xác minh theo quy định”, theo Sở GD&ĐT Hà Nội.
Sở này cũng yêu cầu Trường Mầm non quốc tế St. Mary’s và Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Giáo dục Toàn Cầu (GIS) báo cáo, giải trình và cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan; đồng thời tiếp tục rà soát, đối chiếu thông tin để làm rõ các nội dung theo phản ánh.
“Sở GD&ĐT Hà Nội đã thành lập tổ công tác để kiểm tra, xác minh các nội dung liên quan, làm cơ sở xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định (nếu có).
Đồng thời, Sở tiếp tục phối hợp với các phường, xã rà soát, tăng cường thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục trên địa bàn theo phân cấp và thực hiện việc cung cấp, cập nhật thông tin theo quy định”, đại diện Sở GD&ĐT Hà Nội cho biết.
Trước đó, một phụ huynh phản ánh, Cơ sở giáo dục “St. Mary’s International School”, có địa chỉ tại Khu đô thị mới Yên Hòa, do Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Giáo dục Toàn Cầu (GIS) làm chủ đầu tư, chưa được cấp phép hoạt động.
Theo nội dung phụ huynh này đưa ra, con chị đã từng theo học tại cơ sở giáo dục nói trên từ tháng 8/2021 đến tháng 6/2025 trong điều kiện học tập ổn định, không gián đoạn.
Trong suốt thời gian này, gia đình đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính cũng như phối hợp chặt chẽ với nhà trường, không phát sinh bất kỳ tranh chấp nào.
Tuy nhiên, khi thực hiện thủ tục chuyển trường cho con, gia đình phát hiện có nhiều dấu hiệu cho thấy nhà trường không có hoặc không chứng minh được việc đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục theo quy định.
Do vậy khi gia đình chuyển trường cho học sinh này, hồ sơ của học sinh bị nghi ngờ về tính hợp lệ trong quá trình học tập trước đây.
Các cơ quan chức năng đang vào cuộc và tiếp tục xác minh các vấn đề liên quan.
Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra rằng lệnh cấm điện thoại cũng giúp giảm đáng kể hoạt động của điện thoại trong trường học, giúp học sinh bình an, khỏe mạnh (Well-being) hơn vào những năm tiếp theo dù thực tế năm đầu triển khai đã ghi nhận số vụ vi phạm nội quy gia tăng và chỉ số Well-being sụt giảm. Đây là thông tin sau khi quan sát các trường trong tối đa 3 năm từ lúc công bố lệnh cấm.
Kết quả được rút ra sau khi nhóm nghiên cứu đến từ các ĐH danh tiếng như Stanford, Duke và Pennsylvania thực hiện một cuộc nghiên cứu quy mô lớn với sự tham gia của hơn 43.000 trường THCS, THPT trên toàn nước Mỹ - trong đó có hơn 4.600 trường dùng túi khóa điện thoại. Nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng bao gồm đối sánh dữ liệu, khảo sát giáo viên cũng như phỏng vấn phụ huynh, học sinh.
Báo cáo sơ bộ đã được công bố ngày 4.5 bởi Cục Nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER), song chưa trải qua quá trình bình duyệt.
Thông tin thêm về tác động của lệnh cấm đến điểm số của học sinh, báo cáo cho biết có sự khác biệt giữa nhóm THCS và THPT. Theo đó, bậc THPT ghi nhận điểm toán của học sinh có sự tăng trưởng nhẹ, song được cho là còn khiêm tốn so với các biện pháp giáo dục khác. Còn với bậc THCS, lệnh cấm lại khiến điểm toán của các bạn giảm nhẹ. Với môn ngữ văn, điểm ở cả hai bậc học hầu như không chịu tác động gì.
"Các kết quả trên cho thấy tác động trung bình ở mức gần như bằng 0 có thể là do sự bù trừ giữa tác động tích cực ở bậc THPT và tiêu cực ở bậc THCS", báo cáo nêu.
Nghiên cứu còn ghi nhận việc cấm học sinh dùng điện thoại trong trường cũng không giúp cải thiện tình trạng bắt nạt trực tuyến.
Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng nhìn nhận nghiên cứu còn một số hạn chế, như chỉ mới đánh giá tác động của lệnh cấm trong tối đa 3 năm chứ chưa xem xét dài hạn, hoặc chỉ tập trung vào mô hình cấm điện thoại suốt cả ngày học chứ chưa xét đến các hình thức hạn chế khác - như chỉ cấm trong giờ học hay cho phép linh hoạt sử dụng dựa trên yêu cầu của giáo viên. Đây là những dư địa cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ tác động của chính sách phổ biến này.
Hạn chế học sinh sử dụng điện thoại trong môi trường học đường là biện pháp giáo dục đã được triển khai từ nhiều thập kỷ qua, song mức độ thắt chặt và quy mô áp dụng đang ngày càng tăng cường kể từ sau dịch Covid-19. Chính sách xuất phát từ lo ngại việc liên tục tiếp cận các thiết bị kỹ thuật số, đặc biệt là điện thoại, có thể làm suy giảm kết quả học tập, khả năng tập trung cũng như sức khỏe tinh thần của học sinh.
Trong bối cảnh Việt Nam, Bộ GD-ĐT từ lâu đã không cho phép học sinh các khối lớp dùng điện thoại trong giờ học trừ trường hợp được giáo viên cho phép, tuy nhiên các bạn vẫn có thể sử dụng trong giờ ra chơi và các hoạt động ngoại khóa. Song từ năm 2025, TP.HCM và Hà Nội bắt đầu công bố biện pháp cứng rắn hơn khi hạn chế học sinh trường công dùng điện thoại cả trong giờ giải lao, ra chơi hoặc thu luôn điện thoại, cuối giờ học mới trả lại.
Trả lời đài NPR, GS Thomas Dee, công tác tại Trường sau ĐH về giáo dục của ĐH Stanford và là đồng tác giả của báo cáo, chia sẻ các nhà hoạch định chính sách sẽ mắc sai lầm nếu xem kết quả nghiên cứu nêu trên là lý do né tránh việc hạn chế học sinh dùng điện thoại. Bởi giữa những kết luận trái chiều vẫn còn đó những tín hiệu đáng khích lệ, chẳng hạn như lệnh cấm thực sự giúp học sinh giảm thiểu dùng thiết bị công nghệ.
"Dễ hiểu vì sao mọi người hào hứng với lệnh cấm điện thoại, song cần phải nhìn nhận rằng việc xây dựng môi trường học đường không điện thoại một cách hiệu quả sẽ không hề đơn giản hay nhanh chóng. Trải nghiệm năm đầu có thể khá tiêu cực, nhưng các chỉ số cho thấy khi trường dần thích nghi với chính sách mới, những lợi ích thực sự mới bắt đầu phát huy", GS Dee chia sẻ.
GS Brian Jacob tại ĐH Michigan (Mỹ), một đồng tác giả khác, thì chia sẻ với tờ The Epoch Times rằng kết quả nghiên cứu đã gióng lên "hồi chuông cảnh tỉnh" cho chính sách hạn chế điện thoại trong trường học. Tuy vậy, ông nhìn nhận các trường phổ thông vẫn đang thử nghiệm những phương pháp khác nhau để rút kinh nghiệm cách triển khai tốt nhất. Thế nên, khả năng trong tương lai sẽ xuất hiện mô hình thực sự giúp cải thiện thành tích học tập.
Trước đó, nhiều nghiên cứu quy mô quốc gia về lệnh cấm điện thoại đưa ra các kết luận trái ngược. Chẳng hạn, một nghiên cứu ở Tây Ban Nha công bố vào năm 2022 cho thấy tình trạng bắt nạt qua mạng đã giảm đáng kể ở hai khu vực ban hành lệnh cấm điện thoại trong trường. Tại một trong những khu vực khảo sát, điểm môn toán và khoa học cũng tăng lên đáng kể.
Trong khi đó, một nghiên cứu gần đây ở Na Uy thông tin những học sinh nữ bị cấm dùng điện thoại ở trường trung học có điểm trung bình cao hơn. Nghiên cứu cũng cho thấy lệnh cấm "không có tác dụng" với điểm trung bình của nam sinh, có lẽ vì nữ sinh dành nhiều thời gian hơn cho điện thoại.
Kể từ khi Bộ Nội vụ Úc bắt đầu công bố dữ liệu này cách đây 21 năm, con số nêu trên cũng là mức cao nhất từng được ghi nhận, tăng 8,4% so với tháng 2.2026. Hai tháng qua cũng lần lượt lập kỷ lục mới về tỷ lệ từ chối cấp visa, cao hơn "đỉnh" thứ ba là tháng 9.2023 (31,9%) - thời điểm số hồ sơ xin visa du học tăng đột biến khi Úc mở lại biên giới hậu Covid-19.
Theo thống kê, ứng viên từ hai nguồn cung sinh viên quốc tế lớn thứ hai, thứ ba của Úc là Ấn Độ, Nepal bị từ chối được cấp visa du học nhiều hơn vào tháng 3, với tỷ lệ trượt là 51% và 73,3%. Một số nước Nam Á khác cũng chung tình cảnh, đơn cử như Bangladesh (52,6%), Sri Lanka (55,8%), Pakistan (42%). Tất cả đều thuộc top 10 thị trường tuyển sinh lớn nhất của Úc ở thời điểm hiện tại.
Những con số trên phản ánh tình trạng bị đánh trượt visa vốn phổ biến ở các khóa học tiếng Anh (ELICOS) và đào tạo nghề nay lan sang cả các trường ĐH, nhất là những trường tuyển nhiều người học từ Nam Á. Ngược lại, Trung Quốc duy trì tỷ lệ trượt ở mức rất thấp chỉ 2,7%, trong khi một số thị trường Đông Nam Á thuộc top 10 cũng ở mức thấp như Indonesia (5,5%), Việt Nam (9%).
Riêng Philippines có tỷ lệ từ chối đáng kể ở mức 26,2%, tăng mạnh so với mốc chỉ 1% vào cùng kỳ năm trước.
Thực tế trên khiến lãnh đạo các trường ĐH, CĐ của Úc hoang mang không biết vì sao ngày càng nhiều sinh viên tiềm năng bị từ chối nhập cảnh và nguyên nhân tỷ lệ cấp visa sụt giảm nhanh chóng, nhất là khi chính sách visa của Úc không có thay đổi lớn. Trước đó vào tháng 11 năm ngoái, Úc công bố áp dụng Chỉ thị 115 mới, vốn ưu tiên xử lý visa du học theo mức độ đạt hạn ngạch của từng cơ sở giáo dục.
Ông Phil Honeywood, Giám đốc điều hành Hiệp hội Giáo dục quốc tế Úc (IEAA), cho biết chính phủ Úc cần làm rõ liệu có đang "siết van visa" trên diện rộng hay không. Ông thông tin với tờ Times Higher Education rằng theo Chỉ thị 106 được áp dụng từ 2 năm qua, đương đơn chỉ cần chứng minh có đủ tài chính để trang trải chi phí trong năm đầu ở Úc là đủ điều kiện được cấp visa du học Úc.
Trước đó, Bộ Nội vụ Úc hồi tháng 1 đã thông báo với các cơ sở giáo dục rằng khả năng tài chính là một trong những nguyên nhân chính khiến cơ quan này từ chối cấp visa cho đương đơn từ Nam Á. Theo Bộ này, một trong những khía cạnh ưu tiên xét duyệt là ứng viên thực sự có quyền tiếp cận với nguồn tiền hay không, nhất là trong các trường hợp vay khoản lớn nhưng khả năng trả nợ hạn chế.
Bình luận về động thái này, ông Jon Chew, Giám đốc phân tích thông tin của Navitas, nhận định trước đây việc kiểm tra giấy tờ tài chính xem có dấu hiệu gian lận hay không là chuyện bình thường. Tuy nhiên, đó sẽ là một câu chuyện mới khi cán bộ xét duyệt visa giờ đây còn "xem xét lại" cả quyết định cho vay của ngân hàng nước ngoài.
Đồng tình, bà Sonya Singh, sáng lập và điều hành SIEC Education, cho rằng trọng tâm xét duyệt visa đã chuyển từ khả năng chi trả khóa học tại Úc sang khả năng hoàn trả khoản vay du học sau tốt nghiệp. "Điều này làm thay đổi hoàn toàn cách đánh giá, từ việc chứng minh đủ tài chính sang dự đoán kết quả đầu ra và khả năng trả nợ của gia đình", bà Singh nói với tờ The PIE News.
Đó là lý do đơn vị của bà đã thay đổi cách tư vấn cho người học, bắt đầu từ tư vấn tài chính trước rồi mới đến chọn ngành và điểm đến du học.
Lưu ý thêm về vấn đề này, ông Neil Fitzroy, Giám đốc điều hành Australasia (thuộc Oxford International Education Group), cho rằng cán bộ xét visa đang đặt nhiều trọng tâm hơn vào độ tin cậy mà họ cảm nhận được từ hồ sơ ứng tuyển thay vì chỉ dựa vào việc đương đơn có đáp ứng các yêu cầu đã công bố hay không.
"Việc thẩm định cũng đi sâu hơn vào tổng chi phí học tập, nguồn gốc và tính bền vững của tài chính, song song đó là triển vọng sau tốt nghiệp", ông Fitzroy nói.
Ông Chew cho biết thêm, trước đây mỗi khi số lượng hồ sơ xin visa bị từ chối tăng vọt, cơ quan chức năng thường giải thích rõ lý do trong thư từ chối, nhờ đó đương đơn có thể điều chỉnh sao cho phù hợp. Nhưng lần này, vấn đề là không ai thực sự hiểu vì sao hồ sơ bị đánh trượt, ông chia sẻ.
Hệ quả của tỷ lệ từ chối tăng cao, theo chuyên gia, là sinh viên giỏi có thể đi nước khác vì không muốn mạo hiểm bị Úc đánh trượt - do điều này còn ảnh hưởng đến việc xin visa các nước khác như Anh hoặc Canada. Ngược lại, những đối tượng muốn lạm dụng visa du học để đi làm vẫn sẵn sàng "đánh cược". Điều này có thể dẫn tới tình huống ngược đời là người học chân chính thì nản lòng còn những ai không phù hợp lại chẳng bị cản bước.
Thời gian qua, Úc cũng công bố nhiều điều chỉnh để quản lý tốt hơn ngành giáo dục quốc tế, như tăng yêu cầu chứng minh tài chính, năng lực tiếng Anh và lệ phí trong quá trình xin visa du học; giảm thời gian hiệu lực và tăng yêu cầu cũng như phí xin visa làm việc sau tốt nghiệp. Đây là một số nguyên nhân góp phần khiến số lượng người Việt lần đầu tới Úc du học tính đến tháng 9.2025 giảm 42% so với cùng kỳ năm 2024.
Theo thống kê từ Bộ Giáo dục Úc, tính tới tháng 1.2026, có 551.717 sinh viên quốc tế theo học các khóa tại nước này. Trong đó, Việt Nam có 24.789 người, xếp thứ 4 sau Trung Quốc, Ấn Độ và Nepal.