Ngày 5.5, Bộ Tài chính công bố bảng tổng hợp, giải trình ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định của Nghị định 68/2026 về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Trong đó, UBND tỉnh Nghệ An đề xuất Ban soạn thảo xem xét việc quy định ngưỡng doanh thu áp dụng cho từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Lý do tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của từng nghề, lĩnh vực kinh doanh là khác nhau. Bên cạnh đó, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung thêm quy định về xác định doanh thu của hộ kinh doanh có hành vi chia tách thành nhiều hộ kinh doanh (căn cứ vào các yếu tố: địa điểm kinh doanh, ngành nghề,mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh, dòng tiền và các dấu hiệu liên kết khác) nhằm hạn chế việc lợi dụng kẽ hở chính sách để tránh thuế.
Trả lời góp ý này, Bộ Tài chính cho biết, luật Thuế Thu nhập cá nhân quy định 1 mức doanh thu không chịu thuế thu nhập cá nhân; tại luật Thuế giá trị gia tăng cũng chỉ quy định 1 mức doanh thu để xác định đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Việc quy định 1 mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, không chịu thuế giá trị gia tăng đã thực hiện ổn định thời gian qua. Quy định này đảm bảo thống nhất, công bằng một cách tương đối cho các đối tượng nộp thuế. Mức miễn thuế là mức doanh thu phát sinh từ đầu nên chênh lệch về thu nhập ở mức này giữa các ngành nghề, lĩnh vực là không lớn. Khi doanh thu đến mức chịu thuế, thu nhập giữa các ngành nghề/lĩnh vực có sự chênh lệch lớn thì luật Thuế thu nhập cá nhân và luật Thuế giá trị gia tăng đã có quy định mức thuế suất khác nhau để điều tiết cho phù hợp với từng loại hình. Cụ thể, đối với lĩnh vực phân phối, cung cấp hàng hóa thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 0,5%, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 1%; đối với lĩnh vực dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 2%,tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 5%; đối với lĩnh vực sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1,5%, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 3% và đối với hoạt động kinh doanh khác tỷ lệ này lần lượt là 1% và 2%.
Bộ Tài chính nhấn mạnh: thay vì quy định mức doanh thu miễn thuế khác nhau, đối với từng ngành nghề/lĩnh vực, luật đã quy định tỷ lệ thuế tính trên doanh thu (%) khác nhau cho từng nhóm ngành. Việc quy định 1 mức doanh thu, không phân biệt theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đảm bảo thống nhất và cũng tương đồng với kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
Theo Nghị định 141/2026/NĐ-CP, doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chính thức nâng từ 500 triệu đồng/năm lên 1 tỉ đồng/năm.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tâm điểm của đợt khởi công lần này là dự án Quảng trường trung tâm thành phố (Dự án thành phần 4). Tọa lạc tại lõi khu đô thị mới Thủ Thiêm với diện tích lên tới hơn 20 ha, đây là hạng mục quan trọng nhất trong tổ hợp Quảng trường trung tâm và Trung tâm hành chính mới.
Với tổng mức đầu tư dự kiến cho riêng khu vực quảng trường và công viên bờ sông lên đến hàng ngàn tỉ đồng, công trình được kỳ vọng sẽ là không gian sinh hoạt cộng đồng lớn nhất VN, nơi tổ chức các sự kiện chính trị, văn hóa tầm cỡ quốc tế. Khi hoàn thành, đây sẽ là "trái tim" mới của thành phố, kết nối hài hòa giữa bản sắc lịch sử và sự hiện đại của một đô thị thông minh.
Với quy mô sức chứa tương đương 10 sân vận động quốc gia, nơi đây không chỉ là địa điểm tổ chức các sự kiện chính trị trọng đại mà còn là một công trình kiến trúc mang tính biểu tượng. Sự kết hợp giữa quảng trường hiện đại và dải công viên bờ sông xanh mát tạo nên một không gian mở tuyệt đối, nơi người dân có thể thực sự "chạm" vào dòng sông Sài Gòn lịch sử. Đây chính là mảnh ghép cuối cùng để Thủ Thiêm hoàn thiện bức tranh về một trung tâm tài chính - văn hóa tầm cỡ châu lục.
Ở bờ bên kia, dự án cải tạo, chỉnh trang Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh TP.HCM mang ý nghĩa tinh thần rất lớn. Việc khởi công chỉnh trang di tích Bến Nhà Rồng vào đúng dịp 30.4 là hành động thiết thực để tôn vinh giá trị lịch sử, đồng thời nâng cấp không gian này thành điểm đến văn hóa - du lịch đẳng cấp, xứng tầm với vị thế của thành phố mang tên Bác.
Cũng trong lĩnh vực phát triển đô thị, việc khởi công Khu đô thị Đại học Quốc tế Berjaya (Hóc Môn) mang ý nghĩa đặc biệt trong việc giãn dân ra khu vực Tây Bắc. Theo định hướng, Khu đô thị Đại học Quốc tế được phát triển như một đô thị tổng hợp, gắn với các chức năng đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Quy mô dân số dự kiến khoảng 135.000 cư dân đô thị và khoảng 60.000 sinh viên, với hệ thống đầy đủ các khu chức năng về ở, giáo dục, thương mại, dịch vụ và hạ tầng xã hội. Sau gần 2 thập niên đình trệ kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư năm 2008, dự án đã được "hồi sinh", trở thành dự án lớn nhất ở khu vực Tây Bắc TP.HCM. Dự kiến đưa vào vận hành đầu năm 2035, khu vực này sẽ trở thành tổ hợp giáo dục - y tế - thương mại chuẩn quốc tế, giúp nâng cấp toàn diện hạ tầng xã hội cho vùng ngoại thành TP.HCM.
Một "siêu" dự án giao thông cũng được khởi công trong dịp lễ quan trọng này là tuyến đường sắt đô thị số 2 (metro số 2), đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm. Sau thành công của tuyến số 1, việc khởi công đoạn tuyến vượt sông Sài Gòn kết nối lõi trung tâm cũ với bán đảo Thủ Thiêm mang ý nghĩa quan trọng. Theo Ban Quản lý Đường sắt đô thị (MAUR), dự án không đơn thuần là hạ tầng giao thông mà là "mạch máu" nối liền hai bờ Đông - Tây, tạo động lực mạnh mẽ cho việc phát triển không gian ngầm và các dự án đô thị dọc tuyến; đồng thời, đặt nền móng cho tuyến metro đầu tiên nối từ TP.HCM tới sân bay Long Thành.
Ngày 30.4.2026 cũng đánh dấu mốc đặc biệt cho hành trình tiến biển khi TP.HCM sẽ trao Quyết định chấp thuận Nhà đầu tư cho dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ. Đây là dự án "linh hồn" trong chiến lược đưa TP.HCM trở thành đô thị biển. Khác với các cảng nội thị đang dần quá tải và bị hạn chế bởi luồng lạch, cảng Cần Giờ nằm ngay cửa biển, có khả năng tiếp nhận tàu container trọng tải lớn nhất thế giới hiện nay.
Việc trao quyết định chấp thuận nhà đầu tư cho Liên danh các nhà đầu tư gồm Tổng công ty Hàng hải VN (VIMC), Cảng Sài Gòn và hãng tàu container lớn nhất thế giới MSC không chỉ khởi động một công trình hạ tầng mà là khởi động cả một hệ sinh thái logistics tầm cỡ quốc tế. Ý nghĩa lớn nhất của dự án này chính là việc "đánh thức" vùng đất Cần Giờ, chuyển dịch từ một địa phương ngoại thành thuần nông nghiệp và khu dự trữ sinh quyển sang vị thế một cửa ngõ giao thương toàn cầu.
Theo lộ trình phát triển hạ tầng hàng hải, mục tiêu hướng biển của TP.HCM ban đầu dự kiến có sự xuất hiện đồng thời của 3 cảng lớn. Tuy nhiên, dịp này chỉ có cảng Cần Giờ kịp tiến độ thủ tục để trao quyết định đầu tư. Hai "mắt xích" còn lại là Cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ (giai đoạn 1) quy mô 351,2 ha, tổng vốn đầu tư khoảng 50.200 tỉ đồng, công suất thiết kế 11 triệu TEU/năm và dự án Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link (giai đoạn 2), tổng vốn đầu tư khoảng 8.361 tỉ đồng đang được khẩn trương hoàn tất các bước chuẩn bị cuối cùng để khởi công trong giai đoạn tiếp theo của năm 2026. Khi bộ ba này cùng vận hành, TP.HCM và vùng Bà Rịa-Vũng Tàu cũ sẽ tạo thành cụm cảng lớn nhất khu vực, đủ sức cạnh tranh sòng phẳng với Singapore hay các cảng lớn tại Thượng Hải.
Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM) đánh giá: Nhìn theo hiệu quả đầu tư, loạt dự án mà TP.HCM chuẩn bị khởi công dịp 30.4 là gói vốn mang tính "đòn bẩy tăng trưởng" hơn là chi tiêu đơn thuần. Theo thông lệ kinh tế đô thị, hệ số lan tỏa đầu tư công vào hạ tầng thường dao động 1,5 - 2,5 lần GDP trong trung hạn, nghĩa là cứ 1 đồng vốn bỏ ra có thể tạo 1,5 - 2,5 đồng giá trị gia tăng thông qua xây dựng, việc làm, tiêu dùng và năng suất mới.
Riêng nhóm dự án cảng biển và logistics liên quan có suất đầu tư cao nhưng khả năng hoàn vốn tốt nếu đạt công suất thiết kế, vận hành hiệu quả, thời gian hoàn vốn kinh tế có thể rút xuống 10 - 15 năm nhờ phí cảng, dịch vụ logistics, kho bãi và thu hút hãng tàu quốc tế. Cạnh đó, lợi ích gián tiếp còn lớn hơn lợi ích trực tiếp vì mỗi 1% giảm chi phí logistics có thể giúp hàng xuất khẩu vùng phía nam tăng sức cạnh tranh đáng kể.
Trong khi đó, chùm dự án ở Thủ Thiêm gồm quảng trường trung tâm, trung tâm hành chính kết nối với công viên Bến Nhà Rồng - Khánh Hội có hiệu quả kinh tế không chỉ đo bằng doanh thu trực tiếp, mà phải tính theo hiệu ứng tăng giá trị đất đai và mở rộng nguồn thu dịch vụ đô thị. Chỉ cần khoảng 200 ha đất trung tâm quanh trục hành chính - tài chính được nâng giá trị thêm bình quân 20 triệu đồng/m² nhờ hạ tầng và cảnh quan, tổng giá trị tài sản tăng thêm đã đạt khoảng 40.000 tỉ đồng. Nếu mức tăng là 50 triệu đồng/m² ở các lô thương mại trọng điểm, giá trị cộng thêm có thể lên tới 100.000 tỉ đồng. Đây là nguồn lực lớn để thành phố thu hồi qua đấu giá đất, tiền sử dụng đất, thuế chuyển nhượng và thuế tài sản trong dài hạn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 8.4, khảo sát một số ngân hàng (NH) tại TP.HCM cho thấy lãi suất (LS) cho vay mua bất động sản (BĐS) nói chung, mua nhà nói riêng tiếp tục neo cao, một số NH vừa nâng thêm LS từ đầu tháng 4. Có một điểm khác biệt là LS cho vay của nhóm 4 (Big 4) NH thương mại cổ phần (TMCP) nhà nước hiện đã lên bằng, thậm chí cao hơn các NH TMCP. Tại một chi nhánh của NH BIDV, nhân viên tư vấn cho biết hiện LS cho vay mua BĐS là 11%/năm và chốt cố định 12 tháng; sau đó LS được tính bằng lãi suất tiết kiệm NH công bố kỳ hạn 24 tháng cộng thêm biên độ 5%. Như vậy nếu so với giữa tháng 3, LS cho vay mua BĐS của BIDV đã tăng thêm khoảng 1%/năm.
Tại Vietcombank, nhân viên cho hay NH đang áp dụng LS 9,6%/năm đối với gói vay cố định 6 tháng, lên 10,5%/năm nếu cố định trong 12 tháng đầu tiên. Sau thời gian cố định, LS thả nổi được tính bằng LS tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng của NH này cộng 3,3% nhưng không thấp hơn LS sàn (hiện nay LS sàn của Vietcombank là 11,1%/năm). Theo thông báo mới nhất, VietinBank cũng nâng LS vay mua BĐS cố định trong 24 tháng đầu lên hơn 12% mỗi năm và sau đó thả nổi nhưng không thấp hơn LS cho vay sàn của NH này là 14%/năm. Tương tự, nhân viên một chi nhánh Agribank tại TP.HCM cũng thông tin LS cho vay BĐS hiện đã lên sát 10%/năm nhưng chỉ chốt cố định trong vòng 1 năm… Như vậy, LS cho cá nhân vay mua BĐS tại nhóm NH Big 4 đã tăng cao gần gấp đôi so với mức từ 6 - 6,5%/năm của một năm trước.
Đáng chú ý, không chỉ tăng cao mà một số NH cũng khá dè dặt khi tư vấn cho khách hàng có nhu cầu vay mua nhà. Nhân viên chi nhánh BIDV nói thẳng, nếu khách hàng thế chấp nhà đang ở thì có thể làm hợp đồng dạng vay tiêu dùng với LS 10%/năm và hồ sơ sẽ được phê duyệt nhanh hơn. Nhân viên Agribank cũng không mấy mặn mà khi được hỏi về gói vay mua nhà và cũng thông báo, hiện hồ sơ xét duyệt chậm hơn trước nên có thể phải chờ…
Trong khi đó, LS tại một số NH TMCP cũng đã vượt 12%/năm sau thời gian ưu đãi ban đầu. Chẳng hạn, NH TMCP Phương Đông áp dụng LS cho vay 10,75%/năm chốt trong 6 tháng đầu và sau đó bằng LS cơ sở cộng 3,25%; hoặc LS 11,5%/năm trong vòng 12 tháng đầu tiên và sau đó tính bằng LS cơ sở cộng 3,5%. Trong đó, LS cơ sở của NH này được tính là LS cơ sở kỳ hạn 13 tháng ban hành từng thời kỳ. Tại NH TMCP Quốc tế (VIB), LS cho vay mua nhà dao động từ 9,5 - 12%/năm (tuỳ theo thời gian ưu đãi cố định từ 6 - 12 tháng). Sau thời gian ưu đãi, LS được tính theo LS cơ sở ban hành theo thời kỳ cộng biên độ cố định 3%. Giả sử khách hàng chọn LS 10,5%/năm cho thời gian chốt cố định 12 tháng thì sau khi thả nổi sẽ lên sát 13%/năm; nếu chọn mức LS 12%/năm thì sau đó LS sẽ lên đến 15%/năm sau 2 năm.
Tương tự, Techcombank công bố LS cho vay mới mua nhà là 9,5%/năm và cố định trong 12 tháng đầu tiên; sau đó LS được tính bằng LS tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng của chính NH cộng biên độ 3,5%... Những NH TMCP nêu trên đều cho biết vẫn nhận hồ sơ vay của khách hàng cá nhân thông thường và thời gian giải ngân chỉ giải quyết trong vòng 1 tuần.
Không chỉ LS cho vay mới tăng cao, những khách hàng vay cũ cũng đang sốt ruột với việc điều chỉnh lãi vay. Anh Trung ở P.Tân Thuận (Q.7 cũ), TP.HCM, đang có hợp đồng vay mua căn hộ được 3 năm tại một NH TMCP. Chỉ sau năm đầu tiên áp dụng LS gần 10%/năm thì sau đó LS thả nổi và điều chỉnh 3 tháng một lần. Năm 2025, LS anh phải trả dao động chỉ khoảng 11,6 - 11,8%/năm. Mới nhất từ đầu tháng 4, LS của anh được thông báo lên 13,6%/năm. Vì thế, chỉ riêng tiền lãi anh phải trả lên gần 13 triệu đồng/tháng, cao hơn thời điểm đầu năm 1 triệu đồng/tháng. "Hợp đồng vay đến 15 năm nên cứ nghe LS tăng cao là thót tim. Mỗi lần điều chỉnh lên là phải "bóp mồm bóp miệng" để trả lãi đúng hạn cho NH", anh Trung nói.
Tương tự, chị Thu Hương (Q.Tân Phú cũ), TP.HCM, cũng có hợp đồng cũ vay mua nhà đã hơn 4 năm, cuối tháng 3 vừa rồi cũng bị điều chỉnh LS lên 14%/năm từ mức 12%/năm trước đó. Như vậy dù nợ gốc đã giảm dần thì tổng số tiền hằng tháng chị thanh toán cũng không giảm đi so với cuối năm 2025 do tiền lãi gia tăng.
Trong khi đó, chị V.K tại P.Tân Định (Q.1 cũ), TP.HCM, cũng đang nơm nớp lo khi hợp đồng vay sắp hết thời gian ưu đãi. Chị chia sẻ hợp đồng vay mua nhà của chị tại BIDV trước đây với LS 6,5%/năm cố định trong 18 tháng. Đến tháng 6 này sẽ hết thời gian ưu đãi thì LS trong hợp đồng ghi rõ sẽ được điều chỉnh bằng LS tiết kiệm của NH cộng biên độ 4%. Hiện nay LS tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng của BIDV niêm yết là 6,5%/năm thì đến kỳ điều chỉnh, LS của chị V.K sẽ tăng lên 10,5%/năm. Thế nhưng thực tế LS có thể còn cao hơn vì chưa rõ NH tính thế nào. "Mấy hôm nay nghe LS tiết kiệm lên cao rồi LS cho vay cũng tăng mạnh là tôi ngán vì thế nào LS của mình cũng bị điều chỉnh tăng theo. Nhà tôi đang tính toán gom tiền hết mức có thể, kể cả vay mượn anh chị em thêm một thời gian ngắn để đến lúc đó thanh toán bớt phần gốc càng nhiều càng tốt. Vì chỉ trả bình thường thì riêng phần lãi đã tăng mạnh so với thời gian trước đây", chị V.K chia sẻ.
Trả lời thắc mắc khi người viết hỏi vì sao LS cho vay tăng cao, nhân viên tín dụng các NH đều cho rằng do LS tiết kiệm đã bị đẩy lên liên tục nên đầu ra cũng phải lên theo. Hơn nữa, chính sách của NH Nhà nước cũng đưa ra thông điệp kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng BĐS trong năm 2026 không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn ngành (khoảng 15%/năm). Vì vậy một số NH không còn nhiều quota giải ngân cho vay BĐS.
Bên cạnh đó, tình trạng thanh khoản của các NH cũng chưa khả quan khi lượng tiền huy động vẫn thấp hơn lượng tiền cho vay trong thời gian qua. Theo báo cáo tình hình KT-XH quý 1/2026 của Cục Thống kê, đến ngày 24.3, tổng phương tiện thanh toán tăng 1,04% so với cuối năm 2025, thấp hơn mức 1,89% của cùng kỳ năm trước. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0,44%, giảm mạnh so với 1,23% cùng kỳ năm 2025. Ngược lại, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 2,15%, gần bằng mức 2,28% của quý 1/2025. Điều này khiến LS huy động vẫn được đẩy lên cao, kéo theo LS cho vay nói chung, mua nhà nói riêng đi lên.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/lai-vay-mua-nha-tiep-tuc-tang-185260408211411852.htm

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kiến nghị nhiều nội dung liên quan tới nguồn vàng nguyên liệu.
Một trong số đó là kiến nghị ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong đó, cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.
Không đồng tình với đề xuất trên, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, về bản chất, cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận chính là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác, lợi bất cập hại.
Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro vĩ mô như: rủi ro hệ thống, làm suy yếu vai trò của tiền đồng; hình thành một thị trường tín dụng ngầm bằng vàng rất khó kiểm soát. Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền, mức độ rủi ro.
"Doanh nghiệp vay vàng nhưng doanh thu lại bằng tiền đồng. Khi giá vàng biến động mạnh, doanh nghiệp không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng trả nợ, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.
Đáng chú ý, khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng tiền. Điều này đi ngược nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân lý giải.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, trước kia, Việt Nam từng trải qua giai đoạn "vàng hóa" nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng. Doanh nghiệp vay vàng để kinh doanh, trong khi người dân coi vàng như phương tiện thanh toán song song với tiền.
Điều này gây nhiều hệ quả như: chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỷ giá chịu áp lực lớn... Năm 2012, Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng ra đời với mục tiêu chính là chấm dứt tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng. Không có lý gì hiện tại lại cho phép tái diễn.
"Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng trong dân thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức, dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân nói.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường ĐH Nguyễn Trãi), nhìn nhận, đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng từ người dân để phục vụ sản xuất vàng trang sức nếu hiện thực hóa sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành chế tác.
Tuy nhiên, vấn đề lãi suất vay thỏa thuận có thể dẫn đến các rủi ro về pháp lý, tài chính nếu không được giám sát chặt chẽ.
"Khi doanh nghiệp gặp phải vấn đề tài chính hoặc rủi ro kinh doanh, việc không thể hoàn trả vàng vay có thể dẫn đến người dân không thu hồi được tài sản.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp gặp vấn đề về nhân sự hoặc hoạt động kinh doanh không ổn định, thu hồi vàng vay từ doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn, tạo ra sự mất cân bằng trong các giao dịch", ông Huy phân tích.
Đánh giá kiến nghị huy động vàng trong dân để làm nguyên liệu sản xuất trang sức hợp lý về mặt lý thuyết, song chuyên gia vàng Trần Duy Phương nhấn mạnh, điều này rất khó hiện thực hóa.
Vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức. Việc kiểm định chất lượng vàng không hề đơn giản. Hiện nay, trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn, vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn.
"Doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả. Người dân cho vay vàng miếng, vàng nhẫn... khi nhận lại sẽ nhận vàng dưới hình thức ra sao... Tất cả đều không đơn giản", ông Phương nêu vấn đề.
Băn khoăn quan trọng khác được ông Phương đề cập là rủi ro lớn về cân đối trạng thái của doanh nghiệp kinh doanh vàng. Giả sử, doanh nghiệp huy động vàng ở vùng giá 170 - 175 triệu đồng/lượng, song đến khi đáo hạn, giá đã tăng lên 200 triệu đồng/lượng. Khi đó, việc cân đối nguồn để trả nợ trở nên rất khó khăn.
Tin Gốc: Thanh Niên

