Ngày 5/5, Hội đồng quản trị (HĐQT) Tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (Vinaconex) thông qua việc từ nhiệm chức Chủ tịch của ông Trần Đình Tuấn.
Ông Tuấn mới được đảm trách vị trí này từ giữa tháng 2, thay ông Nguyễn Hữu Tới. Ở thời điểm đó, Vinaconex cho biết ông Tới bị bắt tạm giam với cáo buộc vi phạm về đấu thầu.
HĐQT Vinaconex đã bầu ông Nguyễn Xuân Đông làm Chủ tịch nhiệm kỳ 2022-2027 từ ngày 5/5. Cách đây một tuần, ông Đông xin từ nhiệm vai trò Tổng giám đốc doanh nghiệp này.
Ông Nguyễn Xuân Đông gia nhập Vinaconex từ cuối năm 2018. Đây cũng là thời điểm An Quý Hưng – doanh nghiệp do ông làm Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc chi 7.400 tỷ đồng để mua gần 58% vốn của Vinaconex từ SCIC.
Sinh năm 1966, ông Đông có gần 40 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng, đầu tư, tài chính doanh nghiệp. Theo Vinaconex, ông có những giải pháp quản trị điều hành hiệu quả để duy trì ổn định và phát triển cho tổng công ty này trong 8 năm qua.
Thay ông Đông ở vị trí CEO là ông Phạm Thái Dương – Phó tổng giám đốc. Ông Dương có trình độ kỹ sư xây dựng, thạc sĩ quản trị kinh doanh.
Thành lập năm 1988, trực thuộc Bộ Xây dựng, Vinaconex là một trong những doanh nghiệp xây dựng, bất động sản lâu đời tại Việt Nam. Vinaconex cũng tham gia nhiều dự án hạ tầng, công nghiệp và dân dụng quy mô lớn trên cả nước trước khi cổ phần hóa. Tổng công ty bắt đầu tái cấu trúc khi thoái vốn nhà nước cách đây 6 năm.
Năm nay, doanh nghiệp này đặt mục tiêu doanh thu 15.423 tỷ đồng, giảm 22% so với 2025. Công ty cũng dự kiến lãi sau thuế giảm 73% xuống còn 1.037 tỷ.
Trong quý đầu năm, công ty đạt doanh thu 3.424 tỷ đồng, tăng khoảng 32% so với cùng kỳ 2025. Sau khi trừ các chi phí, Vinaconex lãi trước thuế 451 tỷ, tăng 148%.
Tin Gốc: Vnexpress
Kinh Doanh
Việt Nam vươn thành nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á, vượt Thái Lan về GDP theo sức mua

Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund, IMF) vừa công bố dự báo về quy mô kinh tế của 6 nước lớn ở Đông Nam Á giai đoạn 2026 - 2031, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Đáng chú ý, tính theo GDP sức mua tương đương (PPP), Việt Nam đang là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất so với các quốc gia trên.
Cụ thể, riêng năm 2026, GDP PPP của Việt Nam đạt 2.025 tỉ USD, vượt Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore, chỉ đứng sau Indonesia với 5.230 tỉ USD. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất ngoài Indonesia vượt mốc 2.000 tỉ USD.
Khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan tiếp tục nới rộng. Đến năm 2031, dự báo GDP PPP Việt Nam đã cao hơn Thái Lan hơn 500 tỉ USD, bỏ xa Malaysia và Philippines, qua đó củng cố vị thế nền kinh tế lớn thứ hai ASEAN.
Dù vẫn còn khoảng cách với Indonesia, Việt Nam lại là nước thu hẹp nhanh nhất với nền kinh tế lớn nhất khu vực. Từ mức tương đương khoảng 39% quy mô của Indonesia năm 2026, đến năm 2031, Việt Nam được dự báo đạt gần 46%.
Đáng chú ý, Việt Nam ngày càng vượt xa Singapore về quy mô kinh tế, nhưng "đảo quốc sư tử" vẫn dẫn đầu tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người. Đến năm 2031, GDP PPP của nước ta được dự báo gấp hơn 2,2 lần Singapore, phản ánh lợi thế về quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng.
TS Nguyễn Anh Vũ - Trưởng khoa tài chính Trường đại học Ngân hàng - cho biết cần phân biệt giữa GDP danh nghĩa và GDP theo sức mua tương đương (PPP), bởi hai chỉ số phản ánh những khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.
GDP danh nghĩa thể hiện tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ một quốc gia tạo ra, quy đổi theo tỉ giá hiện hành sang USD. Trong khi đó, GDP PPP phản ánh sức mua thực tế, tức cùng một số tiền có thể mua được bao nhiêu hàng hóa và dịch vụ ở mỗi quốc gia sau khi đã điều chỉnh theo mặt bằng giá.
Ví dụ, theo dữ liệu của World Bank, GDP danh nghĩa của Việt Nam năm 2024 đạt hơn 476 tỉ USD, còn GDP PPP đạt 1.650 tỉ USD, gấp khoảng 4 lần. Trong khi đó, hai chỉ số này trong năm 2024 của Mỹ lần lượt là 28.750 tỉ USD và hơn 29.180 tỉ USD, gần như tương đương.
Theo dự báo của IMF, năm 2026, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vượt mốc 500 tỉ USD theo GDP danh nghĩa và đạt hơn 2.000 tỉ USD theo GDP PPP.
Thước đo GDP PPP xuất phát từ Chương trình so sánh quốc tế (International Comparison Program) của World Bank. Mức giá toàn cầu là cơ sở để so sánh chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia khác nhau. Chỉ số này được đo bằng sức mua tương đương (PPP), qua đó cho thấy cần bao nhiêu tiền để mua cùng một mặt hàng ở những nơi khác nhau.
TS Nguyễn Anh Vũ lấy ví dụ, nếu một chiếc hamburger ở Mỹ có giá khoảng 6 USD, trong khi một chiếc tương tự ở Việt Nam chỉ khoảng 40.000 đồng, tương đương khoảng 1,5 USD. Vì vậy, với cùng 1 USD, người dân ở Việt Nam có thể mua được lượng hàng hóa, dịch vụ tương đương khoảng 3 - 4 USD ở Mỹ.
Đây là lý do quy mô kinh tế của Việt Nam khi tính theo sức mua cao hơn nhiều so với GDP danh nghĩa quy đổi theo tỉ giá.
Năm 2006, GDP danh nghĩa của Thái Lan là hơn 220 tỉ USD, trong khi Việt Nam chỉ ở mức hơn 66 tỉ USD. Đến năm 2024, hai chỉ số trên của Thái Lan lần lượt gần 530 tỉ USD và 1.770 tỉ USD, còn của Việt Nam gần 480 tỉ USD và 1.650 tỉ USD.
Với dự báo mới công bố của IMF vào tháng 4-2026, TS Nguyễn Anh Vũ cho rằng: "Việc Việt Nam vượt Thái Lan theo chỉ tiêu GDP PPP, sau đó có thể cả GDP danh nghĩa là hợp lý. Bởi Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn Thái Lan trong thời gian dài, nếu tiếp tục giữ đà thì khoảng cách sẽ còn nới rộng".
Tuy vậy, ông nhấn mạnh điều này không có nghĩa Việt Nam đã vượt Thái Lan về kinh tế. Khi so sánh mức sống người dân, GDP bình quân đầu người danh nghĩa hay GDP bình quân đầu người theo PPP là chỉ tiêu chính xác hơn. Theo cách tính này, Việt Nam hiện vẫn thấp hơn Thái Lan đáng kể.
Chẳng hạn, GDP bình quân đầu người danh nghĩa của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là gần 7.350 USD và gần 4.720 USD vào năm 2024. Còn GDP bình quân đầu người theo PPP của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là hơn 24.710 USD và 16.385 USD.
Diễn biến trên xuất phát từ việc quy mô nền kinh tế của hai nước đã tương đương, nhưng Việt Nam có hơn 100 triệu dân, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 70 triệu người.
TS Nguyễn Anh Vũ ví dụ: "Hai gia đình đều có tổng thu nhập 10 triệu đồng mỗi tháng. Nhưng nếu một gia đình có 10 người, còn gia đình kia chỉ có 7 người, thì mức sống của gia đình ít người sẽ cao hơn".
Do đó, để đánh giá đời sống người dân, cần nhìn vào GDP bình quân đầu người thay vì tổng quy mô nền kinh tế. Việt Nam vẫn cần thêm một giai đoạn tăng trưởng cao để thu hẹp khoảng cách về mức sống với Thái Lan.
Dù vậy, TS Nguyễn Anh Vũ nhấn mạnh: "Việc quy mô nền kinh tế của Việt Nam tính theo GDP danh nghĩa và GDP PPP đã gần bằng, thậm chí vượt Thái Lan, để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai khu vực là một cột mốc quan trọng. Đây là kết quả của nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực và tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo".
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Liên danh CII - IMIC được giao nghiên cứu cải tạo trục hạ tầng Hàng Xanh - Bình Triệu

UBND TP HCM vừa chấp thuận đề xuất của Sở Tài chính cùng các sở ngành liên quan về việc giao liên danh gồm Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP HCM, Công ty TNHH Đối tác công tư CII và Công ty cổ phần Xây dựng hạ tầng IMIC nghiên cứu, lập hồ sơ đề xuất dự án cải tạo hạ tầng giao thông khu vực Hàng Xanh - Bình Triệu theo phương thức đối tác công tư (PPP).
Theo yêu cầu của thành phố, liên danh nhà đầu tư phải tự thu xếp toàn bộ kinh phí nghiên cứu và hoàn thành báo cáo nghiên cứu tiền khả thi trong 3 tháng. Quá thời hạn này, chấp thuận nghiên cứu sẽ hết hiệu lực và doanh nghiệp tự chịu mọi chi phí phát sinh.
Việc giao nghiên cứu không đồng nghĩa với chỉ định nhà đầu tư thực hiện dự án. Sau khi dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư và công bố theo quy định, TP HCM sẽ tổ chức lựa chọn nhà đầu tư.
Theo định hướng nghiên cứu do CII công bố, dự án cải tạo hạ tầng giao thông khu vực Hàng Xanh - Bình Triệu có quy mô gần 27 ha, kéo dài từ ngã tư Hàng Xanh đến cầu Bình Triệu, thuộc địa bàn quận Bình Thạnh cũ. Phương án nghiên cứu bao gồm cải tạo đồng bộ các nút giao và hệ thống hạ tầng giao thông, bố trí khu tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng, đồng thời nghiên cứu quỹ đất thanh toán hợp đồng BT.
Tổng mức đầu tư tuyến hạ tầng trên ước tính hơn 10.200 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp thu xếp phần lớn nguồn vốn, còn ngân sách tham gia chi phí giải phóng mặt bằng. Đổi lại, nhà đầu tư đề xuất được thanh toán bằng quỹ đất bến xe Miền Đông hiện hữu. Một phần quỹ đất sẽ dùng làm tái định cư và công trình công cộng, phần còn lại khai thác để hoàn vốn.
Doanh nghiệp đánh giá đây không chỉ là dự án giao thông đơn lẻ mà còn đóng vai trò kết nối các trục hạ tầng chiến lược như tuyến Tân Sơn Nhất - Thủ Thiêm, Tân Sơn Nhất - Long Thành và hành lang phía Bắc thành phố qua quốc lộ 13.
Trước đó, CII cũng đề xuất phát triển khu đô thị TOD Hàng Xanh quy mô 51,4 ha với tổng vốn gần 487.000 tỷ đồng (hơn 18,5 tỷ USD), kỳ vọng giải quyết ùn tắc và ngập nước tại cửa ngõ phía Đông TP HCM thông qua mô hình giao thông công cộng đa tầng.
Khu vực Hàng Xanh hiện tập trung nhiều trục giao thông huyết mạch như Điện Biên Phủ, Xô Viết Nghệ Tĩnh, quốc lộ 13, Đinh Bộ Lĩnh và Nguyễn Xí. Đây đều là các tuyến có mật độ phương tiện cao, thường xuyên xảy ra ùn tắc do hạ tầng quá tải và nhiều nút giao cắt phức tạp.
CII là một trong những doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực hạ tầng giao thông tại TP HCM, từng tham gia nhiều dự án như mở rộng Xa lộ Hà Nội giai đoạn 2, đầu tư hạ tầng khu dân cư phía Bắc và hoàn thiện trục Bắc - Nam trong khu đô thị mới Thủ Thiêm. Doanh nghiệp cũng được biết đến với vai trò nhà đầu tư tuyến cao tốc TP HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận.
Tin Gốc: Vnexpress
Kinh Doanh
Ngân hàng Nhà nước mở van thanh khoản, Big 4 có thêm dư địa bơm tín dụng

Ngân hàng Nhà nước mới đây ban hành Thông tư 08 liên quan đến các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Trọng tâm của văn bản này là việc điều chỉnh cách xác định tổng tiền gửi khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Theo quy định mới, tiền gửi của các tổ chức trong và ngoài nước (bao gồm cả tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác) tiếp tục phải loại trừ một số khoản mục trước khi đưa vào mẫu số LDR. Các khoản mục bị loại trừ bao gồm: tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng, tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước và 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
Như vậy, Thông tư 08 chính thức cho phép các ngân hàng thương mại tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức LDR. Phần tiền gửi không kỳ hạn của cơ quan này tiếp tục không được ghi nhận. Việc phân định cơ cấu kỳ hạn là yếu tố nền tảng, do quy định mới không áp dụng đối với toàn bộ hệ thống tiền gửi Kho bạc.
Động thái này đánh dấu sự điều chỉnh cơ chế so với lộ trình thắt chặt trước đó tại Thông tư 26/2022. Trước đây, tỷ lệ khấu trừ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khỏi mẫu số LDR được quy định tăng dần: từ 50% (năm 2023), 60% (năm 2024), 80% (năm 2025) và lên mức 100% kể từ ngày 1/1/2026. Tính đến đầu năm nay, toàn bộ dòng tiền này đã hoàn toàn nằm ngoài công thức xác định LDR.
Tỷ lệ LDR được tính bằng tổng dư nợ cho vay chia cho tổng tiền gửi được phép tính vào nguồn vốn huy động. Trong trường hợp dư nợ cho vay giữ nguyên, việc mẫu số tăng lên sẽ giúp tỷ lệ này giảm xuống.
Ví dụ, một ngân hàng có 2 triệu tỷ đồng tiền gửi và 1,5 triệu tỷ đồng dư nợ cho vay, tương ứng tỷ lệ LDR ở mức 75%. Nếu ngân hàng tiếp nhận thêm 300.000 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn từ Kho bạc Nhà nước, theo quy định mới, 20% số tiền này - tương đương 60.000 tỷ đồng được tính vào mẫu số của LDR.
Khi đó, tổng tiền gửi được phép tính tăng lên 2,06 triệu tỷ đồng, kéo tỷ lệ LDR giảm xuống còn khoảng 72,8%.
Trong bối cảnh trần LDR hiện hành là 85%, việc gia tăng 60.000 tỷ đồng ở mẫu số về lý thuyết có thể tạo thêm khoảng 51.000 tỷ đồng dư địa cho vay.
Tuy nhiên, khả năng mở rộng tín dụng trên thực tế còn phụ thuộc vào hạn mức tăng trưởng tín dụng được cấp, chất lượng tài sản, cơ cấu nguồn vốn, thanh khoản và các chỉ tiêu an toàn nội bộ của từng ngân hàng.
Ngoài ra, việc nới cách tính LDR giúp các nhà băng cải thiện tỷ lệ an toàn và có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, trong đó được hưởng lợi nhiều nhất là nhóm Ngân hàng có vốn nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank).
Tính tới cuối quý I, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh chiếm hơn 99% tiền gửi kho bạc toàn hệ thống. Tỷ lệ LDR của 4 ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank đều tăng trong những tháng đầu năm. Tại ngày 31/3, tỷ lệ này lần lượt ở mức 83%; 82,9%; 84,5% và 83,5%, tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
Các chuyên gia của Chứng khoán MBS nhận định tỷ lệ LDR của các ngân hàng quốc doanh có thể giảm từ 1,1-1,5% so với trước khi thay đổi chính sách. Đồng thời, dư địa cho vay mới được bổ sung tương đương khoảng 0,3-0,4% tổng dư nợ tín dụng hiện tại của toàn hệ thống.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay vẫn ở mức cao, trong khi áp lực giữ mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vẫn hiện hữu. Khi huy động vốn chưa thể cải thiện nhanh, việc nới kỹ thuật trong cách tính LDR giúp các ngân hàng có thêm “không gian” để duy trì nhịp tăng trưởng tín dụng mà không tạo áp lực quá lớn lên chi phí vốn.
Bên cạnh đó, từ đầu năm nay, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém cũng được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, qua đó tạo thêm dư địa cho vay toàn hệ thống. Tuy nhiên, theo MBS, tác động của chính sách này chủ yếu mang tính hỗ trợ cục bộ, giúp giảm áp lực thanh khoản và chi phí vốn ở một số nhà băng cụ thể, thay vì tạo thay đổi lớn trên toàn hệ thống.
Tin Gốc: Dân Trí

