Theo báo cáo công bố ngày 1-5 của tổ chức cho vay thế chấp Nationwide Building Society, giá nhà tại Anh trong tháng 4-2026 đã bất ngờ tăng tháng thứ tư liên tiếp, bất chấp tình hình xung đột tại Trung Đông đang tác động tiêu cực đến niềm tin của người tiêu dùng.
Cụ thể giá nhà tại Anh tăng 0,4% trong tháng 4-2026, nối tiếp đà tăng 0,9% của tháng 3-2026. Kết quả này hoàn toàn đi ngược lại dự báo giảm 0,3% của các chuyên gia kinh tế, trong cuộc khảo sát do Hãng tin Reuters thực hiện.
Nếu so với cùng kỳ năm ngoái, giá nhà đã tăng 3%, vượt qua mức kỳ vọng 2,2%.
Chuyên gia kinh tế trưởng của Nationwide, ông Robert Gardner, nhận định: “Bất chấp những bất ổn do diễn biến tại Trung Đông và hệ lụy giá năng lượng tăng cao, thị trường nhà đất Anh vẫn tiếp tục lấy lại đà tăng trưởng sau giai đoạn chững lại hồi cuối năm ngoái, đầu năm nay”.
Ông đánh giá đây là diễn biến khá bất ngờ, bởi các chỉ số đo lường niềm tin người tiêu dùng đang cho thấy sự suy yếu rõ rệt.
Lý giải về nghịch lý này, ông Gardner cho rằng nhu cầu mua nhà hiện vẫn duy trì ổn định nhờ nền tảng tài chính vững chắc của các hộ gia đình.
Tỉ lệ nợ trên thu nhập hiện đang ở mức thấp nhất trong khoảng 20 năm qua. Đồng thời tốc độ tăng trưởng thu nhập của người dân cũng vượt mức tăng giá nhà trong vài năm trở lại đây.
Bối cảnh thị trường hiện tại đang chịu nhiều sức ép. Kể từ khi cuộc xung đột Iran nổ ra, chi phí tài chính, yếu tố quyết định lãi suất thế chấp tại Anh, đã leo dốc lên mức cao nhất kể từ cuối năm 2024.
Khảo sát dài hạn của tổ chức GfK cũng chỉ ra tâm lý người tiêu dùng đã chạm đáy thấp nhất kể từ năm 2023.
Trước đó vào tháng 3-2026, các chuyên gia khảo sát bất động sản ghi nhận sức mua yếu và tình trạng giảm giá nhà diễn ra trên diện rộng nhất kể từ tháng 1-2024.
Một tổ chức cho vay thế chấp khác là Halifax cũng công bố báo cáo cho thấy giá nhà giảm 0,5% trong tháng 3-2026.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo Hãng tin AFP ngày 13-5, lượng nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Nga vào Liên minh châu Âu (EU) trong quý I năm nay đã đạt mức cao nhất kể từ khi xung đột Nga - Ukraine diễn ra vào năm 2022.
Đà tăng này diễn ra trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới đang gấp rút tìm kiếm nguồn cung năng lượng thay thế cho các tuyến vận chuyển bị gián đoạn bởi cuộc chiến tại Trung Đông.
Theo Viện Kinh tế Năng lượng và Phân tích Tài chính (IEEFA), trong khi các dòng khí đốt qua đường ống từ Nga sang EU gần như đã ngừng hoàn toàn, nhiều quốc gia vẫn duy trì nhập LNG bằng đường biển, trong đó Pháp, Tây Ban Nha và Bỉ là những bên mua chính.
EU trước đó từng cam kết chấm dứt hoàn toàn việc nhập khẩu dầu khí từ Nga vào cuối năm 2027, do ảnh hưởng từ cuộc xung đột tại Ukraine.
Báo cáo cho thấy EU đã nhập khẩu 6,9 tỉ m³ khí đốt từ Nga trong ba tháng đầu năm 2026, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025 và là mức cao nhất kể từ năm 2022.
Đại diện IEEFA thông tin xu hướng này tiếp tục kéo dài sang tháng 4, với mức tăng 17% so với cùng kỳ năm trước.
Hiện Nga vẫn giữ vị trí là nhà cung cấp LNG lớn thứ hai cho khối, chiếm khoảng 14% tổng lượng nhập khẩu.
Trước áp lực cắt giảm phụ thuộc vào Nga, các quốc gia EU đã chuyển hướng mạnh sang Mỹ. Lượng LNG nhập từ Mỹ tăng hơn ba lần trong giai đoạn 2021-2025, riêng quý I năm nay tiếp tục tăng thêm 27%.
"Mỹ sẽ trở thành nhà cung cấp khí đốt lớn nhất của EU vào năm 2026 và có thể chiếm tới 80% lượng LNG nhập khẩu vào năm 2028", IEEFA nhận định, đồng thời lưu ý khí đốt từ Mỹ hiện là nguồn cung đắt đỏ đối với người mua châu Âu.
Chuyên gia phân tích năng lượng khu vực châu Âu Ana Maria Jaller-Makarewicz của IEEFA nhận xét: "Việc châu Âu chuyển từ khí đốt đường ống sang LNG nhằm đảm bảo an ninh nguồn cung và đa dạng hóa thị trường.
Tuy nhiên, những gián đoạn do xung đột tại Trung Đông cùng sự phụ thuộc lớn vào LNG từ Mỹ cho thấy kế hoạch này của châu Âu đã không đạt được cả hai mục tiêu", bà nói.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Giáo hoàng Leo XIV lên tiếng sau chỉ trích của ông Trump, khẳng định ‘không sợ hãi’

Phát biểu với báo chí trước chuyến bay đến Algiers, Giáo hoàng Leo XIV khẳng định ông “không có ý định tranh luận” với Tổng thống Trump, đồng thời nhấn mạnh ông không xem mình là một chính trị gia.
“Tôi tin rằng Giáo hội có nghĩa vụ đạo đức phải lên tiếng một cách rất rõ ràng về việc phản đối chiến tranh, ủng hộ hòa bình và hòa giải”, Giáo hoàng Leo XIV nói.
Trả lời nhà báo Mỹ, Giáo hoàng cho hay: “Tôi không hề sợ hãi, dù là trước chính quyền Trump hay khi lên tiếng mạnh mẽ về thông điệp của Phúc Âm. Chúng tôi không phải là chính trị gia, chúng tôi không nhìn nhận chính sách đối ngoại theo cùng một quan điểm”.
Cùng ngày, Tổng thống Trump từ chối xin lỗi vì đã chỉ trích Giáo hoàng Leo XIV, sau khi vấp phải hàng loạt sự phản đối vì đã lên án người đứng đầu Giáo hội Công giáo.
“Không có gì phải xin lỗi cả. Ông ấy đã sai... Giáo hoàng Leo đã nói những điều sai. Ông ấy phản đối mạnh mẽ những gì tôi đang làm liên quan đến Iran, và bạn không thể để Iran sở hữu vũ khí hạt nhân”, nhà lãnh đạo Mỹ nêu quan điểm.
Trước đó vào ngày 12-4, Tổng thống Trump khẳng định ông không phải “người hâm mộ lớn” của Giáo hoàng Leo, sau khi nhà lãnh đạo toàn cầu của Giáo hội Công giáo kêu gọi hòa bình trong bối cảnh xung đột Trung Đông.
“Tôi không phải là người hâm mộ lớn của Giáo hoàng Leo. Ông ấy là một người rất thiên về tự do, và là người không tin vào việc trấn áp tội phạm", ông Trump nói, đồng thời cáo buộc Giáo hoàng "đang đùa với một quốc gia muốn sở hữu vũ khí hạt nhân”.
Ngoài ra, ông Trump cũng chỉ trích Giáo hoàng “yếu kém trong vấn đề tội phạm, và tệ hại trong chính sách đối ngoại”.
Sau tuyên bố của ông Trump, Thủ tướng Ý Giorgia Meloni đã lên tiếng phản đối và gọi những phát biểu của ông Trump về Giáo hoàng Leo XIV là điều "không thể chấp nhận được".
“Tôi cho rằng những lời lẽ của Tổng thống Trump đối với Đức Thánh Cha là không thể chấp nhận được. Giáo hoàng là người đứng đầu Giáo hội Công giáo, và việc Ngài kêu gọi hòa bình cũng như lên án mọi hình thức chiến tranh là điều đúng đắn và bình thường”, bà Meloni cho biết trong một tuyên bố.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) rời khỏi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) từ hôm nay, theo thông báo được đưa ra một cách bất ngờ ngày 28/4. Giới chức UAE cho biết quyết định này "phản ánh tầm nhìn chiến lược và kinh tế dài hạn, cùng sự thay đổi trong định hướng phát triển năng lượng của đất nước".
"Giờ là lúc chúng tôi tập trung nguồn lực vào những ưu tiên liên quan lợi ích quốc gia", hãng thông tấn WAM đưa tin.
Động thái cho thấy việc UAE rời OPEC không đơn thuần là vì kinh tế, mà nước này dường như đang chủ động tách khỏi những ràng buộc cũ để xây dựng vị thế riêng ở Trung Đông, theo Kristin Diwan, chuyên gia tại Viện Các nước Arab vùng Vịnh, trụ sở tại Mỹ.
"Đó là tuyên bố độc lập của UAE", Diwan nhận định. "Abu Dhabi không còn cảm thấy cần gắn bó với những thể chế không phù hợp với lợi ích của họ".
OPEC được thành lập năm 1960 bởi 5 quốc gia gồm Iran, Iraq, Kuwait, Arab Saudi và Venezuela với mục tiêu bảo vệ lợi ích của các thành viên thông qua phối hợp điều tiết sản lượng dầu mỏ. OPEC hiện có 12 thành viên, trong đó UAE gia nhập tổ chức năm 1967.
UAE đã ám chỉ khả năng rời OPEC suốt nhiều năm, từ khi xuất hiện bất đồng với Arab Saudi về cách điều hành chính sách dầu mỏ trước thềm hội nghị thượng đỉnh OPEC+ hồi tháng 11/2020. Rạn nứt bộc lộ rõ ràng hơn trong cuộc họp tiếp theo vào tháng 7/2021.
UAE muốn nâng sản lượng dầu, vốn đã bị OPEC cắt giảm mạnh trong giai đoạn đại dịch Covid-19, trong khi Arab Saudi chủ trương duy trì chính sách này để giữ giá dầu cao. Khác biệt này xuất phát từ việc Arab Saudi cần giá dầu cao để đảm bảo nguồn thu, tài trợ cho các dự án hạ tầng tốn kém. UAE lại có nền kinh tế đa dạng hơn, ít phụ thuộc trực tiếp vào dầu mỏ.
Arne Lohmann Rasmussen, trưởng bộ phận nghiên cứu tại tổ chức tư vấn rủi ro GRM, trụ sở Đan Mạch, cho biết lập luận của UAE khá rõ ràng. Lượng dầu nằm dưới lòng đất có thể không còn nguyên giá trị trong 5-10 năm tới, khi thế giới đẩy nhanh chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch. Vì thế, khai thác dầu sớm, bán nhiều và giành thị phần khi thị trường còn hấp thụ được là lựa chọn hợp lý hơn.
Abu Dhabi những năm gần đây đã đầu tư để tăng công suất khai thác, với mục tiêu nâng sản lượng từ khoảng 3,4 triệu thùng một ngày lên 5 triệu thùng một ngày vào năm 2027, thậm chí có thể cao hơn về sau. Do đó, một khi rời OPEC, UAE sẽ không còn bị ràng buộc bởi hạn ngạch, có nhiều dư địa hơn để tăng sản lượng nếu muốn, khi chiến sự Iran kết thúc và eo biển Hormuz mở cửa trở lại.
Theo bà Diwan, trong nhiều năm, UAE ở lại OPEC phần nhiều là "vì nể nang vai trò dẫn dắt của Arab Saudi". Nhưng thông báo hôm 28/4 cho thấy "họ sẽ không còn mặc nhiên đi theo sự dẫn dắt của Riyadh nữa".
UAE và Arab Saudi từng là cặp đồng minh quyền lực nhất thế giới Arab, phối hợp chặt chẽ trong nhiều vấn đề, từ cuộc xung đột ở Yemen cho đến kiềm chế ảnh hưởng của Iran. Tuy nhiên, khác biệt chiến lược giữa hai bên ngày càng lộ rõ. Arab Saudi muốn trở thành trung tâm chính trị và kinh tế của khu vực Arab, một cực quyền lực lớn với ảnh hưởng trải rộng từ năng lượng, tài chính tới ngoại giao.
Trong khi đó, UAE lại theo đuổi một mô hình linh hoạt, thực dụng và mang tính toàn cầu hóa hơn. Ở nhiều điểm, tầm nhìn của Abu Dhabi không còn trùng khớp với Riyadh. UAE dần có những tính toán riêng ở Yemen, nội chiến tại Sudan, cũng như cách định hình cấu trúc an ninh vùng Vịnh.
"Những gì chúng ta đang chứng kiến là một UAE hoàn toàn mới", Abdulkhaleq Abdulla, nhà khoa học chính trị có tiếng tại UAE, nói. "Trong tương lai, Abu Dhabi sẽ thể hiện vai trò của mình mạnh mẽ hơn, cả ở khu vực lẫn trên thế giới".
Cuộc xung đột hiện tại giữa Mỹ, Israel với Iran càng thúc đẩy sự tách rời đó. Các đợt tập kích tên lửa và UAV đáp trả từ Iran nhằm vào hạ tầng vùng Vịnh cho thấy sự đoàn kết của khối Arab không mạnh như kỳ vọng.
Khi các nước vùng Vịnh còn cân nhắc cách đối phó Iran, Abu Dhabi đã cắt đứt nhiều mối liên hệ văn hóa và kinh tế lâu năm với Tehran. Arab Saudi lên án Iran nhưng vẫn ủng hộ nỗ lực ngoại giao do Pakistan dẫn dắt. UAE chọn giữ khoảng cách với sáng kiến này, cho thấy Abu Dhabi không hoàn toàn đồng tình với hướng tiếp cận mềm mỏng mà một số đồng minh trong khu vực đang theo đuổi.
"Tất cả các nước vùng Vịnh đều có chính sách riêng nhằm kiềm chế Iran, nhưng mọi nỗ lực đó đều thất bại", Anwar Gargash, một quan chức cấp cao của UAE, phát biểu tại một hội nghị ở Dubai hôm 27/4. "Chúng ta đã thất bại hoàn toàn trong các chính sách của mình".
Ông cho rằng sự đoàn kết của các nước vùng Vịnh "không tương xứng với mức độ nghiêm trọng của thách thức" mà cuộc chiến đặt ra. Trong khi đó, chiếc ô an ninh của Mỹ vẫn tồn tại, nhưng không còn mang cảm giác chắc chắn tuyệt đối như trước.
"Các quốc gia trong khu vực đều phải thích nghi với một thực tế mới là Mỹ không còn là chỗ dựa như trước", bà Diwan nhận định. "Điều đó buộc mỗi nước phải tự tìm con đường riêng".
Điều đó lý giải vì sao UAE ưu tiên các quan hệ song phương có giá trị thực tế, từ Mỹ đến Israel, đồng thời lạnh nhạt với những khuôn khổ khu vực mà họ cho là kém hiệu quả.
UAE tháng 9/2020 ký Hiệp định Abraham, do Tổng thống Mỹ Donald Trump làm trung gian, trở thành quốc gia Arab đầu tiên tại Trung Đông bình thường hóa quan hệ với Israel trong hơn 25 năm. Abu Dhabi coi quan hệ với Tel Aviv là đòn bẩy để tăng ảnh hưởng tại khu vực và là kênh đặc biệt để tiếp cận Washington.
"Không loại trừ khả năng việc UAE rời OPEC là một thỏa thuận ngầm nào đó giữa nước này với Mỹ và Israel, trong đó Abu Dhabi giáng đòn vào OPEC để được Washington và Tel Aviv bảo vệ", Ellen Wald, chuyên gia tại Hội đồng Đại Tây Dương, nói với Middle East Eye. "Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu có một thỏa thuận quốc phòng nào đó giữa các bên được công bố trong tương lai gần".
Giới chức cùng các nhà bình luận thân chính phủ UAE gần đây liên tục đề cập những bước đi tiếp theo mà Abu Dhabi có thể thực hiện nếu theo đuổi hướng đi độc lập hơn. Một số ý kiến cho rằng UAE cũng đang cân nhắc rút khỏi Liên đoàn Arab, Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh hoặc Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, những khuôn khổ đa phương tại khu vực.
Ông Abdulla không loại trừ khả năng UAE sớm có động thái với Liên đoàn Arab, có thể là đóng băng tư cách thành viên, ngừng tài trợ cho tổ chức này, hoặc thậm chí rút lui hoàn toàn.
"UAE cuối cùng đã hành động và nhiều khả năng là vì chiến sự Iran. Đây là thời điểm mở ra cơ hội cho những quyết định mang tính bước ngoặt", Bernard Haykel, giáo sư về vùng Cận Đông tại Đại học Princeton, Mỹ, nhận định.
Tareq al-Otaiba, nhà nghiên cứu người UAE tại Trung tâm Belfer, Đại học Harvard, đã dự đoán được việc nước này rút khỏi OPEC trong một bài luận công bố tuần trước.
"Cuộc xung đột đã cho thấy ai mới là người bạn thực sự", ông al-Otaiba viết. "Điều quan trọng hơn là thế giới Arab sẽ thay đổi ra sao khi UAE quyết định tách khỏi lối đi chung và theo đuổi con đường riêng của mình".
Tin Gốc: Vnexpress

