Trên cơ sở đề xuất của Việt Nam, hội nghị đã thảo luận và nhất trí ra Tuyên bố lãnh đạo ASEAN về các hành động ưu tiên củng cố tự cường khu vực ứng phó với các hệ lụy từ tình hình Trung Đông.
Được tổ chức trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng do xung đột Trung Đông phủ bóng toàn cầu, an ninh năng lượng và an ninh lương thực được chọn làm trọng tâm thảo luận. Kể từ khi căng thẳng tại eo biển Hormuz leo thang, ASEAN ghi nhận chuỗi phản ứng tập thể với tốc độ hiếm thấy, phản ánh vai trò rõ rệt của tổ chức giúp các nước thành viên vượt qua những khó khăn bên ngoài.
Theo TS Nguyễn Tăng Nghị, Trưởng khoa lịch sử và quan hệ quốc tế Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), chỉ trong vòng 6 đến 7 tuần, khối đã tổ chức liên tiếp các cuộc họp cấp bộ trưởng ngoại giao, kinh tế.
Tại Cebu sáng 8-5, lãnh đạo các nước ASEAN cũng đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng.
Ông Nghị nhận định: "Tốc độ phản ứng của ASEAN lần này khá nhanh, cho thấy sự tích cực và quyết liệt rõ rệt của các nước thành viên". Tuy nhiên, chuyên gia này cũng thẳng thắn chỉ ra điểm nghẽn: phản ứng hiện tại vẫn mang tính đối phó khủng hoảng hơn là một chiến lược phòng ngừa chiều sâu.
Để lấp đầy khoảng trống thể chế, một trong những đề xuất củng cố tự cường khu vực được nhắc đến nhiều nhất là thúc đẩy phê chuẩn nhanh Hiệp định An ninh dầu khí ASEAN (APSA).
Theo ông Nghị, đây chính là giải pháp khả thi và cấp thiết nhất trong vòng 12 đến 24 tháng tới. "Việc phê chuẩn không đòi hỏi sửa đổi Hiến chương hay đồng thuận tuyệt đối, chỉ cần đạt đa số là có thể kích hoạt ngay cơ chế chia sẻ rủi ro. Đây là ưu tiên ngắn hạn sống còn cho cả 11 nền kinh tế thành viên" - ông Nghị nhấn mạnh.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, GS Don McLain Gill từ ĐH De La Salle (Philippines) nhấn mạnh tình trạng chuỗi cung ứng dễ bị tổn thương và bối cảnh an ninh có nhiều điểm không chắc chắn ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Theo ông, việc đẩy nhanh phê chuẩn APSA và hiện thực hóa mục tiêu năng lượng tái tạo sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn cho ASEAN.
Đáng chú ý, ngoài APSA, TS Nghị còn đề xuất xây dựng một trung tâm điều phối về khủng hoảng năng lượng chung cho cả ASEAN. Ông lý giải trung tâm này sẽ tập hợp các chuyên gia, nhà tư vấn chính sách và quản trị để dự báo, tính toán và đưa ra giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng cho cộng đồng hơn 680 triệu dân.
"Khi trung tâm này hình thành, họ sẽ tính toán lại bài toán nhập khẩu từ các nguồn cung ở các khu vực khác. Thay vì quá lệ thuộc vào vùng Vịnh, trung tâm sẽ tư vấn, có tính toán và lộ trình để cắt giảm nguồn cung từ đây và tăng nguồn cung từ các khu vực khác như Mỹ hoặc Nga chẳng hạn.
Nếu ASEAN là một cộng đồng, một "siêu nhà nước" theo nghĩa nào đó, thì trung tâm điều phối này sẽ bảo đảm an ninh năng lượng cho cộng đồng đó, đặc biệt khi đây là nền kinh tế đứng thứ 5 thế giới", ông Nghị phân tích.
GS Don McLain Gill đánh giá cao những đề xuất được Thủ tướng Lê Minh Hưng đưa ra, cũng như vai trò quan trọng của Việt Nam đối với các sáng kiến phát triển và an ninh của ASEAN. Ông đặc biệt đánh giá cao cam kết của Việt Nam về việc sẵn sàng hỗ trợ lương thực trong tình huống khẩn cấp và chia sẻ kinh nghiệm quản lý khủng hoảng.
"Những tuyên bố của Thủ tướng hoàn toàn bổ sung và tương thích với các mục tiêu dài hạn của ASEAN. Chúng rất quan trọng và cần được hiện thực hóa nhanh chóng", ông Gill đánh giá.
Cũng theo ông Gill, sáng kiến về khuôn khổ tăng cường ứng phó tập thể của ASEAN đối với cuộc khủng hoảng Trung Đông và các cuộc khủng hoảng trong tương lai là một sáng kiến rất có tầm nhìn xa và là điều ASEAN thực sự cần.
Trong phần lớn lịch sử của mình, ASEAN thường có xu hướng bị động phản ứng thay vì chủ động khi đối mặt với các thách thức và cú sốc nằm xa khu vực. Do đó, sáng kiến này cần được thực hiện nhanh nhất để đảm bảo rằng ASEAN có các điều kiện phù hợp và thuận lợi để lập kế hoạch trước cho các cuộc khủng hoảng tiềm tàng ở bất kỳ khu vực nào trên thế giới, xét trong bối cảnh cục diện an ninh phụ thuộc lẫn nhau cao độ mà chúng ta đang đối mặt.
Trong khi đó, TS Nguyễn Tăng Nghị chỉ ra rằng lợi thế đóng góp của Việt Nam nằm ở ba trụ cột: vị trí địa chiến lược với hơn 3.260km bờ biển án ngữ tuyến hàng hải trọng yếu; "bộ hồ sơ" ngoại giao uy tín được tích lũy trong gần 30 năm từ khi gia nhập ASEAN, và đặc biệt là năng lực chuyển đổi năng lượng thực tiễn.
Đề phát huy những lợi thế này, ông Nghị đề xuất Việt Nam cố gắng đảm nhận một số vai trò điều phối và tham gia vào các cơ chế, đặc biệt là trung tâm điều phối về khủng hoảng năng lượng của ASEAN, trong thời gian tới.
"Việt Nam có thể là một trong những quốc gia tham gia sâu vào các vấn đề này, cùng các nước trong khu vực đưa ra phương án. Từ đó chúng ta biến các sáng kiến, vị thế và chiến lược của Việt Nam trở thành điều có lợi cho khu vực và đương nhiên là có lợi cho sự phát triển của chính Việt Nam", ông Nghị khẳng định.
Một trong những trụ cột chiến lược quan trọng của ASEAN để định hình lại nền kinh tế khu vực, hướng tới phát triển bền vững và toàn diện là Thỏa thuận khung kinh tế số (DEFA) sẽ được ký kết trong năm 2026.
Thỏa thuận này được kỳ vọng hiện thực hóa mục tiêu đưa ASEAN là khu vực kinh tế số hàng đầu với quy mô vượt 2.000 tỉ USD.
Từ Tuyên bố Hà Nội tại Hội nghị Bộ trưởng số ASEAN diễn ra hồi đầu năm, thông qua kế hoạch tổng thể số ASEAN, thúc đẩy đàm phán DEFA, thì tại Hội nghị Hội đồng Cộng đồng Kinh tế ASEAN lần thứ 27 (AECC 27) vừa diễn ra tại Cebu (Philippines) đã có thêm những bước tiến mới. Theo đó, hội nghị ghi nhận tiến độ triển khai 19 Mục tiêu ưu tiên kinh tế (PED) của năm Chủ tịch Philippines 2026, nổi bật là mục tiêu kết thúc cơ bản đàm phán Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Canada (ACAFTA) và ký kết Hiệp định khung về kinh tế số ASEAN (DEFA).
Theo thông tin từ Bộ Công Thương, các nhà lãnh đạo tại hội nghị đã thảo luận sâu về các chương trình nghị sự bền vững và chuyển đổi số. Trong đó đáng chú ý lộ trình Bandar Seri Begawan về chuyển đổi số ASEAN cũng như tiến độ đàm phán Hiệp định khung ASEAN về kinh tế số (DEFA). Mục tiêu các bên đặt ra là kết thúc đàm phán và hướng tới việc ký hiệp định trong năm 2026, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và đóng góp thêm cho tăng trưởng kinh tế khu vực.
Đặt trong bối cảnh kinh tế thương mại toàn cầu đang diễn biến mới, nhanh, phức tạp, Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng khi tham dự hội nghị cũng đã đưa ra những giải pháp định hướng hợp tác mà các nước ASEAN có thể xem xét để nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế khu vực trước những tác động bên ngoài.
Trong đó, bà nhấn mạnh Việt Nam sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với các quốc gia thành viên ASEAN khác để biến những cam kết chung thành hành động thiết thực, tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế ASEAN, vượt qua mọi thách thức và biến động.
Đặc biệt việc sớm triển khai kết thúc đàm phán DEFA để tiến tới ký kết hiệp định càng có ý nghĩa quan trọng, bởi DEFA không chỉ là một sáng kiến thúc đẩy thương mại số và đổi mới sáng tạo, mà còn là công cụ đảm bảo sự tham gia bao trùm và công bằng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME), các công ty khởi nghiệp và cộng đồng trong khu vực.
Việc thúc đẩy để xây dựng khu vực kinh tế kỹ thuật số đầu tiên trên thế giới không phải là không có cơ sở khi nhìn vào tốc độ tăng trưởng rất nhanh, là khu vực phát triển hàng đầu thế giới. Báo cáo e-Conomy SEA 2022 của Google, Temasek và Bain & Company đã chỉ ra nền kinh tế kỹ thuật số của Đông Nam Á có nhiều tiềm năng tăng trưởng khi có 460 triệu người tiêu dùng kỹ thuật số, dân số trẻ và am hiểu công nghệ. Với mức tăng trưởng dự báo là 6%/năm, nền kinh tế số tại khu vực có thể đạt tới con số nghìn tỉ trong những năm tới.
Theo bà Đoàn Thị Thanh Hà, chuyên gia nghiên cứu của Viện Nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á, việc ký kết DEFA có ý nghĩa trong việc hài hòa hóa các quy tắc liên quan đến kinh tế số, ví dụ như thanh toán điện tử, bảo vệ dữ liệu, thuế. Nhờ vậy, các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa, sẽ tiếp cận thị trường ASEAN dễ hơn.
Đây cũng là hiệp định kinh tế số đầu tiên ở quy mô khu vực, thể hiện chủ quyền số của ASEAN, nên nếu DEFA thực sự tạo được bộ quy tắc chung, tăng trưởng thương mại số khu vực sẽ còn tiến xa hơn nữa.
Tuy nhiên, bà Hà cho rằng tốc độ phát triển nhanh cần đi kèm với thể chế có thể đáp ứng được yêu cầu. Vì phát triển và hợp tác kinh tế số cũng có một số rủi ro đặt ra.
Ví dụ như vấn đề về bảo vệ người tiêu dùng khi người dân mua hàng online xuyên biên giới, vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân, cũng như sự cạnh tranh của các nền tảng số lớn có thể làm giảm cơ hội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Song song đó là sự phát triển không đồng đều về kinh tế số giữa các quốc gia trong khu vực, có thể tạo nên rào cản khiến cho những nỗ lực triển khai bị kéo chậm lại.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ