Những ngày gần đây, cá voi (ngư dân gọi là cá Ông) liên tục xuất hiện, vẫy vùng ở vùng biển Mũi Né. Ngư dân phấn khởi reo hò, ghi lại hình ảnh cá voi tung tăng trên mặt nước.
Theo ông Nguyễn Ngọc Ẩn, Giám đốc Bảo tàng cổ vật Mũi Né, một nhà nghiên cứu văn hóa địa phương, việc cá voi xuất hiện ở vùng biển này không phải hiếm. Tuy nhiên, với tần suất liên tục như thời gian qua, trong bối cảnh vùng biển từng chịu áp lực khai thác tài nguyên, đây là tín hiệu đáng mừng.
Ông Ẩn cho rằng, sự hiện diện của cá voi không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, biểu trưng cho bình yên biển cả, mà còn phản ánh môi trường biển còn trong lành, nguồn lợi thủy sản vẫn dồi dào.
Cá voi là loài săn mồi cấp cao, phụ thuộc vào nguồn cá nhỏ và sinh vật phù du. Khi cá voi xuất hiện, có thể suy ra hệ sinh thái vẫn đủ sức nuôi dưỡng các loài lớn.
Trong bối cảnh vùng biển Nam Trung bộ chịu áp lực từ khai thác và biến đổi khí hậu, việc cá voi xuất hiện cho thấy hệ sinh thái chưa suy kiệt. Ngược lại, nếu cá voi dạt bờ trong trạng thái suy yếu, đó có thể là cảnh báo về ô nhiễm, tiếng ồn dưới nước hoặc biến động dòng chảy.
Theo quan niệm dân gian, cá Ông là biểu tượng tâm linh bền vững của ngư dân miền biển. Những câu chuyện cá Ông cứu nạn giữa khơi xa được truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bồi đắp niềm tin sâu sắc.
Vì vậy, mỗi khi cá Ông “lụy bờ” (chết dạt bờ), ngư dân đều tổ chức tang lễ trang nghiêm với đầy đủ nghi thức. Tín ngưỡng này gắn bó chặt chẽ với đời sống làng chài, vừa là điểm tựa tinh thần, vừa góp phần gắn kết cộng đồng, giúp ngư dân yên tâm bám biển.
Ông Ẩn kể, cá Ông từng nhiều lần cứu ngư dân trên biển. “Ông nội tôi từng được cá Ông cứu sống khi gặp nạn trên biển. Sau đó, ông đã hiến đất để xây lăng cá Ông tại Hàm Tiến (nay thuộc phường Mũi Né – PV). Từ đó về sau, mỗi tháng ông đều mang 6 lít dầu lửa đến lăng vạn để thắp nhang, đèn cúng ông Nam Hải”, ông Ẩn kể.
Theo ông Hai Long, ngư dân Mũi Né, giai đoạn 2010 – 2023 ghi nhận nhiều trường hợp cá voi nhỏ dạt bờ. “Theo tập tục cha ông, nơi nào có Ông lụy thì nơi đó biển yên, môi trường trong lành, nguồn lợi còn phong phú”, ông Hai Long chia sẻ.
Hiện nay, tại vạn Làng chài Mũi Né có khu chôn cất cá Ông. Sau vài năm, bộ xương được cải táng, đưa về thờ tại Lăng ông Nam Hải (phường Phan Thiết), nơi lưu giữ hàng chục bộ cốt cá Ông qua nhiều thế hệ.
Theo ông Nguyễn Ngọc Ẩn, sự xuất hiện của cá voi đang mở ra một hướng tiếp cận mới cho du lịch Mũi Né. Trong bối cảnh địa phương được định vị là khu du lịch quốc gia, việc đa dạng hóa và làm mới sản phẩm trở thành yêu cầu cấp thiết.
Hiện nay, du lịch Mũi Né chủ yếu dựa vào các lợi thế sẵn có như biển, đồi cát và nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, những sản phẩm này đang dần bão hòa, thiếu yếu tố mới để giữ chân và tạo hứng thú cho du khách. Vì vậy, việc gắn yếu tố tự nhiên như cá voi với trải nghiệm du lịch sinh thái, văn hóa được xem là hướng đi tiềm năng, góp phần làm phong phú sản phẩm và nâng cao sức hấp dẫn cho điểm đến.
“Cá voi có thể trở thành một phần của sản phẩm du lịch sinh thái – văn hóa nếu được khai thác đúng cách. Tôi nghĩ các doanh nghiệp du lịch cần khai phá để có những tour khám phá biển. Trên thế giới, mô hình du lịch quan sát cá voi đã phát triển mạnh, nhưng luôn đi kèm quy định nghiêm ngặt để bảo vệ loài và môi trường sống”, ông Ẩn gợi mở.
Hướng đi khả thi với Mũi Né là kết hợp tham quan Lăng ông Nam Hải, tìm hiểu tín ngưỡng cá Ông và phát triển các tour trải nghiệm biển. Tuy nhiên, yếu tố then chốt là kiểm soát hoạt động trên biển. Nếu tàu thuyền bám đuổi tự phát, gây tiếng ồn, cá voi có thể rời đi, thậm chí ảnh hưởng hệ sinh thái.
Ở góc độ kinh tế, khi môi trường biển được bảo vệ, nguồn lợi thủy sản ổn định, ngư dân có thể bám biển lâu dài. Đồng thời, du lịch phát triển sẽ mở thêm sinh kế từ dịch vụ.
Sự xuất hiện của cá voi ở Mũi Né vì thế không chỉ là hiện tượng tự nhiên. Đây còn là phép thử đối với cách con người ứng xử với biển. Nếu được gìn giữ đúng cách, đó sẽ là nền tảng cho mô hình phát triển bền vững, nơi môi trường, văn hóa và kinh tế cùng song hành.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú vừa ký ban hành Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài.
Theo đó, Bộ Chính trị cơ bản thống nhất với tờ trình của Chính phủ về giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài, trong đó không xác định danh mục các dự án được xem xét xử lý, tháo gỡ, chỉ xem xét những dự án đã được cơ quan thanh tra, kiểm tra có kết luận, tòa án có bản án, theo nguyên tắc đã được Bộ Chính trị đặt ra từ Kết luận số 77-KL/TW, ngày 2.5.2024.
Trên cơ sở đó, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, gắn với trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu, khẩn trương rà soát kỹ các dự án, xác định vấn đề vướng mắc cụ thể và thẩm quyền xử lý để chủ động giải quyết hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết theo Kết luận số 18-KL/TW, ngày 2.4.2026 của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV của Đảng. Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm rà soát không để xảy ra trường hợp còn có dự án tồn đọng nhưng không được tổng hợp, xem xét xử lý, tháo gỡ.
Kết luận nêu rõ, Bộ Chính trị đồng ý nguyên tắc có cơ chế đặc thù để xử lý các sai phạm ngoài phạm vi các cơ chế đã được quy định tại Kết luận số 77-KL/TW ngày 2.5.2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30.11.2024 của Quốc hội.
Bộ Chính trị giao Đảng ủy Chính phủ chủ trì, thống nhất với Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy các cơ quan tư pháp đề xuất cụ thể cơ chế, chính sách, báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bảo đảm nguyên tắc nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng, bảo đảm năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật.
Đồng ý nguyên tắc cho phép xem xét, xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án, đất đai và các dự án thuộc lĩnh vực khác theo hướng xem xét xử lý tháo gỡ đồng thời với quá trình xử lý trách nhiệm theo các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, bảo đảm không hợp pháp hóa các sai phạm, không làm phát sinh sai phạm mới và có phương án khắc phục thiệt hại; hạn chế tối đa các khiếu kiện, nhất là đối với các dự án có yếu tố nước ngoài; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình.
Bộ Chính trị giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cấp ủy các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm, sai phạm trước, trong và sau khi giải quyết các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, không để phát sinh sai phạm mới.
Ngày 12/5, lãnh đạo UBND xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng, cho biết, lực lượng chức năng đã khống chế kịp thời vụ cháy xảy ra tại căn nhà 2 tầng ở thôn Ninh Hòa, không để lửa lan sang khu dân cư xung quanh.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 16h20 cùng ngày, người dân phát hiện lửa bốc lên từ tầng 2 căn nhà của gia đình bà Vũ Thị Phượng nên hô hoán, hỗ trợ các thành viên trong nhà thoát ra ngoài, thực hiện các biện pháp dập lửa và báo vụ việc lên cơ quan chức năng.
Nhận tin, Đội Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ khu vực 2, Công an tỉnh Lâm Đồng điều động hàng chục cán bộ, chiến sĩ cùng 2 xe chữa cháy đến hiện trường dập lửa.
Lực lượng thuộc Trung đoàn 994, Ban Chỉ huy Quân sự xã Ninh Gia, Công an xã Ninh Gia cũng tham gia hỗ trợ người dân di dời tài sản, ngăn lửa cháy lan sang các căn nhà liền kề.
Sau hơn 30 phút, đám cháy được khống chế hoàn toàn. Vụ hỏa hoạn không gây thiệt hại về người nhưng nhiều tài sản, vật dụng tại tầng 2 căn nhà bị thiêu rụi.
Tại buổi tiếp xúc ở phường Long Xuyên, nhiều cử tri phản ánh tình trạng người dân sinh sống ven sông, kênh rạch trong điều kiện không an toàn, trong khi chưa có quy định thống nhất để quản lý xây dựng nhà ở tại các khu vực có nguy cơ sạt lở cao.
Theo cử tri, cần sớm ban hành quy định mang tính pháp lý trên phạm vi cả nước nhằm kiểm soát việc xây dựng nhà ở ven sông, hạn chế nguy cơ sạt lở và đảm bảo an toàn cho người dân.
"Không thể để nơi làm kiểu này, nơi khác làm kiểu khác, trong khi người dân vẫn phải sống thấp thỏm trên những bờ sông nguy hiểm", một cử tri nêu ý kiến.
Bên cạnh đó, nhiều cử tri bày tỏ lo ngại trước tình trạng khai thác đá tại khu vực Bảy Núi.
Theo người dân, đây là vùng có cảnh quan, địa hình và giá trị lịch sử đặc biệt, hình thành qua hàng triệu năm nên cần được bảo tồn và khai thác hợp lý.
Cử tri đề nghị ưu tiên đầu tư phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và bảo tồn các "địa chỉ đỏ" gắn với lịch sử cách mạng tại khu vực Bảy Núi, thay vì khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát.
"An Giang có núi, có đồng bằng, có sông ngòi và hệ sinh thái đặc trưng. Bảy Núi không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn gắn với lịch sử, văn hóa của vùng đất này. Không thể để tình trạng khai thác quá mức làm ảnh hưởng cảnh quan và hệ sinh thái", một cử tri nói.
Ngoài các vấn đề về sạt lở và khai thác tài nguyên, cử tri cũng kiến nghị Quốc hội, Chính phủ và địa phương tiếp tục quan tâm các chính sách an sinh xã hội, an toàn thực phẩm, y tế, nhà ở xã hội và nâng cao đời sống người dân.
Phát biểu tại buổi tiếp xúc, bà Võ Thị Ánh Xuân ghi nhận các ý kiến tâm huyết của cử tri, đồng thời cho biết Trung ương đang đặc biệt quan tâm đến các vấn đề an sinh xã hội, giáo dục, y tế, môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Phó chủ tịch nước, Bộ Chính trị đã ban hành kết luận số 26 về các giải pháp khắc phục sạt lở, sụt lún, hạn hán và xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2035. Trên cơ sở đó các địa phương cần rà soát, quy hoạch lại dân cư, sản xuất và khai thác tài nguyên theo hướng bền vững.
"Những khu vực thường xuyên xảy ra sạt lở, sụt lún phải được tính toán quy hoạch, di dời dân cư theo lộ trình phù hợp để người dân yên tâm sinh sống", bà Xuân nhấn mạnh.
Liên quan đến việc khai thác đá và vật liệu xây dựng phục vụ các dự án giao thông trọng điểm, Phó chủ tịch nước cho rằng đây là bài toán khó trong bối cảnh cả nước đang triển khai hàng loạt công trình lớn. Tuy nhiên việc khai thác phải được tính toán kỹ lưỡng, nhằm hạn chế thấp nhất tác động đến môi trường và nguy cơ sạt lở.
Bà Xuân cũng đề nghị tỉnh An Giang tiếp tục rà soát, đánh giá trữ lượng tài nguyên, quy hoạch phát triển công nghiệp - nông nghiệp hợp lý, đồng thời chú trọng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, nhất là khu vực Bảy Núi.
Phó chủ tịch nước đánh giá khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang được Trung ương đặc biệt quan tâm đầu tư với nhiều dự án cao tốc, cầu và tuyến kết nối liên vùng. Riêng An Giang hiện đang triển khai nhiều công trình lớn như tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng cùng các dự án phục vụ APEC 2027.