Ngay đầu mùa khô năm 2026, hệ thống điện quốc gia đối mặt với áp lực vận hành cực lớn khi nhu cầu phụ tải dự báo tăng cao từ 10 – 12%. Khó khăn gia tăng khi thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng xuất hiện sớm. Đặc biệt, nguy cơ tái xuất hiện El Nino có thể khiến lưu lượng nước về các hồ thủy điện suy giảm đáng kể, làm tăng nguy cơ hạn hán và thiếu nước nghiêm trọng.
Không chỉ đối mặt với yếu tố thủy văn bất lợi, công tác sản xuất điện còn chịu tác động từ biến động thị trường quốc tế. Nguồn cung than nhập khẩu bị hạn chế, chi phí vận chuyển tăng cao do xung đột chính trị tại Trung Đông.
Trong bối cảnh nhiều thách thức đó, Đảng ủy Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) đã sớm ban hành chỉ thị, xác định vận hành an toàn, ổn định các tổ máy là nhiệm vụ chính trị xuyên suốt, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Tổng công ty.
Để thực hiện mục tiêu này, lãnh đạo EVNGENCO1 yêu cầu khối nhiệt điện phải đảm bảo đủ nhiên liệu than, dầu cho mọi tình huống; khối thủy điện phải tuân thủ nghiêm điều tiết hồ chứa và quy trình vận hành liên hồ chứa.
Ban lãnh đạo Tổng công ty cũng đã chủ động làm việc với các nhà cung cấp than nhập khẩu để thúc đẩy các cam kết cung ứng tối đa cho các tháng cao điểm mùa khô, trọng tâm là tháng 4, tháng 5.
Đến nay, tại các đơn vị thủy điện trực thuộc EVNGENCO1, nhiều giải pháp ứng phó đã được triển khai linh hoạt, hiệu quả. Điển hình như tại Thủy điện Bản Vẽ – hồ chứa thủy điện lớn nhất khu vực Bắc Trung bộ, NSMO đã đề xuất điều chỉnh vận hành linh hoạt trong mùa khô theo hướng giảm huy động vào giờ thấp điểm ban đêm, buổi trưa và hạn chế xả nước hạ du trong ngày cuối tuần, ngày lễ nhằm ưu tiên tích nước phục vụ cao điểm nắng nóng.
Đơn vị cũng chủ động phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An kêu gọi chính quyền cùng người dân nâng cao ý thức tiết kiệm điện, nước nhằm giảm áp lực cho hồ chứa, đảm bảo nguồn nước cho sản xuất tại địa phương.
Tại Công ty Thủy điện Sông Tranh, nhiều tín hiệu tích cực được ghi nhận nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng về phương án kỹ thuật. Đến hết quý 1/2026, mực nước hồ chứa Thủy điện Sông Tranh 2 đã đạt cao trình 172,08 m, cao hơn 0,78 m so với mực nước cao nhất theo quy định, tạo tiền đề quan trọng đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất điện và cấp nước cho vùng hạ du.
Đặc biệt, sản lượng điện quý 1 của nhà máy đạt 174,79 triệu kWh, tương đương 112,7% kế hoạch quý do EVNGENCO1 giao. Đây là con số cho thấy năng lực vận hành linh hoạt, hiệu quả của đơn vị trong bối cảnh hệ thống điện quốc gia luôn đòi hỏi sự ổn định và an toàn cao.
Cùng với thủy điện, các nhà máy nhiệt điện hiện hữu, tiêu biểu là cụm nhà máy thuộc Công ty Nhiệt điện Duyên Hải (tại Vĩnh Long) cũng đã thể hiện vai trò quan trọng trong bù đắp, đảm bảo cung ứng điện cho hệ thống khi các nguồn điện mới còn hạn chế.
Giữa tháng 4.2026, Phó tổng giám đốc EVN Phạm Lê Phú đã trực tiếp kiểm tra tình trạng thiết bị và công tác chuẩn bị nhiên liệu tại Công ty Nhiệt điện Duyên Hải. Báo cáo cho thấy, quý 1/2026, các tổ máy tại Duyên Hải vận hành ổn định, không xảy ra sự cố; công tác bảo dưỡng chủ động, đáp ứng tốt yêu cầu vận hành mùa khô.
Trước đó, để ứng phó với thách thức đứt gãy chuỗi cung ứng nhiên liệu toàn cầu, EVNGENCO1 đã chỉ đạo Công ty Nhiệt điện Duyên Hải khẩn trương phối hợp với các ban chuyên môn của Tổng công ty làm việc với các đối tác bổ sung nguồn cung than nhập khẩu trong các tháng mùa khô; đồng thời triển khai các giải pháp quản lý chất lượng than tồn kho như gom vét, phối trộn. Yêu cầu đặt ra là bằng mọi giá phải đảm bảo nguồn than, không để xảy ra tình trạng thiếu nhiên liệu dẫn đến ngừng tổ máy.
Cũng như Duyên Hải, các đơn vị nhiệt điện khác của EVNGENCO1 như Nghi Sơn, Quảng Ninh và Uông Bí cũng đang nỗ lực hết mình. Các đơn vị đang đồng loạt triển khai giải pháp kỹ thuật, vận hành để vừa bảo đảm sản lượng điện, vừa đáp ứng yêu cầu môi trường và nâng cao hiệu quả. Trong đó, Quảng Ninh và Uông Bí tập trung xử lý bài toán môi trường và nguồn than; Nghi Sơn ưu tiên tối ưu suất tiêu hao. Ngoài ra, các dự án nâng cấp SCADA và an toàn hệ thống OT được đẩy mạnh, hướng tới hiện đại hóa quản lý và bảo vệ hạ tầng năng lượng quốc gia.
Kết thúc quý 1/2026, toàn EVNGENCO1 đã đạt tổng sản lượng điện 8,4 tỉ kWh, bám sát kế hoạch đề ra bất chấp các biến động thị trường nhiên liệu và phụ tải. Sang tháng 4, Tổng công ty đặt mục tiêu sản lượng 3,53 tỉ kWh, tập trung duy trì độ khả dụng cao nhất của các tổ máy nhiệt điện phía Bắc nhằm đáp ứng yêu cầu huy động cao điểm mùa khô.
Dù còn tiềm ẩn nhiều thách thức từ thiên tai đến biến động toàn cầu, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt và nỗ lực không ngừng, EVNGENCO1 tự tin sẽ vượt qua mọi trở ngại, góp phần đảm bảo nguồn điện ổn định cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Gần 1 tháng qua, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới liên tục giảm. Từ mức trên 30 triệu đồng/lượng cuối tháng 3, mức chênh giảm còn khoảng 24 - 26 triệu đồng/lượng đầu tháng 4.
Giữa tháng 4, chênh lệch thu hẹp về vùng 19 - 22 triệu đồng/lượng. Chốt tuần này, mức chênh chỉ còn hơn 18 triệu đồng/lượng.
TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, chênh lệch giá vàng thu hẹp nhanh trong thời gian ngắn phản ánh sự thay đổi đồng thời ở cả hai phía: tâm lý thị trường và cấu trúc cung - cầu nội địa.
Mức chênh lệch 28 - 30 triệu đồng/lượng trước đây phần lớn là "phí tâm lý" khi nhu cầu nắm giữ vàng trong dân tăng mạnh trong giai đoạn bất ổn. Khi tâm lý tích trữ giảm xuống, phần "phí tâm lý" này sẽ co lại nhanh hơn nhiều so với tốc độ biến động của giá vàng thế giới.
Quan trọng là lực cầu trong nước hiện nay đang suy yếu rõ rệt. Người dân không còn tâm lý mua đuổi khi giá neo cao quá lâu, trong khi các kênh đầu tư khác dần hấp dẫn trở lại.
Khi cầu giảm, các doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh giá bán về gần hơn với giá thế giới để kích giao dịch. Đây là yếu tố kỹ thuật khiến chênh lệch bị nén lại.
"Cạnh đó, cơ quan quản lý thời gian qua liên tục phát tín hiệu kiểm soát thị trường vàng chặt chẽ hơn. Khi thị trường nhận thấy rủi ro chính sách gia tăng, xu hướng đầu cơ, găm giữ vàng cũng giảm. Điều này làm giá vàng trong nước khó duy trì mức cao bất thường như trước", ông Nhân nói.
Theo chuyên gia vàng Trần Duy Phương, từ đầu tháng 4 trở lại đây, trên thị trường vàng xuất hiện những diễn biến đáng chú ý. Ví dụ, có những ngày, bất chấp giá vàng thế giới tăng, giá vàng trong nước lại giảm.
Ngoài ra, khoảng cách giá mua vào và bán ra nhiều thời điểm được kéo giãn tới 3,5 - 4 triệu đồng/lượng, trong khi thông thường chỉ khoảng 2 triệu đồng/lượng. Điều đó chứng tỏ, lực mua trên thị trường yếu hơn lực bán.
Yếu tố khác được ông Phương đề cập là mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã công bố danh sách 11 đơn vị xin cấp phép sản xuất vàng miếng, mở ra khả năng gia tăng nguồn cung. Sắp tới, dù chỉ vài tấn vàng được bổ sung ra thị trường cũng có thể góp phần giải tỏa tâm lý găm giữ vàng.
Xét bối cảnh hiện tại, ông Phương dự báo, trong 2 - 3 tháng tới, chênh lệch giá vàng có thể giảm về mức 12 - 13 triệu đồng/lượng, bất kể xu hướng tăng hay giảm của vàng quốc tế.
"Nếu giá vàng thế giới tăng, cầu yếu sẽ khiến giá vàng trong nước tăng chậm hơn, qua đó tự động thu hẹp khoảng cách giá. Ngược lại, nếu giá vàng thế giới đi ngang hoặc giảm, giá vàng trong nước sẽ có xu hướng giảm nhanh hơn nhằm kích thích nhu cầu mua, cũng khiến chênh lệch tiếp tục thu hẹp", ông Phương phân tích.
Về triển vọng đầu tư dài hạn, cả ông Nhân và ông Phương đều chung nhận định, 2026 không phải là năm "sáng cửa" của vàng.
Ông Nhân lý giải, trên thế giới, giá vàng đã phản ánh phần lớn các rủi ro: lãi suất cao kéo dài, xung đột địa chính trị, bất ổn tài chính.
Nghĩa là biên độ tăng thêm của vàng không còn quá lớn như giai đoạn trước, trong khi rủi ro điều chỉnh lại hiện hữu nếu các ngân hàng T.Ư bắt đầu nới lỏng chính sách tiền tệ và đồng USD suy yếu theo hướng có kiểm soát.
Trong nước, giá vàng neo cao thời gian dài, chênh lệch giá với thế giới dù đã giảm song vẫn ở mức khá cao, thanh khoản thực tế giảm sút. Người mua mới sẽ đối diện rủi ro rất lớn về giá mua - bán và khả năng "mắc kẹt" nếu thị trường điều chỉnh. Nói cách khác, vàng hiện nay không thuận lợi cho mục tiêu sinh lời ngắn hạn lẫn trung hạn.
Trong khi đó, mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng nhích lên, chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng ổn định, kiểm soát lạm phát tốt. Tiền gửi tiết kiệm vì vậy trở lại đúng vai trò truyền thống là kênh giữ giá trị an toàn, thanh khoản cao.
"Nhà đầu tư cá nhân cần thay đổi tư duy: không chạy theo "tài sản nóng", mà ưu tiên quản trị rủi ro. Vàng vẫn có thể nắm giữ như một phần nhỏ trong danh mục để phòng ngừa bất trắc, nhưng không nên là kênh đầu tư chính.
Phần lớn dòng tiền nên được phân bổ vào các kênh ổn định như tiết kiệm, trái phiếu chất lượng, hoặc chờ đợi cơ hội rõ ràng hơn từ chứng khoán và bất động sản khi nền kinh tế phục hồi rõ nét", ông Nhân khuyến cáo.
Theo ông Phương, từ nay tới cuối năm, nhà đầu tư có thể kết hợp đầu tư giữa vàng và gửi tiết kiệm với tỷ lệ 5 : 5 hoặc 4 : 6 nhằm tối ưu hiệu quả, kiểm soát rủi ro. Nên chọn gửi tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng, sau đó đánh giá lại tình hình để đưa ra quyết định tiếp theo.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.
Sau cuộc họp giữa Ngân hàng Nhà nước VN (NHNN) với các NH ngày 9.4 đến nay, đã có hơn 30 nhà băng đồng loạt giảm lãi suất huy động, mức phổ biến từ 0,1 - 0,5%/năm. Trong đợt giảm lãi suất này, có một số NH đã 2 lần cắt giảm như Agribank, SeABank.
Đối với các kỳ hạn dưới 6 tháng, lãi suất tiết kiệm đa số kịch trần ở 4,75%/năm. Từ 6 tháng trở lên, lãi suất vẫn khá cạnh tranh, dao động phổ biến ở 5,3 - 6,8%/năm. Riêng một số NH có mức lãi suất cao trên 8%/năm như NH số Cake by VPBank áp dụng mức 8,5%/năm khi khách hàng mới gửi từ 100 triệu đồng trở lên. Kỳ hạn 6 tháng có lãi suất mức 7,05%/năm tại Bac A Bank; VCBNeo có mức lãi suất 7%/năm khi gửi trực tuyến; PGBank có lãi suất 6,9%/năm… Đối với kỳ hạn 12 tháng trở lên, lãi suất huy động của các nhà băng dao động từ 6,7 - 7,2%/năm. Một số NH huy động khối lượng tiền lớn với mức lãi suất khủng như PVCombank áp dụng 10%/năm đối với số tiền gửi đặc biệt lớn. Cake by VPBank áp dụng lãi suất 8,7%/năm.
Trong khi đó, lãi suất cho vay vẫn chưa "nhúc nhích". Lãi suất cho vay tiền đồng bình quân trong tháng 3 của nhóm NH thương mại nhà nước và cổ phần đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,4 - 9,7%/năm. Đối với khách hàng vay mua bất động sản, lãi vay 12 - 14%/năm vẫn hiện hữu. Nếu tính riêng đối với từng khách hàng thì lãi vay tăng lên khoảng 1% so với những tháng đầu năm. Còn lãi suất cho vay USD đối với khoản vay mới và cũ ở mức 4 - 5,3%/năm.
Công ty CP chứng khoán KB VN (KBSV) nhận định trong ngắn hạn, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý 2. Bên cạnh đó, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) thuần của các NH vẫn ở mức cao và gần chạm mức trần 85% theo Thông tư 22. Tâm lý nắm giữ và giao dịch tiền mặt trước các thay đổi về chính sách thuế tiếp tục khiến việc huy động của các NH vẫn sẽ còn khó khăn. Ngoài ra, giải ngân đầu tư công khó có đột phá trong quý này cũng sẽ khiến kho bạc tiếp tục bội thu ngân sách. Cả hai yếu tố này đều khiến thu hẹp dòng tiền quay trở lại hệ thống NH. Hơn nữa, diễn biến phức tạp tại khu vực Trung Đông tạo áp lực kép lên lạm phát và tỷ giá khiến NHNN chưa có nhiều dư địa trong việc hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống.
Tương tự, Công ty chứng khoán Vietcombank nhận định bước sang quý 2, thanh khoản hệ thống dự kiến tiếp tục chịu áp lực trong bối cảnh nhu cầu giải ngân tăng mạnh, định hướng giảm lãi suất huy động có thể làm chậm tốc độ cải thiện nguồn vốn đầu vào tại một số NH, đặc biệt là nhóm quy mô vừa và nhỏ hoặc có tăng trưởng tín dụng cao. Bên cạnh đó, khối lượng thị trường mở (OMO) đáo hạn trong tháng 4 vẫn ở mức lớn. Do đó thanh khoản dự kiến kém dồi dào, lãi suất huy động sẽ tiếp tục neo ở mức tương đối cao trong thời gian tới, đặc biệt tại các kỳ hạn trung và dài hạn.
Câu chuyện lãi suất là một trong những vấn đề được cổ đông các NH đặt ra tại các cuộc họp đại hội đồng cổ đông vừa qua. Ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc VPBank, giải thích: Thanh khoản trong quý 1 tương đối căng thẳng, dẫn đến xu hướng tăng lãi suất huy động của hầu hết các NH. Hiện lãi suất huy động đang tăng cao nhất 3 năm qua ở các kỳ hạn. Tuy nhiên, xu hướng này chỉ duy trì ở mức cao trong một thời gian ngắn nữa và sẽ giảm dần vào cuối quý 2 đầu quý 3. Theo ông Nguyễn Đức Vinh, cuộc họp của tân Thống đốc NHNN với các NH mới đây đã thể hiện quyết tâm rất cao trong việc kiểm soát lãi suất. Do đó, các nhà băng sẽ duy trì lãi suất đi ngang, sau đó sẽ giảm và tiến tới giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế.
Ông Lê Thanh Tùng, Thành viên HĐQT VietinBank, cũng thừa nhận mặt bằng lãi suất thời gian qua đã tăng nhanh và duy trì ở mức cao, chủ yếu phản ánh nhu cầu cân đối thanh khoản của hệ thống và mức độ cạnh tranh gia tăng, gây áp lực lên chi phí huy động vốn của các NH. Xu hướng lãi suất phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong nước và thế giới, trong đó đặc biệt là diễn biến xung đột tại Trung Đông. Trong kịch bản cơ sở, VietinBank cho rằng chi phí vốn có thể vẫn duy trì ở mức cao trong ngắn hạn, nhưng tốc độ tăng thêm sẽ chậm lại và có cơ sở ổn định dần khi điều kiện thanh khoản thị trường trở nên thuận lợi hơn. Tuy nhiên nếu cú sốc giá dầu kéo dài và USD tiếp tục mạnh lên, áp lực lãi suất tăng có thể kéo dài trong năm 2026.
"Thanh khoản hệ thống hiện nay phản ánh áp lực do tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với tăng trưởng nguồn vốn. Để cân bằng hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, NHNN đã điều hành linh hoạt các giải pháp để giữ ổn định thanh khoản hệ thống, ổn định mặt bằng lãi suất. Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của thị trường quốc tế đã tạo ra áp lực lớn đến chính sách điều hành của NHNN", ông Tùng phân tích. Theo đánh giá của VietinBank, NHNN sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ thanh khoản hệ thống thông qua các công cụ điều hành như tỷ giá, lãi suất, thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, room tín dụng. Các NH cũng kiến nghị xem xét nới lỏng cách tính tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước để giảm áp lực LDR. Đồng thời, NHNN cũng phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
KBSV kỳ vọng xu hướng hạ nhiệt lãi suất sẽ rõ ràng hơn, với mức giảm bình quân khoảng 0,5 - 1%/năm vào 2 quý cuối năm 2026 nhờ nguồn vốn dồi dào từ dòng vốn đầu tư công giải ngân mạnh mẽ chảy vào hệ thống NH; tình hình xung đột tại Iran hạ nhiệt, giải tỏa áp lực lạm phát, tỷ giá, qua đó giúp NHNN có dư địa hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống NH; nhiều chính sách mới sẽ được đưa ra vào nửa cuối năm từ Chính phủ và NHNN để nỗ lực đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, trong đó bao gồm hạ nhiệt mặt bằng lãi suất. "Bước sang nửa sau của năm 2026, mặt bằng lãi suất cho vay sẽ có xu hướng hạ nhiệt rõ nét hơn, tương đồng mức giảm ở mặt bằng lãi suất huy động nhằm hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Xu hướng giảm trong giai đoạn này nhiều khả năng vẫn mang tính chọn lọc, ưu tiên tập trung vào các lĩnh vực động lực như xuất khẩu và sản xuất công nghiệp", KBSV nhận định.