Trong khi đó, Việt Nam, một trong những quốc gia xuất khẩu phân bón đang duy trì mức thuế xuất khẩu 5% đối với phân ure và super lân. Điều này khiến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp trong nước cao hơn so với đối thủ quốc tế, từ đó làm suy giảm đáng kể năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Tại Tọa đàm trực tuyến “Cần chính sách giảm thuế xuất khẩu phân bón, thích ứng hội nhập thế giới” do Báo Nhà báo và Công luận tổ chức vào ngày 28/4, ông Nguyễn Văn Phụng, Chuyên gia thuế cao cấp, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Pháp chế Doanh nghiệp Việt Nam nhận định: Chính sách thuế xuất nhập khẩu phân bón của Việt Nam chưa thật sự linh hoạt.
Phân tích rõ hơn về vấn đề này, ông Phụng nói: Thị trường phân bón trong nước có tính thời vụ rất rõ rệt. Vào chính vụ, nhu cầu tăng cao, thậm chí có thời điểm cung không đủ cầu, buộc phải tăng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Ngược lại, ở giai đoạn thấp vụ, nguồn cung trong nước lại dư thừa, khiến doanh nghiệp phải tìm đầu ra thông qua xuất khẩu. Điều này tạo nên thực tế “hai chiều”: Vừa nhập khẩu trong cao điểm, vừa xuất khẩu khi dư cung.
Tuy nhiên, việc điều hành thuế xuất khẩu thời gian qua chưa thực sự kịp thời với biến động thị trường. Trong nhiều thời điểm nguồn cung tăng mạnh, việc chậm điều chỉnh chính sách, tiếp tục áp dụng mức thuế 5% đã khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu.
Vì vậy, ông Phụng nhấn mạnh: Việt Nam cần thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh và linh hoạt hơn, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo cân đối cung – cầu trên thị trường trong nước.
“Thuế không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để điều tiết và can thiệp thị trường. Khi thị trường trong nước thiếu hụt nguồn cung, có thể sử dụng thuế xuất khẩu để hạn chế xuất khẩu, ưu tiên nguồn hàng cho tiêu dùng nội địa. Ngược lại, khi nguồn cung trong nước dồi dào hoặc dư thừa, việc điều chỉnh giảm thuế sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và cân đối thị trường”, ông Phụng nói.
Đồng tình với nhận định này, ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam đánh giá: Với đặc thù sản xuất phân bón, đặc biệt là các sản phẩm như phân ure, đòi hỏi công nghệ cao và vận hành liên tục, sản lượng càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng được tối ưu. Tuy nhiên, đi cùng với đó là áp lực tiêu thụ sản phẩm, buộc doanh nghiệp phải tìm kiếm thị trường đầu ra ổn định.
Trong bối cảnh này, vai trò điều tiết của Nhà nước thông qua chính sách thuế trở nên đặc biệt quan trọng. Khi nguồn cung trong nước dư thừa, cần có cơ chế linh hoạt để thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngược lại, khi thị trường nội địa thiếu hụt, chính sách thuế cần được điều chỉnh kịp thời nhằm ưu tiên nguồn cung cho nông nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc điều hành chính sách chưa đạt được mức độ linh hoạt cần thiết. Cách tiếp cận còn chưa thật sự uyển chuyển, chưa theo kịp biến động nhanh của cung – cầu thị trường.
“Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy điều hành, hướng tới một cơ chế chính sách linh hoạt, uyển chuyển hơn, qua đó tối ưu hiệu quả kinh tế và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa sản xuất, xuất khẩu và nhu cầu trong nước”, ông Ngọc nhấn mạnh.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Bùi Thị Thanh Giang, Phó trưởng Ban Kế hoạch Kinh doanh Tập đoàn Hóa Chất chia sẻ: Ở thời điểm hiện nay, thị trường phân bón trong nước đang ở giai đoạn chính vụ nên lượng tồn kho tương đối thấp. Tuy nhiên, theo chu kỳ hàng năm, từ khoảng tháng 6 đến tháng 11, nhu cầu phân bón giảm mạnh, khiến tồn kho gia tăng.
Khi đó, vốn sản xuất không được quay vòng, chi phí lãi vay tăng lên, trong khi hàng tồn kho để lâu có thể suy giảm chất lượng (tăng độ ẩm, giảm hiệu quả sử dụng).
Trong bối cảnh này, doanh nghiệp buộc phải giảm công suất hoặc sản xuất cầm chừng, kéo theo chi phí bảo trì, bảo dưỡng tăng cao. Những chi phí này cuối cùng sẽ được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong cả năm, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tìm được đầu ra xuất khẩu trong giai đoạn thấp vụ, lượng hàng tồn kho sẽ được giải phóng, giúp duy trì sản xuất liên tục và giảm chi phí bình quân. Khi đó, giá thành mỗi đơn vị sản phẩm sẽ giảm, tạo điều kiện hạ giá bán trong nước, qua đó hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân.
Đáng chú ý, thị trường khu vực châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, có nhu cầu phân bón rất lớn, ước khoảng 18–20 triệu tấn mỗi năm, với mùa vụ có độ lệch so với Việt Nam. Cụ thể, vụ hè tại Ấn Độ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 7, vụ Đông từ tháng 10 đến tháng 11.
“Chính sự “lệch pha” này tạo cơ hội để doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu vào thời điểm nhu cầu nội địa giảm, qua đó duy trì công suất và tối ưu chi phí sản xuất”, bà Giang nói.
Tuy nhiên, chính sách thuế hiện hành đang tạo thêm rào cản cho hoạt động xuất khẩu. Khi xuất khẩu một tấn phân bón, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với rủi ro về giá (do phụ thuộc vào giá thế giới và thị trường nhập khẩu), mà còn phải chịu thuế xuất khẩu 5% đối với một số mặt hàng như urê, phân lân. Trong khi đó, nhiều quốc gia cạnh tranh đã đưa thuế này về 0% để khuyến khích xuất khẩu.
Vì vậy, nhiều chuyên gia đồng thuận rằng Việt Nam cần sớm rà soát và điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu phân bón theo hướng linh hoạt, bám sát diễn biến cung – cầu của thị trường. Đồng thời, cần xem xét đưa mức thuế xuất khẩu về 0% nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao hiệu quả sản xuất toàn ngành.
TS Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách – Viện Kinh tế và Thế giới Việt Nam đánh giá, bên cạnh việc điều chỉnh chính sách thuế, ngành phân bón Việt Nam hiện đang đối mặt với ba bài toán lớn cần được giải quyết đồng bộ để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Thứ nhất là bài toán logistics. Chi phí vận chuyển và hạ tầng phục vụ xuất khẩu còn cao, làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá của doanh nghiệp. Do đó, cần đầu tư phát triển hạ tầng logistics chuyên dụng, gắn với các khu sản xuất lớn, nhằm giảm chi phí và tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu với giá trị cao hơn.
Thứ hai là vấn đề rào cản thương mại. Hoạt động xuất khẩu phân bón đang chịu ảnh hưởng bởi các quy định kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau tại từng thị trường. Bên cạnh đó, nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, đặc biệt là chống bán phá giá, ngày càng gia tăng. Vì vậy, các bộ, ngành cần tăng cường cơ chế cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó và giảm thiểu rủi ro khi tham gia thị trường quốc tế.
Thứ ba là yêu cầu chuyển đổi xanh. Ngành phân bón, vốn thuộc lĩnh vực hóa chất, chịu áp lực lớn về giảm phát thải và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ về tín dụng, công nghệ và đổi mới sản xuất để doanh nghiệp từng bước chuyển đổi theo hướng xanh, bền vững.
Theo TS Ngọc, chỉ khi đồng thời giải quyết được ba bài toán này, cùng với việc hoàn thiện chính sách thuế theo hướng linh hoạt, ngành phân bón Việt Nam mới có thể nâng cao sức cạnh tranh và tận dụng hiệu quả cơ hội từ thị trường quốc tế.
Trao đổi với Thanh Niên bên lề lễ ký hợp tác giữa Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật với Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam; Hiệp hội Phân bón Việt Nam; Hiệp hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam, diễn ra sáng 10.5, tại Hà Nội, ông Nguyễn Quang Hiếu, Cục phó Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã chia sẻ thông tin mới nhất về giải pháp tháo gỡ ùn tắc kiểm nghiệm sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc.
Ông Nguyễn Quang Hiếu cho biết, mới đây đơn vị này đã công bố, gửi danh sách 30 phòng kiểm nghiệm chỉ tiêu an toàn thực phẩm cadimi và vàng o trên trái sầu riêng tươi cho các địa phương để cung cấp cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Trong đó, 5/30 đơn vị đang tạm dừng hoạt động kiểm nghiệm gồm: Công ty cổ phần Tập đoàn Vinacontrol (Trung tâm Phân tích và Thử nghiệm 1 Vinacontrol); Công ty cổ phần dịch vụ khoa học công nghệ Chấn Nam; Trung tâm Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường vùng 1 (NAFIQPM 1); Công ty cổ phần Chứng nhận và Giám định VinaCert-TN 1 (VinaCert Hà Nội); Công ty cổ phần Giám định khử trùng Vietnamcontrol (VIF).
Hiện nay, cả nước đang có 25 cơ sở được Tổng cục Hải quan Trung Quốc chứng nhận đủ điều kiện kiểm định sầu riêng Việt Nam xuất khẩu vào Trung Quốc.
Ông Nguyễn Quang Hiếu khẳng định, từ khi xảy ra sự cố cadimi trên trái sầu riêng xuất khẩu, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp tích cực với các địa phương, đồng thời kết nối doanh nghiệp cung cấp giải pháp, xây dựng một số mô hình ở trồng nguy cơ cao tồn dư cadimi.
Đến nay, một số mô hình kiểm soát cadimi bước đầu đạt kết quả tích cực được Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị các địa phương nhân rộng, để người trồng sầu riêng áp dụng các giải pháp cải tạo đất.
Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu chủ động kiểm soát từ gốc, tại nhà vườn để giảm thiểu tối đa rủi ro chi phí và không đưa sầu riêng vào container khi chưa có kết quả kiểm nghiệm.
Cũng theo ông Nguyễn Quang Hiếu, không chỉ Trung Quốc, nhiều thị trường xuất khẩu hiện nay đặt ra yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm. Theo đó, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật và các hiệp hội ký kết hợp tác và xác định các nhiệm vụ trọng tâm: phổ biến, hướng dẫn pháp luật cho doanh nghiệp, hội viên và nông dân tuân thủ các quy định theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu; xây dựng các mô hình sản xuất an toàn, hiệu quả, phát thải thấp; tăng cường kiểm soát chất lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật...
Trước đó, ngày 7.5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố đề nghị vào cuộc tháo gỡ khó khăn ách tắc trong khâu kiểm nghiệm nhằm thúc đẩy xuất khẩu sầu riêng và các mặt hàng nông sản chủ lực.
Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương chỉ đạo các cơ sở kiểm nghiệm thuộc phạm vi quản lý tăng cường năng lực, nhân lực, trang thiết bị đẩy nhanh tiến độ kiểm nghiệm sầu riêng, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu xuất khẩu, không để ùn tắc kéo dài.
Ngoài ra, các địa phương có biện pháp kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các cơ sở kiểm nghiệm có hành vi gây khó khăn, chậm trễ, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ kiểm nghiệm theo quy định.
Từ khi mở cửa giao dịch tới gần 9 giờ, giá bạc được Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam điều chỉnh tăng liên tục nhiều nhịp. Lúc 8 giờ 37, doanh nghiệp này niêm yết giá mua vào và bán ra mỗi kg bạc là: 85,387 - 88,027 triệu đồng, tăng 3,067 - 3,145 triệu đồng.
Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý niêm yết giá mỗi kg bạc tại thời điểm 8 giờ 33 ở mức 86,053 - 88,266 triệu đồng (mua - bán), tăng 3,2 - 3,28 triệu đồng.
Vào 8 giờ 34, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá bạc 5 lượng ở: 16,06 - 16,55 triệu đồng, tăng 600.000 - 615.000 đồng.
Trong khi đó, giá bạc 1 kg được Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch lúc 8 giờ 35 là 86,052 - 88,265 triệu đồng, tăng 2,694 - 2,773 triệu đồng.
Giá bạc đang ở mức cao nhất trong 1 tháng qua. Tuy nhiên, nếu so với mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (bán ra gần 99 triệu đồng/kg), giá mỗi kg bạc đã giảm hơn 10 triệu đồng.
Giá bạc trong nước tăng mạnh theo đà tăng của giá bạc thế giới. Giá bạc thế giới giao ngay lúc 8 giờ 49 (giờ Việt Nam) hôm nay là 86,94 USD/ounce, tăng 0,49 USD/ounce (tương đương 0,57%) so với chốt phiên trước đó.
Từ hôm qua tới nay, khi giá bạc bất ngờ tăng vọt, lực bán bạc trên thị trường nhiều hơn lực mua. Không ít người tranh thủ giá bạc lên để chốt lời. Cạnh đó, cũng có những nhà đầu tư "ôm" bạc ở vùng giá cao rục rịch tính chuyện bán từng phần cắt lỗ.
Dù vậy, với những nhà đầu tư mới, nhiều trường hợp đặt mua bạc vẫn chưa thể lấy ngay. Ví dụ như tại Công ty vàng bạc đá quý Phú Quý, đặt mua hàng ở hiện tại, lịch hẹn giao bạc là khoảng tháng 10. Về vấn đề thanh toán, hiện công ty này mua lại bạc và hẹn trả tiền cho khách trong khoảng thời gian tối đa 5 ngày, song thông thường khách nhận được tiền sớm hơn.
Thực tế, tình trạng thu mua vàng, bạc trước, hẹn trả tiền sau diễn ra khá phổ biến trên thị trường vàng, bạc thời gian qua. Nhiều doanh nghiệp thường phải hẹn ngày trả tiền do số lượng người bán lại đông, khiến số lượng lệnh thanh toán cần xử lý xếp dài.
Thị trường chứng khoán ngày 24/4 ghi nhận diễn biến điều chỉnh sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh tâm lý nhà đầu tư có phần thận trọng khi kỳ nghỉ lễ kéo dài đang đến gần và số phiên giao dịch trong tuần tới bị rút ngắn.
Áp lực bán gia tăng rõ nét về cuối phiên đã khiến các chỉ số đảo chiều giảm điểm. VN-Index dù có thời điểm tăng hơn 10 điểm, tiệm cận mốc 1.880 điểm, nhưng sau đó suy yếu khi nhóm cổ phiếu dẫn dắt hụt lực, đặc biệt là nhóm ngân hàng. So với vùng đỉnh trong ngày, chỉ số này đã giảm khoảng 20 điểm trước khi đóng cửa.
Kết thúc phiên, VN-Index giảm 17,12 điểm, tương ứng 0,92%, xuống 1.853,29 điểm. Thanh khoản toàn thị trường sụt giảm đáng kể so với phiên trước, với tổng khối lượng khớp lệnh đạt khoảng 566 triệu cổ phiếu, tương ứng giá trị giao dịch hơn 19.286 tỷ đồng. Tính chung cả thỏa thuận, tổng khối lượng đạt hơn 673,8 triệu đơn vị, giá trị xấp xỉ 19.347,9 tỷ đồng.
Độ rộng thị trường nghiêng về bên bán với 389 mã giảm giá, trong khi có 328 mã tăng và 34 mã tăng trần; chiều giảm sàn ghi nhận 28 mã. Riêng rổ VN30 ghi nhận sự áp đảo của sắc đỏ với 21 mã giảm, chỉ 8 mã tăng và 1 mã đứng giá.
Xét về mức độ ảnh hưởng đến chỉ số, bộ ba cổ phiếu VIC, VHM và VPL đã lấy đi hơn 11 điểm của VN-Index, trong đó riêng VHM đóng góp hơn 6,5 điểm giảm. Bên cạnh đó, nhóm ngân hàng với các đại diện VCB, BID và CTG cũng kéo giảm gần 6 điểm.
Ở chiều tích cực, TCB là mã hỗ trợ thị trường tốt nhất nhưng cũng chỉ đóng góp khoảng 1,5 điểm, tiếp theo là VJC và GVR với mức ảnh hưởng hạn chế.
Xét theo nhóm ngành, phần lớn các lĩnh vực ghi nhận mức giảm điểm. Nhóm bất động sản giảm 1,72%, tài chính giảm 0,72%, công nghệ giảm 1,28%. Một số ngành giữ được sắc xanh nhẹ như năng lượng (+0,31%), vật liệu cơ bản (+0,17%) và dịch vụ hạ tầng (+0,53%), song mức tăng không đáng kể.
Nhóm thép cũng ghi nhận trạng thái trái chiều. HPG và HSG tăng nhẹ, trong khi NKG giảm điểm. Diễn biến này phản ánh sự phân hóa trong dòng tiền thay vì xu hướng đồng thuận.
Đáng chú ý, nhóm ngân hàng là tác nhân chính gây áp lực lên thị trường khi nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn giảm mạnh như VCB giảm 3,5%, BID giảm 2,04%, CTG giảm 1,41%, cùng với các mã khác như ACB, STB, SHB đồng loạt điều chỉnh.
Ở chiều ngược lại, chỉ một vài mã giữ được sắc xanh như TCB tăng 2,85% và HDB tăng 1,13%.
Tương tự, nhóm chứng khoán cũng chịu áp lực điều chỉnh trên diện rộng với các mã như SSI, HCM, VIX, SHS, VND, VCI đồng loạt giảm giá. VCK là điểm sáng hiếm hoi khi tăng gần 3%.
Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm trừ khi duy trì xu hướng bán ròng mạnh, với giá trị lên tới 1.946 tỷ đồng trong phiên.
Cụ thể, khối này mua vào 1.624 tỷ đồng nhưng bán ra hơn 3.570 tỷ đồng. FPT là cổ phiếu bị bán ròng mạnh nhất với giá trị hơn 414 tỷ đồng, theo sau là ACB và VCB.