Trong khảo sát mới nhất của Reuters, các nhà kinh tế học hạ dự báo tăng trưởng của nhiều nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Một số quốc gia khu vực này bị thay đổi triển vọng từ tăng trưởng sang suy giảm kinh tế.
Chiến sự tại Trung Đông đã làm xáo trộn thị trường năng lượng – huyết mạch kinh tế của nhiều nước khu vực này, gây ra cú sốc nguồn cung mang tính lịch sử. Việc phục hồi khủng hoảng năng lượng có thể phải chờ đến năm sau.
GDP Qatar, Kuwait và Bahrain được dự báo giảm lần lượt 6%, 4,4% và 2,9% năm nay. Các số liệu này trái ngược hoàn toàn so với ước tính hồi tháng 1, là tăng trưởng 3-5%. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế của UAE nhiều khả năng gần như đứng yên. Hồi đầu năm, nền kinh tế này được kỳ vọng tăng 5%.
Trong đợt giá dầu tăng tốc trước đây, các nền kinh tế vùng Vịnh thường hưởng lợi lớn nhờ xuất khẩu năng lượng. Tuy nhiên lần này, việc Iran gần như phong tỏa eo biển Hormuz – tuyến vận tải chịu trách nhiệm chuyên chở 20% dầu thô và khí hóa lỏng (LNG) toàn cầu – dẫn đến thiếu cung nhiên liệu. Nhiều cơ sở hạ tầng ngành năng lượng trong khu vực, từ Arab Saudi, UAE, Kuwait đến Qatar bị tập kích, khiến các nền kinh tế này chao đảo. Giá dầu thô hiện tăng khoảng 40% so với trước chiến sự.
“Chúng tôi không cho rằng GDP có thể dễ dàng quay về quỹ đạo tăng trưởng trước đó. Vài năm tới, GDP sẽ vẫn ở mức thấp bất chấp đà phục hồi nhanh. Các quốc gia này cần nửa cuối năm nay để tái thiết chuỗi cung ứng”, ông Ralf Wiegert, nhà kinh tế học tại S&P Global Market Intelligence, nhận định.
Trên CNBC, Ryan Sweet – kinh tế trưởng tại Oxford Economics cũng cho rằng xung đột tại Iran là yếu tố “thay đổi cuộc chơi” với các nước vùng Vịnh. “Ngoài tác động đến doanh thu dầu khí, chiến sự còn ảnh hưởng đến du lịch, dòng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Đông”, ông cho biết.
Đầu tháng này, Economist ước tính các nước vùng Vịnh thiệt hại hàng chục tỷ USD vì chiến sự. Con số này đến từ doanh thu bán dầu khí sụt giảm, cơ sở hạ tầng thiết yếu chịu thiệt hại và chi phí cho hệ thống đánh chặn phòng không. Thiệt hại về uy tín thậm chí còn lớn hơn khi xung đột phơi bày điểm yếu của Trung Đông về mặt địa lý lẫn địa chính trị. Đây là vấn đề các quốc gia vùng Vịnh không dễ khắc phục, tạp chí này nhận định.
Arab Saudi, nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, và Oman được cho là chống chịu cú sốc này tốt hơn. Hai nền kinh tế này được dự báo vẫn tăng trưởng 2,6% và 2,2% năm nay. Tuy nhiên, các số liệu đều thấp hơn đáng kể so với dự báo tháng 1 là tăng 4,3% và 2,8%.
Giá dầu tăng đang kéo lạm phát toàn cầu lên cao. Các nền kinh tế vùng Vịnh cũng không ngoại lệ. Lạm phát tại đây được dự báo đạt 2-3% năm nay, tăng so với chỉ 1-2% hồi đầu năm.
“Vòng 2 của cú sốc này sẽ xảy ra với các lĩnh vực phi dầu mỏ. Điều này đặc biệt quan trọng với Arab Saudi, UAE và Qatar”, Lluis Dalmau Taules – nhà kinh tế học tại Allianz cho biết. Lĩnh vực du lịch của Trung Đông tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong vài năm qua. Vì vậy, chiến sự tác động mạnh đến bán lẻ và nhiều ngành nghề khác.
Các nhà kinh tế dự báo năm tới, Trung Đông sẽ hồi phục nhanh nếu xung đột sớm kết thúc. Theo đó, Qatar, UAE và Kuwait có thể tăng trưởng lần lượt 7,8%, 5,4% và 5% năm tới. GDP Arab Saudi, Bahrain và Oman được kỳ vọng ở mức 2,8-4,5%.
Trước đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra dự báo sản xuất năng lượng và giao thông trong khu vực hồi phục, bình thường trở lại trong vài tháng tới.
Goldman Sachs cho rằng việc khôi phục này sẽ không đồng đều giữa các nền kinh tế ở vùng Vịnh. Về dài hạn, các nhà phân tích tại ngân hàng này cho rằng hoạt động kinh tế tại đây sẽ phục hồi mạnh nhờ được hỗ trợ từ nguồn lực vốn công, dự trữ dồi dào của chính phủ và doanh thu dầu khí tăng trở lại.
Ngày 30/4, tại Hội nghị thượng đỉnh Santa Marta (Colombia), các quốc gia gồm EU, Na Uy, Anh, Singapore, Bangladesh, Brazil, Canada, Colombia, Philippines... đạt đồng thuận về loại bỏ nhiên liệu hóa thạch, sau gần một tuần thảo luận.
Bà Stientje van Veldhoven, Bộ trưởng Khí hậu Hà Lan - quốc gia đồng chủ trì hội nghị, cho biết biến động giá cả cùng tính phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu gây hệ lụy dai dẳng lên các nền kinh tế.
Bà nhấn mạnh việc chuyển đổi khỏi dầu, than, khí đốt là cấp thiết, nhằm củng cố an ninh năng lượng, giảm ảnh hưởng của những cú sốc tương tự khủng hoảng giá dầu đang diễn ra.
Các nước cũng thống nhất tiếp tục hợp tác, thành lập nhóm làm việc về lộ trình cụ thể của từng quốc gia, công cụ tài chính, cách thức phối hợp giữa nhà sản xuất - tiêu dùng và chuyển đổi lao động khi giảm sản xuất nhiên liệu hóa thạch.
Theo Carbon Brief, các nước này đại diện cho một phần ba nền kinh tế toàn cầu. Trong đó, phân nửa số tham gia là các nước sản xuất nhiên liệu hóa thạch. Họ sẽ phải trình kế hoạch giảm dần sản lượng. Tuy nhiên, kế hoạch này không bị ràng buộc về cấu trúc, cũng như thời hạn hoàn thành quá trình chuyển đổi.
Colombia đã công bố dự thảo lộ trình trong hội nghị và thành lập nhóm chuyên gia khoa học tư vấn cho các quốc gia. Nước này kỳ vọng giảm được 90% khí thải từ sử dụng năng lượng vào năm 2050, so với mốc 2015, nhờ chuyển đổi nhiên liệu hóa thạch và điện khí hóa giao thông. Lộ trình này đòi hỏi số vốn lên tới 10 tỷ USD mỗi năm, nhưng sẽ mang lại khoản tiết kiệm ròng khoảng 23 tỷ USD hàng năm cho Colombia từ năm 2050.
Tuần trước, Pháp trở thành nước phát triển đầu tiên công bố lộ trình quốc gia nhằm loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch.
Theo giới phân tích, tài chính là rào cản trong quá trình chuyển đổi của các quốc gia. Trong khi đó, nhóm nước đang phát triển ở Nam bán cầu phải đối mặt với chi phí vay cao và hạn chế tiếp cận vốn, ngay cả khi năng lượng tái tạo rẻ hơn nhiên liệu hóa thạch.
Về vấn đề này, nhóm công tác của liên minh các nước ủng hộ loại bỏ nhiên liệu hóa thạch sẽ tập trung tìm giải pháp để nước nghèo tránh "bẫy nợ", huy động nguồn tài chính hỗ trợ chuyển đổi. Họ cũng xác định các khoản trợ cấp cho nhiên liệu hóa thạch. Hoạt động này được hỗ trợ bởi Viện nghiên cứu quốc tế về Phát triển Bền vững (IISD).
Một nhóm công tác khác sẽ tập trung vào thương mại tiêu dùng nhiên liệu hóa thạch. Họ sẽ được hỗ trợ bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Chuyển đổi khỏi nhiên liệu hóa thạch từng được gần 200 quốc gia nhất trí tại Hội nghị thượng đỉnh khí hậu COP28 năm 2023. Tuy nhiên, các cuộc họp COP tiếp theo không thể thúc đẩy cam kết này, do sự ngăn chặn và không hợp tác từ nhóm quốc gia dầu mỏ Trung Đông, nhất là Arab Saudi.
Danh sách mời dự hội nghị tại Santa Marta lần này được chọn lọc kỹ lưỡng, dựa trên tinh thần ủng hộ lộ trình giảm thiểu nhiên liệu hóa thạch tại COP30. Bộ trưởng Môi trường Colombia Irene Vélez Torres cho biết Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và các quốc gia Trung Đông không tham dự. Hội nghị chuyển đổi khỏi nhiên liệu hóa thạch lần thứ hai sẽ diễn ra đầu năm tới, tại đảo Tuvalu thuộc Thái Bình Dương, do Ireland đồng chủ trì.
Chiều 20/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường về phát triển kinh tế - xã hội. ông Phạm Trọng Nhân, Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động TP HCM cho rằng mỗi năm, kinh tế tư nhân đóng góp một nửa vào tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP), hơn 30% ngân sách. Tuy nhiên, khu vực này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như lượng doanh nghiệp rời thị trường ở mức cao, hay chiếm chưa tới 30% xuất khẩu (phần còn lại thuộc khối FDI).
"Chênh lệch này cho thấy kinh tế tư nhân chủ yếu vẫn hoạt động ở thị trường nội địa, phân khúc giá trị thấp. Những lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và hạ tầng lại thiếu vai trò dẫn dắt của thành phần này", ông nói.
Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động TP HCM đề xuất cần có luật riêng về đảm bảo phát triển kinh tế tư nhân. Bởi theo ông, kinh tế tư nhân vẫn đang vận hành trong khuôn khổ thể chế chưa tương xứng, gặp khó trong tiếp cận vốn tín dụng.
Đề xuất được ông Nhân đưa ra trong bối cảnh Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó đặt mục tiêu khu vực này chiếm 70% GDP vào 2030. Thủ tướng cũng cam kết tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển. Tuy nhiên, theo ông Nhân từ đó đến nay, Quốc hội mới ban hành thêm Nghị quyết 198 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Ông đề nghị luật cho khu vực kinh tế tư nhân cần xác lập các nguyên tắc nền tảng về bảo vệ quyền, bảo đảm sự ổn định và tính dự báo của môi trường pháp lý. Đây cũng là cơ sở để các luật chuyên ngành tham chiếu và thực thi thống nhất, thay vì tạo thêm ưu đãi riêng lẻ.
Ba trụ cột của luật phát triển kinh tế tư nhân, theo ông Nhân, cần tập trung, đó là cần "bình đẳng, thực chất và nhất quán" giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận nguồn lực, cơ hội phát triển từ đất đai, tín dụng, đầu tư và thị trường.
Cùng với đó, luật cũng cần xác lập vùng an toàn pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ quyền tài sản dài hạn theo hướng bảo vệ người thực hiện đúng quy định pháp luật tại thời điểm quyết định. "Quy định này có thể giúp hạn chế tối đa rủi ro phát sinh từ thay đổi chính sách hoặc cách hiểu khác nhau trong thực thi", ông nói thêm.
Ông Trịnh Xuân An, Uỷ viên Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cũng cho rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, nhưng đang gặp nhiều khó khăn. "Vấn đề sâu xa nhất là thể chế chưa thực sự thuận lợi để doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn mạnh", ông An nói.
Theo ông, nhiều doanh nghiệp "không thiếu cơ hội", nhưng gặp khó khăn trong thực hiện thủ tục đầu tư, mở rộng sản xuất, tiếp cận nguồn lực và triển khai dự án. "Một doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro thị trường, nhưng khó yên tâm khi môi trường pháp lý còn tiềm ẩn những yếu tố bất định", ông An cho hay.
Vì vậy, đại biểu đề nghị chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang đồng hành cùng doanh nghiệp. Theo ông, chính sách cần tập trung vào giảm chi phí tuân thủ, rủi ro pháp lý, cũng như thiết kế cơ chế thực chất để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn, đất đai và tham gia sau vào chuỗi giá trị.
Về cải cách thủ tục hành chính, ông gợi ý Chính phủ nên đưa ra những tiêu chí để việc cắt giảm đi vào thực chất, loại bỏ những thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Năm nay, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10%. Vốn là một trong những nguồn lực quan trọng với doanh nghiệp, để thúc đẩy mục tiêu này. Do đó, ông Trịnh Xuân An đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét nới hạn mức tín dụng có chọn lọc, ưu tiên với các nhà băng có chất lượng tài sản, nợ xấu thấp. Việc này nhằm hướng dòng vốn vào sản xuất kinh doanh, thay vì áp dụng chung một mức trần cho toàn hệ thống.
"Tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 15%, rất khó để tạo dư địa tăng trưởng hai chữ số. Dòng vốn không tương xứng, thì mục tiêu tăng trưởng cao sẽ khó đạt", ông chốt lại.
Nội dung nêu tại bản góp ý dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế của Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Theo đó, VCCI đề nghị bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua phế liệu được khai và nộp thuế thay cho hộ, cá nhân kinh doanh ve chai, đồng nát.
Thực tế, ngành tái chế là mắt xích quan trọng trong phát triển kinh tế tuần hoàn, phù hợp chiến lược phát triển bền vững. Trong chuỗi này, lực lượng thu gom ve chai, phế liệu giữ vai trò đầu vào, đảm nhận khâu thu gom và phân loại ban đầu.
Tuy nhiên, theo VCCI, người thu gom phần lớn là cá nhân nhỏ lẻ, hiểu biết pháp luật hạn chế nên gặp khó trong nộp thuế, hóa đơn. Vì vậy, nhiều người lo ngại rủi ro pháp lý, ưu tiên bán cho các làng nghề phi chính thức thay vì doanh nghiệp tái chế.
Điều này khiến doanh nghiệp lĩnh vực này khó tiếp cận nguồn phế liệu trong nước, trong khi thị trường ngày càng yêu cầu tỷ lệ tái chế cao hơn. Về lâu dài, nguy cơ mất đơn hàng và suy giảm năng lực cạnh tranh của ngành tái chế có thể xảy ra. Ngược lại, Nhà nước cũng gặp khó trong quản lý thuế, tận dụng nguồn tài nguyên tái chế.
Ngoài lĩnh vực phế liệu, VCCI cũng góp ý về yêu cầu tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân phải khai thuế giá trị gia tăng (VAT) trên toàn bộ doanh thu, không phân biệt cách chia doanh thu giữa các bên.
Theo VCCI, quy định này chưa phản ánh đúng bản chất kinh tế của mô hình hợp tác kinh doanh, đặc biệt với dịch vụ gọi xe công nghệ.
Hiện các nền tảng gọi xe thường hợp tác với tài xế theo tỷ lệ chia doanh thu, chẳng hạn doanh nghiệp hưởng 20%, tài xế nhận 80%. Tuy nhiên, theo dự thảo, doanh nghiệp có thể phải chịu VAT 10% trên toàn bộ doanh thu cuốc xe.
VCCI cho rằng điều này gây bất lợi vì doanh nghiệp chỉ thực nhận một phần doanh thu nhưng phải kê khai thuế toàn bộ giá trị giao dịch. Trong khi đó, phần doanh thu chia cho tài xế lại không có hóa đơn đầu vào phù hợp để khấu trừ thuế.
Với tài xế công nghệ, VCCI nhận định việc áp VAT 10% trên phần doanh thu của người lái xe cũng chưa phù hợp. Bởi đây chủ yếu là cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, nhiều trường hợp thuộc diện miễn hoặc nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu. Theo quy định hiện hành, mức VAT áp dụng với cá nhân kinh doanh vận tải thường khoảng 3%.
Do đó, tổ chức này đề xuất sửa theo hướng doanh nghiệp nền tảng chỉ kê khai, nộp thay VAT cho cá nhân trên phần doanh thu được chia, khai và nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho tài xế.