Với nhiều người, ông là cán bộ cấp cao, từng là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, rồi Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam. Nhưng với những người thân quen, từng trao đổi, từng đọc ông, với tôi, cái tên quen hơn vẫn là “anh Hoàng”.
Ở anh Hoàng, điều đáng nói không phải là ông “làm chính trị nhưng lại là trí thức”. Mà ông làm chính trị như một trí thức, và theo nghĩa đúng, một nhà chính trị phải là một trí thức.
Anh đọc nhiều, nhưng điều quan trọng hơn là cách anh đọc. Không phải đọc bao nhiêu, mà đọc để hình thành quan điểm. Không phải để nói cho hay, mà để hiểu cho đúng. Từ kinh tế, chính trị đến triết học, giáo dục, ở anh, sách không phải là nơi trú ẩn mà là công cụ để hành động.
Nhưng nếu chỉ đọc thì chưa đủ để nói về anh, điều làm nên anh Hoàng là tư duy độc lập. Trong một môi trường dễ bị ràng buộc bởi những khuôn mẫu, anh vẫn giữ được sự tỉnh táo, cởi mở.
Làm công tác tuyên giáo nhiều năm, nhưng anh không bị cuốn vào những lý luận, mà giữ được độ mở cần thiết cho suy nghĩ và đối thoại. Điều đó thể hiện rõ nhất trong cách anh đối diện với những ý kiến khác mình. Anh không né tránh phản biện, không sợ những điều “khó nghe”, mà tìm cái cần nghe, cái đúng.
Có khi, chỉ từ một bài viết phê phán những lập luận áp đặt, anh chủ động nhắn tin bày tỏ sự đồng tình. Một chi tiết nhỏ nhưng nói lên nhiều điều. Anh không đứng về phía an toàn, mà đứng về phía anh cho là đúng.
Trong các cuộc trao đổi, anh không tìm cách “thắng” người đối diện, mà tìm cách đi gần hơn với bản chất sự việc. Ở anh, lý luận không khô cứng, mà là cách để hiểu đời sống, và nếu cần, để thay đổi nó.
Nếu có một lĩnh vực gắn với anh Hoàng một cách bền bỉ, thì đó là giáo dục. Không phải vì chức vụ, mà vì một niềm tin, nhận thức. Sau khi nghỉ hưu, anh nhận làm Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tiếp nối sau GS Trần Hồng Quân. Đó không phải là một vị trí danh dự, mà là một lựa chọn trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ từ quản trị, chất lượng đến hội nhập.
Nhận vị trí đó đồng nghĩa với việc bước vào một không gian nhiều tranh luận, nhiều va chạm, và không dễ có kết quả nhanh. Nhưng anh vẫn nhận và tiếp tục theo đuổi điều anh đã nói từ trước đó rất lâu: tự chủ đại học. Mới tháng trước đây thôi, trong lần trao đổi qua điện thoại, anh vẫn trở lại câu chuyện ấy với một quan điểm rõ ràng, nhất quán.
Với anh, khi đã nghĩ, khi có lý lẽ thì theo đuổi đến cùng. Anh nhiều lần nhấn mạnh phải chuyển từ giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, từ học thuộc sang sáng tạo, từ đóng sang mở. Những điều đó không mới về mặt khái niệm, nhưng hiếm người theo đuổi đến cùng.
Và anh hiểu rất rõ, không có tự chủ thì không có sáng tạo, không có sáng tạo thì đại học không thể phát triển. Nhưng anh cũng hiểu: tự chủ không phải là khẩu hiệu. Nó đòi hỏi thay đổi từ tư duy đến cơ chế, từ quản trị đến trách nhiệm giải trình. Và vì vậy, nó không dễ. Anh chấp nhận điều đó. Và kiên trì. Không ồn ào, không cực đoan, nhưng không buông.
Anh vẫn đau đáu với nghị quyết 29 – Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo – mà anh đã tâm huyết tham gia xây dựng những ngày nào. Nếu GS Trần Hồng Quân được xem như người mở đường cho giáo dục đại học hiện đại, thì có thể nói, TS Vũ Ngọc Hoàng là một trong những người góp phần xây nền móng cho tự chủ đại học.
Nếu chỉ nhìn vào công việc thì chưa đủ để hiểu anh Hoàng. Điều khiến nhiều người nhớ lâu hơn là cách anh sống. Anh giản dị nhưng không đơn giản. Anh nói ít, nói chậm, nhưng mỗi câu đều có trọng lượng, trong những cuộc trao đổi, anh lắng nghe thực sự, và khi phản biện, anh dùng lý lẽ chứ không dựa vào vị thế. Điều này không phải ai ở vị trí của anh cũng làm được.
Một người bạn từng viết điều quý ở anh là sự kết hợp giữa trí tuệ, khí tiết và bản lĩnh. Tôi nghĩ cái “hiếm” đó nằm ở chỗ anh giữ được cái cốt của mình – đó là cái thẳng, cái thật và sự không dễ dãi với những điều hời hợt. Là người xứ Quảng, anh giữ được cái “cốt” đó một cách bền bỉ ngay cả khi đi qua những vị trí cao, những môi trường phức tạp. Không phô ra, nhưng luôn hiện diện.
Tại hội thảo góp ý Quy hoạch chung TP Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 do UBND TP Đà Nẵng tổ chức ngày 15/5, các chuyên gia và lãnh đạo địa phương tập trung thảo luận phương án tổ chức lại không gian đô thị sau sáp nhập.
Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn nhận định việc hợp nhất Đà Nẵng và Quảng Nam thực chất là xây dựng một quy hoạch hoàn toàn mới vì bối cảnh phát triển đã thay đổi đáng kể. Thách thức lớn nhất hiện nay là sự chênh lệch về hạ tầng và trình độ phát triển giữa khu vực đô thị Đà Nẵng hiện hữu với Tam Kỳ.
Ông Sơn ví Đà Nẵng và Tam Kỳ như "người anh cả và người em" trong cùng một gia đình, bài toán đặt ra là kéo khu vực phía Nam phát triển lên thay vì làm chậm đà tăng trưởng của đô thị trung tâm. "Nếu không có chiến lược quy hoạch phù hợp, thành phố sau sáp nhập sẽ khó tạo được bước phát triển đồng bộ", ông nói.
Giải pháp cốt lõi được ông đề xuất là xây dựng hệ thống hạ tầng đa phương thức tích hợp gồm đường bộ, cao tốc, đường sắt, đường thủy và hàng không nhằm kết nối các khu vực, chia sẻ lợi ích hạ tầng và giảm áp lực cho đô thị lõi. Khi có hệ thống giao thông kết nối, toàn bộ đô thị sẽ được hưởng lợi. Người dân ở các khu vực khác cũng có thể tiếp cận các trung tâm giáo dục, y tế chất lượng cao.
Hiện nay, quỹ đất ven biển phía Đông của Đà Nẵng không còn nhiều. Nếu tổ chức hạ tầng thiếu hợp lý, các công trình giao thông có thể chia cắt không gian phát triển đô thị. Với kinh nghiệm hơn 30 năm tư vấn quy hoạch quốc tế, kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn đề xuất Đà Nẵng hình thành trung tâm tài chính quốc tế quy mô lớn thay vì tiếp tục tận dụng các quỹ đất hạn hẹp trong lõi đô thị hiện hữu.
Ông cũng cho rằng Đà Nẵng cần cân nhắc chuyển một số phân khu chức năng về phía Tam Kỳ để tận dụng quỹ đất sau sáp nhập thay vì lấn biển vịnh Đà Nẵng xây khu thương mại tự do. Nguyên nhân là phương án lấn biển tiềm ẩn nhiều hệ lụy môi trường và chi phí bảo trì, cần được nghiên cứu, so sánh kỹ với lợi thế quỹ đất phía Nam Tam Kỳ.
"Đà Nẵng cần phát triển theo mô hình hai cực thay vì dàn trải. Trong đó, cực phía Bắc là đô thị Đà Nẵng hiện hữu với mật độ cao, hiện đại; cực phía Nam là cụm Tam Kỳ - Chu Lai gắn với logistics và công nghiệp", ông nhấn mạnh. Khi đó, hai cực sẽ được kết nối và lan tỏa dần để hình thành trục đô thị liên hoàn tương tự mô hình Sài Gòn - Chợ Lớn. Khu vực giữa, trọng tâm là Hội An, được định hướng giữ mật độ thấp nhằm bảo tồn di sản và cảnh quan tự nhiên.
Đô thị đáng sống "không nhất thiết phải có nhà cao tầng hay giao thông hiện đại ở khắp nơi". Người thích nhịp sống năng động có thể ở phía Bắc, người tìm cơ hội phát triển mới vào Tam Kỳ, còn khu vực Hội An giữ không gian sinh thái và di sản.
Đồng tình với định hướng này, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Đà Nẵng Lê Trí Thanh cho rằng quy hoạch mới cần hình thành các cực chức năng rõ ràng. Khu vực phía Nam gắn với Chu Lai, Dung Quất sẽ phát triển chuỗi đô thị công nghiệp - cảng biển - sân bay, trong đó sân bay Chu Lai cần được định vị là trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế và bảo dưỡng tàu bay.
Ông Thanh cũng lưu ý quỹ đất thực tế có thể phát triển đô thị sau sáp nhập vẫn chủ yếu tập trung ở dải đồng bằng ven biển, trong khi khu vực miền núi và trung du có nguy cơ sạt lở, cần nghiên cứu kỹ để bảo đảm phát triển bền vững.
Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Lê Quang Nam thừa nhận cấu trúc đô thị hiện nay thiếu cân đối khi khu vực lõi ven biển phát triển quá nóng, còn phía Tây và Tây Nam vẫn chậm phát triển, hạ tầng chưa đồng bộ. Thành phố đồng thời đối mặt áp lực từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn.
"Quy hoạch lần này không chỉ tổ chức lại không gian mà còn xác định lại mô hình phát triển mới, tăng khả năng chống chịu cho đô thị biển", ông Nam nói.
Theo định hướng đến năm 2050, dân số Đà Nẵng dự kiến đạt khoảng 6 triệu. Các chuyên gia khuyến nghị thành phố cần tăng quỹ đất dự trữ, mở rộng không gian xanh và nâng tỷ lệ cây xanh lên khoảng 15-20 m2/người, đồng thời tăng liên kết vùng với Huế và Quảng Ngãi để nâng sức cạnh tranh với các đô thị Đông Nam Á.
Sau sáp nhập với Quảng Nam từ ngày 1/7/2025, Đà Nẵng có diện tích hơn 11.859 km2, dân số trên 3 triệu người, trở thành đô thị trực thuộc Trung ương có diện tích lớn thứ hai cả nước.
Chiều ngày 6.4, Phòng Kinh tế xã Tân Hộ Cơ (Đồng Tháp) thông tin, vào sáng sớm ngày 4.4 khu ao cá tra ở ấp 3, xã Tân Hộ Cơ của ông Nguyễn Văn Bầy (61 tuổi, ở địa phương) bất ngờ bị sạt lở nghiêm trọng, gây thiệt hại hơn 7,5 tỉ đồng.
Cụ thể, khoảng 5 giờ 30 phút sáng ngày 4.4, đoạn đường bờ tây kênh Tân Thành được ông Bầy tận dụng làm bờ ao nuôi cá tra bất ngờ bị sạt lở, lan rộng ra khoảng 100m. Dòng nước chảy xiết khiến cả trăm tấn cá tra sắp đến ngày thu hoạch và ao cá tra giống mới thả nuôi của ông Bầy cùng nhiều tài sản khác trôi theo dòng nước.
Vụ sạt lở 2 ao cá có tổng diện tích 3 ha đã gây thiệt hại tài sản hơn 7,5 tỉ đồng cho gia đình ông Bầy, bao gồm: 1 nhà kho đang chứa 10 tấn lúa giống, 1 băng tải, 2 xe máy; 100 tấn cá tra thịt, 30 tấn cá tra giống và đàn dê 120 con.
Theo nhận định ban đầu, nguyên nhân gây sạt lở là do ao nuôi thủy sản của ông Bầy liền kề với đường giao thông nông thôn bờ tây kênh Tân Thành. Thời điểm này, mực nước kênh Tân Thành thấp hơn mực nước ao nuôi cá tra khoảng 4 m và do ao nuôi cá mới đào, nền đất và chân ta luy còn yếu, đã gây ra vụ sạt lở nghiêm trọng nói trên.
Bước đầu, chủ ao cá tra cam kết tự khắc phục hậu quả vụ sạt lở; đồng thời sửa chữa đoạn giao thông bị sạt lở bằng nguồn kinh phí của gia đình. Thời gian khắc phục 20 ngày để người dân có thể đi lại được bằng đường bộ bờ tây kênh Tân Thành và đường thủy khu vực sạt lở.
Sáng 6/5, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng cùng các đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số 10 tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 16.
Cử tri Nguyễn Văn Thuần, tổ dân phố số 8, cụm Ngọc Thụy, phường Bồ Đề phản ánh khu vực thuộc dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng có nhiều di tích, dân cư sinh sống lâu đời. Do đó ông đề nghị công khai quy hoạch, kế hoạch giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư tại chỗ cho người dân.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng cho biết thành phố đang hoàn thiện quy chế quản lý kiến trúc và quy hoạch chi tiết tại các địa bàn như Vĩnh Thanh, Phúc Thịnh, Thiên Lộc, Bồ Đề, Long Biên nhằm ổn định đời sống người dân và khai thác hiệu quả không gian bãi sông.
Thành phố định hướng hình thành các công viên lớn, khu sinh thái xứng tầm dọc sông Hồng, sông Đuống, đồng thời không chấp nhận các dự án cản trở hành lang thoát lũ, không phát triển đô thị nén thiếu không gian xanh tại khu vực này.
Liên quan phát triển kinh tế, Hà Nội định hướng chuyển đổi mô hình làng nghề và nông nghiệp theo hướng giá trị cao. Với Bát Tràng, mục tiêu là phát triển thành trung tâm thiết kế sáng tạo và du lịch trải nghiệm quốc tế, không chỉ dừng ở sản xuất gốm.
Tại các xã Phù Đổng, Gia Lâm, Thuận An, thành phố yêu cầu bảo vệ quỹ đất nông nghiệp sinh thái, phát triển mô hình công nghệ cao, hạn chế tình trạng chia lô bán nền tự phát làm phá vỡ không gian di sản.
Các khu vực Việt Hưng, Phúc Lợi, Thư Lâm, Đông Anh đang chịu áp lực giao thông lớn do dân số tăng nhanh. Vì vậy, thành phố sẽ đẩy nhanh tiến độ các cầu qua sông Hồng như Tứ Liên, Trần Hưng Đạo và các trục giao thông hướng tâm phía đông.
Song song với hạ tầng cứng, chính quyền cơ sở được yêu cầu chú trọng hạ tầng mềm - nâng cấp hệ thống xử lý nước thải tại khu dân cư cũ và tăng năng lực quản lý khi chuyển đổi lên phường.
Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết từ nay đến cuối năm nhiệm vụ rất nặng nề, yêu cầu các cấp, ngành tập trung thực thi cơ chế, cải cách hành chính, quản lý đô thị và bảo đảm an sinh xã hội để đưa Luật Thủ đô mới vào cuộc sống.
Ông cho rằng Hà Nội chưa thể là nơi đáng sống nếu còn 5 điểm nghẽn gồm úng ngập, ùn tắc, ô nhiễm, trật tự xây dựng và an toàn thực phẩm. Chính quyền các xã, phường phải siết quản lý quy hoạch; địa bàn để xảy ra xây dựng trái phép, phá vỡ cảnh quan mà không xử lý dứt điểm, Bí thư cấp đó phải chịu trách nhiệm.
"Hà Nội đang đứng trước giai đoạn phát triển mới, cần sự đồng lòng của người dân và quyết tâm của cả hệ thống chính trị để xây dựng Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại", ông nói.