Ngôi chùa có tên là Thiền Viện Đông Lai (phường Tịnh Biên, An Giang), người dân quen gọi nơi đây là chùa Phật nằm vì có tượng Phật nằm trước cổng. Nhiều người còn gọi nơi này là “chùa bánh xèo” vì những chiếc bánh thơm nóng mỗi ngày.
“Chùa bánh xèo” chỉ cách cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên hơn 7km. Cảnh vùng biên viễn khiến ngôi chùa thêm phần cổ kính, yên tĩnh. Sâu bên trong phía sau chùa là gian bếp với khung cảnh tấp nập của người cho – nhận bánh xèo.
Trời tờ mờ sáng giấc 5h, đoạn đường giáp biên còn thưa người đã có mấy ông thợ chở đồ nghề lỉnh kỉnh vào cổng chùa. Gọi là thợ đổ bánh chứ mỗi người đều có công việc riêng, phát tâm vào chùa học đổ bánh để phục vụ bà con.
Trước khi làm việc, mấy ông thợ bánh chỉnh lại quần áo gọn gàng rồi vào chánh điện lạy Phật. Xong xuôi mỗi người mỗi góc, chia nhau mần thiệt lẹ để kịp ra mẻ bánh đầu tiên lúc 7h sáng.
Phần việc xay bột sẽ giao cho người đàn ông lớn tuổi nhất trong nhóm phụ trách. Chặt củi, nhóm lửa sẽ giao cho chàng trai Bùi Quang Huy (22 tuổi), người trẻ nhất trong đội. Khâu khuấy bột và nêm nếm được anh Ngô Tuấn Vũ (44 tuổi), người có kinh nghiệm dày dặn nhất ở bếp bánh xèo này, đảm nhận.
“Nói nào ngay hổng ai ăn sớm vậy đâu, khách hành hương tầm gần trưa mới bắt đầu tới. Mấy mẻ đầu tiên này là cho thợ ăn, tụi tui ăn thử coi bột khuấy vậy đạt chưa để còn chỉnh kịp”, anh Ngô Tuấn Vũ giải thích.
Chỉ vào ba khu vực lớn trong bếp, mỗi khu vực có tới 10 chiếc lò đổ bánh, ông Vũ giới thiệu: “Ngày cao điểm như thứ bảy, chủ nhật, ba khu bếp đỏ lửa liên tục từ 5h30 sáng cho tới 6h chiều mới xong. Đỉnh điểm trong năm phút tụi tui cho ra lò 50-60 cái bánh xèo là bình thường”.
Thấy chúng tôi ngạc nhiên, người đàn ông có gần 20 năm kinh nghiệm đổ bánh tại chùa thị phạm. Anh thoăn thoắt đôi tay tráng bột quanh lòng chảo, thêm củ sắn, đậu hũ và giá vào.
Gần ba phút sau, anh lắc nhẹ chiếc vá đảo miếng bánh, cho ra lò cái đầu tiên. Đáng nói không phải mình anh, ai đổ bánh ở đây cũng 10 chảo một lúc như vậy mới kịp.
Hiện tại anh Vũ không còn trực tiếp đổ bánh nhiều mà phụ trách quản lý, hướng dẫn những người mới trong bếp.
Khi được hỏi đổ bánh nhiều vậy liệu có khi nào “ế” không, chàng trai Bùi Quang Huy cười tươi rói khẳng định đã làm ở đây gần hai năm nay chưa thấy ngày nào ế.
Tầm 12h, lượng khách đổ về chùa đông hơn, đằng sau căn bếp nhỏ chật kín người cầm dĩa chờ lấy bánh. Cái nào ra là hết sạch cái đó, dòng người xếp hàng ken đặc dài ra tới nhà ăn.
Anh Huy nói kỷ lục về số lượng ở bếp này là vào ngày rằm, có khi đổ một ngày gần 10.000 cái vẫn không đủ phục vụ cho bà con. Ngoài dành cho khách hành hương phương xa, người đổ bánh ở đây luôn chừa riêng ra một phần để ở góc bếp.
Không phải cúng kiếng gì hết, đó là phần các anh để dành cho mấy đứa nhỏ bán vé số trong khu vực. Cứ tới giờ cơm trưa tụi nhỏ lại tạt vô xin mấy cái bánh lót dạ rồi tiếp tục mưu sinh. “Tụi nhỏ vùng biên này khổ lắm, cỡ mười mấy tuổi là theo phụ ba mẹ bán vé số kiếm tiền rồi. Đứa nào bán xa cũng ráng nhịn tới xế vô đây ăn bánh cho đỡ tốn tiền”, anh Huy kể.
Tụi con nít xóm nghèo ăn xong, chiều lại đến ba mẹ chúng vào xin bánh. Bữa nào mà thấy qua 4h chiều vẫn cầm cọc vé số vào ăn, anh Vũ cũng sẽ nhắc bếp làm thêm mấy cái cho họ đem về vì biết bữa đó bán ế.
Mặt mũi đen xì, nước mắt chảy liên tục vì khói và không có thù lao, vậy mà nhiều người vẫn tình nguyện chuẩn bị đồ ăn ở chùa suốt bao năm. Người có thâm niên gần 20 năm như anh Vũ cũng chẳng hiếm, bởi chùa đã đổ bánh miễn phí cho bà con từ năm 2000.
“Thiệt tình chẳng cần thợ thầy gì hết, ai phát tâm vô đây làm là tụi tui chỉ hết ráo hà. Chỉ sợ người ta ngại việc không có tiền nên không theo được lâu dài thôi”, ông Vũ chia sẻ. Theo ông, thù lao ở đây là tiếng cười, là niềm vui của những vị khách phương xa.
Nhiều người sau khi ăn thấy mấy ông thợ nấu cực quá liền moi trong túi ra tờ năm chục, tờ một trăm nhét vào góc bếp. Số tiền ấy thường được các anh mua bột và nguyên liệu để làm tiếp mấy mẻ bánh sau.
Ai không bỏ tiền sẽ lăng xăng chạy vào sau bếp xin rửa chén phụ cùng mọi người. Đó là một phần lý do giúp bếp bánh xèo miễn phí đỏ lửa liên tục suốt bao năm.
Như chị Nguyễn Thị Thu Phương (37 tuổi) từ TP.HCM đến chùa bánh xèo để thưởng thức bằng được chiếc bánh nổi tiếng. Chị tự nhận mình mê bánh xèo, kiểu miền Trung, miền Tây gì cũng ăn ráo rồi mà không có cái nào đặc biệt như cái bánh xèo chay miễn phí ở đây.
“Bánh giòn, nhân bên trong đầy đặn. Đặc biệt là keo nước mắm không chỗ nào chê”, chị Phương khẳng định.
Thưởng thức ba cái liên tục, chị Phương chạy thẳng xuống sàn nước, nơi các cô lớn tuổi đang rửa chén, để xin phụ. Ở đây có khoảng 10 người đang rửa, 8 trong số đó là khách hành hương vào góp sức.
Một số khác như anh Võ Tấn Trường (42 tuổi, ngụ Vĩnh Long) xung phong vào phụ mấy ông thợ đổ bánh. Nghĩ là dễ làm ai dè không xoay xở nổi với 10 cái chảo cùng lúc. Lấy ra được bốn thì sáu cái còn lại đã cháy đen. Anh Trường xin rút, đổi qua chặt củi.
“Thôi chạy! Đổ cái này chưa xong thì cái kia khét lẹt rồi, phải quen tay dữ lắm mới làm kịp. Ngộp nữa, ngồi quanh 10 cái lò lửa không thở nổi, nín thở không đó”, anh Trường nói về trải nghiệm.
Gần 30 năm nay ngày nào cũng vậy, đằng sau căn bếp của ngôi chùa vẫn cứ đỏ lửa. Vẫn là tiếng xèo xèo của chiếc bánh miễn phí, thân thương gửi người phương xa đến hành hương.
Anh Nguyễn Thế Tuyền, 34 tuổi, trú xã Hồng Xuân, tỉnh Ninh Bình, bắt đầu công việc phục dựng mô hình nhà cổ từ năm 2021. Thời điểm đó, căn nhà 5 gian của ông bà ngoại sắp bị tháo dỡ. Thấy tiếc nuối không gian gắn bó suốt tuổi thơ, anh tự mày mò dựng bản thu nhỏ ngôi nhà nhằm giữ lại kỷ niệm.
Ông ngoại anh, một kiến trúc sư hơn 80 tuổi đã nghỉ hưu, là người hướng dẫn trực tiếp về tỷ lệ, không gian và kết cấu. Từng học Đại học Xây dựng nhưng sau đó chuyển hướng sang lĩnh vực làm đẹp và nghệ thuật, anh Tuyền tận dụng kiến thức kết cấu và thẩm mỹ để tính toán chi tiết. "Thời gian đầu, tôi liên tục làm hỏng và phải đập đi xây lại. Việc đúc từng viên gạch, viên ngói mini và lắp ghép đòi hỏi độ chính xác cao", anh Tuyền kể.
Sau 6 tháng, phiên bản nhà 5 gian đầu tiên hoàn thiện. "Nhìn ngôi nhà quen thuộc hiện ra trong hình hài thu nhỏ, cả bầu trời ký ức tuổi thơ ùa về khiến tôi vô cùng xúc động", chủ nhân tác phẩm kể.
Anh tiếp tục lấy ý tưởng từ các kiến trúc trong làng, sáng tác thêm nhiều tác phẩm và nhận nhiều lời khen khi đăng tải lên mạng xã hội. Nhiều khách hàng từ khắp mọi miền tìm đến, kể về cơ ngơi cũ của ông bà và đặt hàng phục dựng. "Lượng đơn đặt hàng tăng dần giúp tôi gắn bó với nghề đến tận hôm nay trong sự ủng hộ nhiệt tình của gia đình", chàng trai 34 tuổi nói.
Quá trình chế tác một mô hình trải qua nhiều công đoạn. Người thợ phải đến tận nơi khảo sát hoặc nghiên cứu qua hình ảnh, video của khách hàng để chọn vật liệu. Với những công trình không còn dấu tích, anh dựng bản vẽ 3D dựa trên lời kể của gia chủ, thống nhất phương án trước khi thi công.
Khâu thực hành bắt đầu bằng việc hàn khung sắt, đổ móng, xây tường bằng gạch mini. Tiếp đó là hoàn thiện hệ thống cửa gỗ, nội thất và các tiểu cảnh sân vườn. Những chi tiết như chum nước, xe đạp, bó lúa... được bổ sung để tăng tính sinh động. Theo anh Tuyền, khâu tính toán tỷ lệ gặp nhiều khó khăn nhất, bởi một sai lệch nhỏ sẽ làm mất độ chân thực của công trình. Để tái tạo dấu vết thời gian, anh thường xuyên đi quan sát thực tế các mảng tường rêu phong nhằm pha chế màu sơn sát với thực tế.
Vượt lên trên yếu tố kỹ thuật, người thợ phải thổi được "cái hồn" vào tác phẩm. Nhiều công trình đã bị phá bỏ từ lâu đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ của người thiết kế, khiến gia chủ khi nhìn vào phải ngỡ ngàng nhận ra cơ ngơi xưa.
Sau 5 năm, xưởng của anh đã cho ra đời vài trăm mô hình, chủ yếu là nhà 5 gian miền Bắc với tỷ lệ thu nhỏ 1/20. Giá thành dao động 10 - 100 triệu đồng tùy kích thước. Khách hàng đa phần là người cao tuổi muốn mô phỏng lại nhà cũ, hoặc người trẻ mua làm quà tặng bố mẹ.
Nhiều năm theo nghề nhưng theo anh Tuyền, khoảnh khắc bàn giao sản phẩm luôn mang lại nhiều cảm xúc, chứng kiến nhiều gia chủ rơi nước mắt khi ký ức ùa về.
Tháng 5/2025, ông Nguyễn Văn Hảo (55 tuổi, tỉnh Thái Bình) nhận bàn giao phiên bản nhà 5 gian 3 trái sau ba tháng đặt hàng với chi phí 20 triệu đồng. Căn nhà gốc xây năm 1982 của gia đình ông đã phải dỡ bỏ từ 5 năm trước do xuống cấp. Muốn con cháu nhớ về cội nguồn, ông bàn bạc cùng người thân và chốt phương án phục dựng, sau khi được bạn bè giới thiệu xưởng chế tác của anh Tuyền.
"Mô hình giúp tôi dễ dàng kể lại cho con cháu về không gian sống ngày xưa", ông Hảo nói.
Hiện xưởng chế tác của anh Tuyền có 10 nhân sự làm việc. Trong thời gian tới, người thợ 34 tuổi cho biết có kế hoạch thực hiện các tác phẩm mô phỏng những công trình di tích lịch sử và kiến trúc văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.
"Tôi mong muốn dùng chính đôi tay này để lan tỏa mạnh mẽ giá trị văn hóa truyền thống đến mai sau", chàng trai Ninh Bình nói.
Một số mô hình nhà cổ của anh Tuyền chế tác từ năm 2021 đến nay.
Tử Cấm Thành là cung điện hoàng gia nổi tiếng bậc nhất tại Bắc Kinh, từng là nơi sinh sống và làm việc của 24 vị hoàng đế thuộc hai triều đại Minh và Thanh. Đây được xem là một trong những quần thể kiến trúc cổ đại đồ sộ và hoàn chỉnh nhất còn tồn tại trên thế giới.
Ngày nay, nơi đây không chỉ là di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận mà còn là một trong những bảo tàng lịch sử nghệ thuật quan trọng nhất, lưu giữ hơn một triệu hiện vật quý giá như tranh cổ, gốm sứ, đồ đồng...
Ẩn sau từng chi tiết trong Tử Cấm Thành là những tầng ý nghĩa sâu xa mà không phải ai cũng nhận ra. Ngay cả những tượng sư tử đá tưởng chừng chỉ để trang trí cũng mang trong mình thông điệp văn hoá đặc biệt của hoàng triều xưa.
Điều thú vị khi bước vào các cổng cung điện trong Tử Cấm Thành, dễ dàng bắt gặp những cặp sư tử đồng mạ vàng uy nghi đứng chầu hai bên lối vào. Chúng không chỉ là vật trang trí mà còn mang ý nghĩa phong thuỷ và quyền lực rất rõ ràng.
Sư tử vốn được xem là biểu tượng của sức mạnh, sự bảo hộ và uy quyền hoàng gia. Vì vậy, chúng được đặt trước các cung điện với nhiệm vụ trấn giữ, xua đuổi tà khí và bảo vệ sự bình an cho hoàng cung.
Mỗi cặp sư tử thường gồm một con đực và một con cái, được tạo hình tinh xảo với bờm dày, móng vuốt sắc, cổ đeo chuông và tư thế oai nghiêm. Không chỉ vậy, cách bài trí cũng được quy định rất chặt chẽ, từ hướng đặt cho đến vị trí bên trái, bên phải, đều không được phép sai lệch.
Điểm khiến nhiều người thắc mắc nhất chính là đôi tai cụp xuống của những bức tượng sư tử trong Tử Cấm Thành. Thay vì dáng vẻ gầm gừ, cảnh giác như biểu tượng quyền lực thông thường, chúng lại mang dáng vẻ "lắng nghe" một cách dè dặt.
Điều thú vị theo quan niệm trong triều đình nhà Thanh, chi tiết này không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn ẩn chứa thông điệp chính trị. Hoàng đế muốn nhấn mạnh sự nghiêm ngặt trong việc quản lý triều chính: quan lại và đặc biệt là phi tần trong hậu cung tuyệt đối không được tham gia bàn luận chính sự.
Tai cụp xuống được hiểu như lời nhắc nhở mang tính biểu tượng: không nghe chuyện triều chính, không bàn việc quốc gia, giữ đúng vị trí của mình trong hệ thống quyền lực.
Bên cạnh đó sư tử đá còn được xem là linh vật phong thuỷ quan trọng. Người xưa tin rằng chúng có khả năng xua đuổi tà khí, bảo vệ sự thịnh vượng cho hoàng gia.
Chính vì vậy, nếu một tượng sư tử bị hư hỏng hoặc mất đi, triều đình sẽ thay thế cả cặp mới để đảm bảo sự cân bằng và linh khí.
Các tượng sư tử luôn được đặt hướng ra ngoài hoặc hướng về cổng chính, như một cách "canh giữ" toàn bộ không gian cung điện khỏi những điều không may.
Tử Cấm Thành hiện là một trong những điểm du lịch đông khách nhất thế giới. Trung bình, nơi đây đón khoảng 16–19 triệu lượt khách mỗi năm, và được giới hạn tối đa khoảng 80.000 lượt khách mỗi ngày để bảo tồn di tích.
Con số thực tế có thể thay đổi theo mùa du lịch, nhưng luôn ở mức rất cao, cho thấy sức hút đặc biệt của quần thể cung điện hoàng gia này.
Từ cái cảnh lụi hụi nấu nồi cơm nhỏ xíu trong căn phòng trọ Sài Gòn, ăn qua loa cho xong bữa, về tới nhà là thành #cơmnhà thiệt sự - có người nấu, có người chờ, có tiếng cười nói rôm rả, nghe mà ấm lòng muốn rơi nước mắt.
Quê tôi ở một xóm nhỏ miền Tây, xứ sen hồng - trước nhà là con rạch nước đục phù sa, sau nhà là mấy liếp rau xanh rì. Xe vừa quẹo vô đầu xóm là tôi thấy lòng mình nhẹ hẳn, như trút được nguyên bao nhiêu mệt mỏi trên thành phố.
Ở TP.HCM, có khi chạy xe ngoài đường đông nghẹt, nghe còi inh ỏi, đầu óc lúc nào cũng căng như dây đàn. Vậy mà chỉ cần về tới cổng nhà, nghe tiếng má với câu chào quen thuộc, "về rồi hả con", là tự nhiên thấy mọi thứ dịu xuống.
Bữa cơm quê không có gì cao sang mà sao ngon lạ. Ba tôi hay tranh thủ buổi sáng đi vợt hến dưới rạch. Ba nói: "Hến này tươi ăn mới ngọt", rồi cười cười, tay còn dính bùn mà mặt thì khoái chí. Má thì ở trong bếp, lụi hụi rửa rau, nấu nồi canh chua thơm phức. Còn ngoại tôi, lúc nào cũng ngồi cái ghế gỗ cũ, chậm rãi nhìn con cháu, lâu lâu chen vô một câu: "Ăn nhiều vô con, ốm quá trời".
Có bữa cơm chỉ có cá kho, dĩa rau luộc, chén nước mắm dầm ớt, vậy mà ngồi ăn, tôi thấy ngon hơn bất cứ món nào ngoài quán. Cá kho đậm đà, thịt săn, nước kho sền sệt. Má còn để thêm dĩa xoài chín vàng ươm, ăn kèm nghe vừa ngọt vừa béo, đúng cái kiểu "đặc sản nhà làm" mà đi đâu cũng không kiếm được. Tôi vừa ăn vừa xuýt xoa, ba nhìn qua cười: "Ở trên đó có ăn được vầy không con?". Tôi chỉ biết lắc đầu.
Ở TP.HCM, nhiều khi ăn một mình riết rồi quen. Mở điện thoại lên coi cái gì đó, ăn cho qua bữa, xong rồi lại lao vô công việc. Không ai hỏi ngon không, cũng không có ai gắp cho miếng cá, chan thêm miếng canh. Mọi thứ nó gọn gàng, nhanh chóng, mà cũng lạnh lẽo dữ lắm.
Ở quê, bữa cơm kéo dài hơn bình thường. Ăn xong rồi vẫn ngồi đó, nói chuyện này chuyện kia. Ba kể chuyện xóm làng, má hỏi thăm công việc trên thành phố, ngoại thì lâu lâu chen vô nhắc chuyện hồi xưa. Có khi chỉ là mấy câu chuyện đơn giản vậy thôi, mà tôi nghe hoài không chán. Tại lâu rồi, tôi mới có lại cái cảm giác "được thuộc về chốn quê".
Mỗi lần về quê, tôi hay tự nhủ: "Lần này ở lâu lâu chút". Mà rồi cũng vài bữa là phải đi. Sài Gòn còn công việc, còn trách nhiệm, còn bao nhiêu thứ đang chờ. Ngày lên lại thành phố, má gói cho mớ đồ ăn, ba dặn dò đủ thứ, Ngoại thì đứng nhìn theo, ánh mắt hiền mà buồn buồn. Tôi quay xe đi mà lòng cứ nặng trĩu.
Trên đường trở lại, tôi biết rồi mình sẽ lại quay về với những bữa ăn vội vàng. Nhưng trong lòng tôi, cái vị cơm quê vẫn còn đó. Cái vị cá kho đậm đà, cái ngọt của xoài chín, cái ấm áp của tiếng cười bên mâm cơm... nó theo tôi lên tới tận Sài Gòn, len vô từng ngày bận rộn.
Có người hỏi tôi, sao cứ thích về quê hoài vậy. Tôi cười, trả lời vui: "Về ăn cơm". Nhưng thiệt ra, đâu chỉ là ăn. Là về để thấy mình vẫn còn một nơi để thương, để nhớ. Là về để biết, dù ngoài kia có mệt cỡ nào, thì vẫn có một mâm cơm chờ mình, có ba má, có ngoại, có một mái nhà luôn mở cửa.
Với tôi - một thằng con trai miền Tây đi làm xa - hạnh phúc nhiều khi chỉ là vậy thôi - một bữa cơm nhà, ăn cho no bụng, rồi cười cho đã lòng.