Sau cuộc họp giữa Ngân hàng Nhà nước VN (NHNN) với các NH ngày 9.4 đến nay, đã có hơn 30 nhà băng đồng loạt giảm lãi suất huy động, mức phổ biến từ 0,1 – 0,5%/năm. Trong đợt giảm lãi suất này, có một số NH đã 2 lần cắt giảm như Agribank, SeABank.
Đối với các kỳ hạn dưới 6 tháng, lãi suất tiết kiệm đa số kịch trần ở 4,75%/năm. Từ 6 tháng trở lên, lãi suất vẫn khá cạnh tranh, dao động phổ biến ở 5,3 – 6,8%/năm. Riêng một số NH có mức lãi suất cao trên 8%/năm như NH số Cake by VPBank áp dụng mức 8,5%/năm khi khách hàng mới gửi từ 100 triệu đồng trở lên. Kỳ hạn 6 tháng có lãi suất mức 7,05%/năm tại Bac A Bank; VCBNeo có mức lãi suất 7%/năm khi gửi trực tuyến; PGBank có lãi suất 6,9%/năm… Đối với kỳ hạn 12 tháng trở lên, lãi suất huy động của các nhà băng dao động từ 6,7 – 7,2%/năm. Một số NH huy động khối lượng tiền lớn với mức lãi suất khủng như PVCombank áp dụng 10%/năm đối với số tiền gửi đặc biệt lớn. Cake by VPBank áp dụng lãi suất 8,7%/năm.
Trong khi đó, lãi suất cho vay vẫn chưa “nhúc nhích”. Lãi suất cho vay tiền đồng bình quân trong tháng 3 của nhóm NH thương mại nhà nước và cổ phần đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,4 – 9,7%/năm. Đối với khách hàng vay mua bất động sản, lãi vay 12 – 14%/năm vẫn hiện hữu. Nếu tính riêng đối với từng khách hàng thì lãi vay tăng lên khoảng 1% so với những tháng đầu năm. Còn lãi suất cho vay USD đối với khoản vay mới và cũ ở mức 4 – 5,3%/năm.
Công ty CP chứng khoán KB VN (KBSV) nhận định trong ngắn hạn, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý 2. Bên cạnh đó, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) thuần của các NH vẫn ở mức cao và gần chạm mức trần 85% theo Thông tư 22. Tâm lý nắm giữ và giao dịch tiền mặt trước các thay đổi về chính sách thuế tiếp tục khiến việc huy động của các NH vẫn sẽ còn khó khăn. Ngoài ra, giải ngân đầu tư công khó có đột phá trong quý này cũng sẽ khiến kho bạc tiếp tục bội thu ngân sách. Cả hai yếu tố này đều khiến thu hẹp dòng tiền quay trở lại hệ thống NH. Hơn nữa, diễn biến phức tạp tại khu vực Trung Đông tạo áp lực kép lên lạm phát và tỷ giá khiến NHNN chưa có nhiều dư địa trong việc hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống.
Tương tự, Công ty chứng khoán Vietcombank nhận định bước sang quý 2, thanh khoản hệ thống dự kiến tiếp tục chịu áp lực trong bối cảnh nhu cầu giải ngân tăng mạnh, định hướng giảm lãi suất huy động có thể làm chậm tốc độ cải thiện nguồn vốn đầu vào tại một số NH, đặc biệt là nhóm quy mô vừa và nhỏ hoặc có tăng trưởng tín dụng cao. Bên cạnh đó, khối lượng thị trường mở (OMO) đáo hạn trong tháng 4 vẫn ở mức lớn. Do đó thanh khoản dự kiến kém dồi dào, lãi suất huy động sẽ tiếp tục neo ở mức tương đối cao trong thời gian tới, đặc biệt tại các kỳ hạn trung và dài hạn.
Câu chuyện lãi suất là một trong những vấn đề được cổ đông các NH đặt ra tại các cuộc họp đại hội đồng cổ đông vừa qua. Ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc VPBank, giải thích: Thanh khoản trong quý 1 tương đối căng thẳng, dẫn đến xu hướng tăng lãi suất huy động của hầu hết các NH. Hiện lãi suất huy động đang tăng cao nhất 3 năm qua ở các kỳ hạn. Tuy nhiên, xu hướng này chỉ duy trì ở mức cao trong một thời gian ngắn nữa và sẽ giảm dần vào cuối quý 2 đầu quý 3. Theo ông Nguyễn Đức Vinh, cuộc họp của tân Thống đốc NHNN với các NH mới đây đã thể hiện quyết tâm rất cao trong việc kiểm soát lãi suất. Do đó, các nhà băng sẽ duy trì lãi suất đi ngang, sau đó sẽ giảm và tiến tới giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế.
Ông Lê Thanh Tùng, Thành viên HĐQT VietinBank, cũng thừa nhận mặt bằng lãi suất thời gian qua đã tăng nhanh và duy trì ở mức cao, chủ yếu phản ánh nhu cầu cân đối thanh khoản của hệ thống và mức độ cạnh tranh gia tăng, gây áp lực lên chi phí huy động vốn của các NH. Xu hướng lãi suất phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong nước và thế giới, trong đó đặc biệt là diễn biến xung đột tại Trung Đông. Trong kịch bản cơ sở, VietinBank cho rằng chi phí vốn có thể vẫn duy trì ở mức cao trong ngắn hạn, nhưng tốc độ tăng thêm sẽ chậm lại và có cơ sở ổn định dần khi điều kiện thanh khoản thị trường trở nên thuận lợi hơn. Tuy nhiên nếu cú sốc giá dầu kéo dài và USD tiếp tục mạnh lên, áp lực lãi suất tăng có thể kéo dài trong năm 2026.
“Thanh khoản hệ thống hiện nay phản ánh áp lực do tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với tăng trưởng nguồn vốn. Để cân bằng hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, NHNN đã điều hành linh hoạt các giải pháp để giữ ổn định thanh khoản hệ thống, ổn định mặt bằng lãi suất. Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của thị trường quốc tế đã tạo ra áp lực lớn đến chính sách điều hành của NHNN”, ông Tùng phân tích. Theo đánh giá của VietinBank, NHNN sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ thanh khoản hệ thống thông qua các công cụ điều hành như tỷ giá, lãi suất, thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, room tín dụng. Các NH cũng kiến nghị xem xét nới lỏng cách tính tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước để giảm áp lực LDR. Đồng thời, NHNN cũng phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
KBSV kỳ vọng xu hướng hạ nhiệt lãi suất sẽ rõ ràng hơn, với mức giảm bình quân khoảng 0,5 – 1%/năm vào 2 quý cuối năm 2026 nhờ nguồn vốn dồi dào từ dòng vốn đầu tư công giải ngân mạnh mẽ chảy vào hệ thống NH; tình hình xung đột tại Iran hạ nhiệt, giải tỏa áp lực lạm phát, tỷ giá, qua đó giúp NHNN có dư địa hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống NH; nhiều chính sách mới sẽ được đưa ra vào nửa cuối năm từ Chính phủ và NHNN để nỗ lực đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, trong đó bao gồm hạ nhiệt mặt bằng lãi suất. “Bước sang nửa sau của năm 2026, mặt bằng lãi suất cho vay sẽ có xu hướng hạ nhiệt rõ nét hơn, tương đồng mức giảm ở mặt bằng lãi suất huy động nhằm hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Xu hướng giảm trong giai đoạn này nhiều khả năng vẫn mang tính chọn lọc, ưu tiên tập trung vào các lĩnh vực động lực như xuất khẩu và sản xuất công nghiệp”, KBSV nhận định.
Theo các phân tích tại Hội nghị Vonfram quốc tế tổ chức tại Ganzhou (Trung Quốc) tháng 3.2026, Chính phủ Trung Quốc đang thực hiện một sự chuyển dịch chính sách rõ rệt: Từ vai trò là nhà cung cấp lớn cho thế giới sang ưu tiên tiêu dùng nội địa và bảo vệ tài nguyên chiến lược. Sản lượng khai thác tiếp tục bị cắt giảm, hoạt động sản xuất chịu áp lực từ các quy định môi trường, trong khi xuất khẩu được kiểm soát chặt chẽ hơn.
Song song với đó, nhu cầu nội địa của Trung Quốc lại gia tăng khi nền kinh tế hướng đến các ngành công nghệ và tiêu dùng giá trị cao. Sự đảo chiều này khiến Trung Quốc dần chuyển từ vị thế xuất khẩu sang tiêu thụ, thậm chí trở thành bên nhập khẩu đối với một số dạng nguyên liệu vonfram.
Những thay đổi về chính sách đã tạo ra một khoảng trống nguồn cung ngày càng rõ rệt trên thị trường toàn cầu. Xuất khẩu giảm, trong khi nhu cầu công nghiệp tăng khiến giá vonfram tiến tới một mặt bằng mới. Đáng chú ý, phần còn lại của thế giới đang đối mặt với mức thiếu hụt khoảng 79.000 tấn, phản ánh sự mất cân đối giữa cung và cầu trong giai đoạn hiện tại.
Trong bối cảnh đó, các nhà cung cấp ngoài Trung Quốc đang dần trở thành những mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi thị trường chuyển từ trạng thái phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất sang đa dạng hóa, giá trị của các nguồn cung thay thế được định giá lại.
Masan High-Tech Materials (UPCoM: MSR) là một trong số ít doanh nghiệp sở hữu nền tảng khai thác và chế biến vonfram quy mô lớn ngoài Trung Quốc. Với mỏ Núi Pháo và chuỗi giá trị tích hợp từ khai thác đến chế biến sâu, doanh nghiệp có khả năng đảm bảo nguồn cung ổn định, kiểm soát chi phí và hưởng lợi rõ rệt khi giá vonfram duy trì ở vùng cao.
Đáng chú ý, lợi thế này đã bắt đầu chuyển hóa rõ nét thành kết quả kinh doanh. Quý 1/2026, MSR ghi nhận doanh thu gần 3.000 tỉ đồng, tăng 114,9% so với cùng kỳ, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt 537 tỉ đồng - mức cao nhất theo quý từ trước đến nay, đảo chiều mạnh so với khoản lỗ 222 tỉ đồng cùng kỳ năm trước. Biên EBITDA cũng mở rộng lên 35,1%, phản ánh sự cải thiện đồng thời từ giá hàng hóa và hiệu quả vận hành.
Giá APT - sản phẩm chủ lực của MSR - đạt khoảng 3.150 USD/mtu tại thời điểm cuối quý 1/2026, cao hơn đáng kể so với giả định kế hoạch, tạo dư địa cho kết quả kinh doanh tích cực hơn nếu mặt bằng giá được duy trì trong phần còn lại của năm.
Không chỉ dừng ở lợi thế tài nguyên, MSR còn đang chủ động nâng cấp vị thế trên thị trường vốn. Theo kế hoạch trình cổ đông, doanh nghiệp dự kiến chuyển niêm yết từ UPCoM sang HOSE, bước đi nhằm nâng chuẩn minh bạch, quản trị và mở rộng khả năng tiếp cận dòng vốn tổ chức. Trong bối cảnh HOSE là nơi tập trung phần lớn các quỹ đầu tư và dòng tiền dài hạn, việc chuyển sàn có thể giúp MSR cải thiện thanh khoản, gia tăng mức độ bao phủ phân tích và từng bước tham gia vào các danh mục đầu tư quy mô lớn.
Sự kết hợp giữa chu kỳ ngành thuận lợi và chiến lược mở rộng thị trường vốn đang tạo ra một nền tảng tăng trưởng mang tính "động lực kép" cho MSR. Một mặt, giá vonfram được hỗ trợ bởi cấu trúc cung - cầu mới, trong đó nguồn cung bị hạn chế trong khi nhu cầu từ các ngành công nghệ cao tiếp tục gia tăng. Mặt khác, việc chuyển niêm yết lên HOSE mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn hơn, giúp doanh nghiệp tối ưu cấu trúc tài chính và giảm chi phí vốn.
Song song, triển vọng tăng trưởng của MSR được củng cố thêm bởi yếu tố sản lượng và hiệu quả vận hành. Công suất xử lý dự kiến phục hồi từ quý 2/2026 và tăng mạnh hơn từ quý 3/2026 sau khi điều chỉnh giấy phép khai thác, qua đó sản lượng cả năm được kỳ vọng vượt mức năm 2025. Theo ước tính sơ bộ, lợi nhuận quý 2/2026 có thể đạt khoảng 690 tỉ đồng, và đóng góp lợi nhuận được kỳ vọng tăng mạnh hơn trong nửa cuối năm.
Bên cạnh đó, MSR đang bước vào giai đoạn giảm đòn bẩy tài chính rõ nét. Doanh nghiệp đặt mục tiêu đưa tỷ lệ nợ ròng/EBITDA từ 3,5 lần trong quý 1/2026 xuống còn khoảng 1,7 lần vào cuối năm và hướng tới mức 0,1 lần vào năm 2027 (với giả định giá APT bình quân trên 1.500 USD/mtu). Quá trình này không chỉ giúp giảm chi phí lãi vay mà còn nâng cao chất lượng lợi nhuận và tạo dư địa cho dòng tiền trong dài hạn.
Trong ngành khai khoáng, nơi chi phí cố định chiếm tỷ trọng lớn, sự cải thiện của giá hàng hóa thường tạo ra hiệu ứng đòn bẩy đáng kể lên lợi nhuận. Khi kết hợp với sản lượng phục hồi, dòng tiền cải thiện và cấu trúc tài chính tối ưu hơn, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể được khuếch đại rõ rệt hơn trong chu kỳ tăng trưởng.
Với việc Masan Group (HOSE: MSN) hiện sở hữu hơn 90% Masan High-Tech Materials, những cải thiện về lợi nhuận và dòng tiền của MSR sẽ được phản ánh trực tiếp vào kết quả hợp nhất của Tập đoàn. Trong bối cảnh đó, việc chuyển sàn không chỉ là một bước nâng chuẩn thị trường vốn, mà còn là một mắt xích quan trọng giúp kết nối tài sản tài nguyên chiến lược với dòng vốn dài hạn, qua đó mở ra dư địa tăng trưởng rõ nét hơn cho cả MSR và MSN trong chu kỳ mới.
Liên quan đến quy định về thời hạn xử lý hồ sơ chuyển địa điểm và giải thể doanh nghiệp, tại khoản 2 điều 7 của dự thảo quy định về thủ tục chuyển địa điểm kinh doanh hoặc giải thể doanh nghiệp nêu, trường hợp hồ sơ đăng ký thuế đầy đủ, cơ quan thuế phải thông báo chấp nhận hồ sơ và giải quyết chậm nhất trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, cơ quan thuế phải thông báo cho người nộp thuế trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận.
Theo VCCI trên thực tế, việc xử lý hồ sơ thuế thường bị chậm trễ, gây ách tắc hoạt động đầu tư và tái cơ cấu doanh nghiệp. Việc không có quy định cụ thể về thời hạn xử lý buộc cơ quan thuế phải tuân thủ đã tạo ra tình trạng doanh nghiệp phải chờ đợi kéo dài, ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh, gây thiệt hại về mặt tài chính và cơ hội.
Do vậy, tổ chức này đã đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định về "thời hạn cứng" trong xử lý hồ sơ. Cụ thể, cơ quan thuế nơi chuyển đi phải hoàn tất việc chuyển hồ sơ trong vòng 30 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; cơ quan thuế nơi chuyển đến phải cập nhật thông tin lên hệ thống trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ chuyển giao.
Đặc biệt, đối với trường hợp chấm dứt mã số thuế do giải thể doanh nghiệp, VCCI đề xuất thời gian xử lý không vượt quá 40 ngày làm việc, kể từ ngày hồ sơ được nộp đầy đủ.
Ngoài ra, VCCI cũng đề nghị quy định rõ thời hạn xóa thông tin vi phạm của người nộp thuế. Theo khoản 4 điều 4 của dự thảo, cơ quan quản lý thuế sẽ thực hiện việc chấm dứt và cập nhật thông tin vi phạm của người nộp thuế. Đây được xem là bước cần thiết nhằm khôi phục uy tín cho doanh nghiệp sau khi đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ thuế.
Tuy nhiên, tổ chức này cho rằng, dự thảo hiện chưa xác định rõ thời điểm dừng công khai thông tin đối với một số hành vi vi phạm khác. Chẳng hạn, trường hợp người nộp thuế thực hiện hành vi vi phạm luật về thuế, làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khác.
"Điều này có thể dẫn đến tình trạng thông tin này tồn tại mãi trên hệ thống. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định về thời hạn cập nhật, chấm dứt thông tin vi phạm với các trường hợp này", VCCI đề xuất.
Tại dự án luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và luật Thuế giá trị gia tăng, Bộ Tài chính đề xuất nhiều nội dung đáng chú ý về ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ.
Theo đó, sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ kinh doanh theo hướng không quy định cụ thể là 500 triệu đồng/năm tại luật mà giao Chính phủ quy định. Tinh thần theo hướng nâng ngưỡng này lên để tiếp tục hỗ trợ hộ kinh doanh quy mô nhỏ và trung bình thấp.
Ngoài ra, cần bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xác định doanh thu làm căn cứ miễn thuế.
Những đề xuất trên nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia. Nhìn từ góc độ so sánh tổng thể với một số quốc gia bên cạnh Việt Nam, có GDP bình quân đầu người và mức doanh thu miễn thuế tương ứng, theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh nên điều chỉnh lên tối thiểu 1 tỉ đồng/năm.
"So với Trung Quốc, ngưỡng doanh thu miễn thuế nên cân nhắc là 1,5 tỉ đồng/năm; so với Malaysia và Thái Lan, các ngưỡng nên cân nhắc lần lượt là 1 tỉ đồng/năm và 750 triệu đồng/năm", ông Tuấn nói.
Về ngưỡng miễn thuế cho doanh nghiệp nhỏ, ông Tuấn cho rằng, nên bằng với ngưỡng của hộ kinh doanh.
Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cũng đề xuất nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm và xây dựng ngưỡng miễn thuế với doanh nghiệp nhỏ tương tự.
Tuy nhiên, mấu chốt là sau khi nâng ngưỡng, cần áp dụng việc trừ ngưỡng này khi tính thuế thu nhập cá nhân với cả nhóm hộ kinh doanh có doanh thu năm từ trên 1 tỉ đồng đến 3 tỉ đồng tính thuế theo (doanh thu - chi phí) x thuế suất, thay vì chỉ áp dụng với nhóm hộ kinh doanh quy mô này nhưng tính thuế theo doanh thu (x) thuế suất.
Ông Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, lại đề xuất xác định ngưỡng miễn thuế đối với doanh nghiệp nhỏ trong khoảng 3 - 5 tỉ đồng doanh thu/năm.
Theo ông, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ hay các doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh có muốn thực hiện nghĩa vụ thuế hay không, mà là khả năng tuân thủ trong điều kiện năng lực quản trị còn hạn chế.
Đối với nhóm doanh nghiệp này, các chi phí liên quan đến kế toán, kê khai, hóa đơn… trong nhiều trường hợp đang trở thành gánh nặng đáng kể. Nếu ngưỡng miễn thuế được xác định ở mức quá thấp, chính sách sẽ khó đạt mục tiêu hỗ trợ thực chất.
Ở góc độ tiếp cận chính sách, ông Nam cho rằng, không nên nhìn thuế theo hướng "thu ngay từ đầu". Cách tiếp cận này có thể tạo ra một phần nguồn thu trước mắt, nhưng lại làm suy giảm khả năng hình thành nguồn thu bền vững trong tương lai.
Một doanh nghiệp không vượt qua được giai đoạn đầu sẽ khó có cơ hội trở thành đối tượng nộp thuế ổn định. Do đó, việc xác định ngưỡng miễn thuế trong khoảng 3 - 5 tỉ đồng/năm không đơn thuần là ưu đãi, mà là lựa chọn chính sách mang tính nuôi dưỡng và đầu tư cho phát triển.
Về tương quan chính sách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, ông Nam nhấn mạnh, cần tránh tư duy cào bằng, mà phải thiết kế khoảng chênh lệch hợp lý để tạo động lực chuyển đổi.
Cụ thể, nếu ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh ở mức 3 tỉ đồng/năm thì ngưỡng đối với doanh nghiệp nhỏ cần tối thiểu khoảng 5 tỉ đồng/năm. Tương tự, nếu hộ kinh doanh ở mức 5 tỉ đồng/năm thì doanh nghiệp nhỏ cần ở mức khoảng 7 - 8 tỉ đồng/năm.
Nếu không tạo ra sự khác biệt đủ lớn về nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ không có động lực chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Khi đó, mục tiêu đưa khu vực kinh doanh phi chính thức vào khu vực chính thức sẽ khó đạt được trong thực tiễn.
Về khía cạnh để ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ bằng nhau, ông Được bày tỏ, không lo hộ kinh doanh ngại "lớn".
Vị này đề xuất, bên cạnh chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu như hiện hành, để tạo động lực cho hộ kinh doanh tự nguyện chuyển đổi, cần có thêm chính sách nhóm doanh nghiệp có doanh thu từ 3 tỉ đồng/năm trở xuống đang tính thuế theo (doanh thu - chi phí) x thuế suất cũng được áp dụng trừ đi ngưỡng doanh thu miễn thuế trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.