Trong nghệ thuật Phật giáo, Buddhabhiseka là nghi lễ trì tụng và khai quang cho một vật phẩm hay tượng Phật, khiến nó từ một vật thể bình thường trở thành một vật linh thiêng. Nghi lễ này có nhiều hình thức, nhưng một trong những hình thức phổ biến nhất ở Trung Quốc là khai quang (vẽ hoặc lắp thêm mắt).
Một trong những điểm thu hút các tín đồ Phật giáo và khách du lịch đông nhất ở Trung Quốc là hang đá Vân Cương gần thành phố Đại Đồng, miền bắc đất nước. Hàng nghìn tượng Phật từ nhỏ tới khổng lồ được tạc vào vách đá sa thạch trong hang tạo thành cảnh tượng tráng lệ. Tuy nhiên, quan sát kỹ hơn, người ta phát hiện một điều bất thường là nhiều bức tượng có đôi mắt trống rỗng.
Những hốc tròn nhỏ trên mặt tượng từng là nơi đặt con ngươi làm bằng gốm hoặc thủy tinh. Chúng được cố định bằng kỹ thuật qianmu, trong đó con ngươi được lắp vào các hốc đã đục sẵn. Qua nhiều thế kỷ, khi lớp đá sa thạch của Vân Cương bị bào mòn bởi gió mưa và chiến tranh cùng nạn trộm cắp, những chi tiết mong manh này đã thất lạc.
Phần lớn thông tin về những đôi mắt này vẫn còn là bí ẩn. Sự hỗn loạn của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã khiến hang đá Vân Cương rơi vào tình trạng hư hỏng nặng, một số hang động thậm chí còn được tận dụng làm nơi ở và chuồng gia súc. Từng là biểu tượng của quyền lực hoàng gia và tôn giáo, đôi mắt của tượng Phật ở Vân Cương giờ đây bị lớp bụi lịch sử che phủ. Chưa thể thống kê có bao nhiêu con mắt bị mất.
Tuy nhiên, một số con ngươi đã bắt đầu tìm đường trở về. Năm 2006, Tian Yijun, cư dân thành phố Thái Nguyên ở Sơn Tây, Trung Quốc, ghé qua chợ đồ cũ ở Đại Đồng trong chuyến công tác. Nơi này bán thư pháp, tranh, các món đồ kỳ lạ.
Giữa đống đồ lộn xộn, một vật bằng gốm nhỏ đã thu hút sự chú ý của ông. Nó có hình bán cầu, với một mảng men đen bám ở một bên, trông hơi giống một cây nấm.
Cả người bán và ông Tian đều không biết đó là gì. Vì tò mò và lòng yêu thích đồ gốm, ông quyết định mua nó. Nó nằm trong bộ sưu tập của ông suốt 20 năm cho đến khi ông đọc được bài báo về con mắt bị mất của tượng Phật Vân Cương. Ảnh trong bài giống hệt món đồ trong bộ sưu tập của ông.
Ông Tian liên hệ với Viện Nghiên cứu Vân Cương và đề nghị họ thẩm định món đồ. Các nhà nghiên cứu xác nhận đó chính là một con ngươi mắt của tượng Phật. Ông Tian lập tức hiến tặng món đồ sưu tập cho hang đá Vân Cương.
Trước đó, Laurence Sickman, nhà sử học nghệ thuật kiêm nhà Hán học người Mỹ, năm 1932 đã đến thăm Vân Cương khi đang ở Trung Quốc theo diện học bổng của Viện Harvard-Yenching mới thành lập. Thời điểm đó, ông cũng làm đại lý thu mua cho các bảo tàng Mỹ. Bất chấp quy định nghiêm ngặt về cổ vật, Sickman vẫn mua được một con ngươi bằng gốm từ dân làng địa phương với giá một đồng bạc.
Hơn nửa thế kỷ sau, Sickman, khi đó là giám đốc nghỉ hưu của Bảo tàng Nghệ thuật Nelson-Atkins ở Kansas City, bày tỏ nguyện vọng muốn thấy con mắt này được trở về Trung Quốc. Vào mùa xuân năm 1985, nhà khảo cổ học Su Bai đã viết thư cho Lu Jimin, người đứng đầu Cục Di sản Văn hóa thuộc Bộ Văn hóa Trung Quốc, truyền đạt mong muốn của Sickman và đề xuất chuyển con mắt về Vân Cương để bảo tồn.
Hai bên đã hợp tác để hiện vật được hồi hương. Cổ vật Sickman mua hiện vẫn là con ngươi bằng gốm lớn nhất trong bộ sưu tập của Bảo tàng Hang đá Vân Cương.
Ngoài con ngươi mắt mà ông Tian trả lại, có 6 hiện vật khác đang được lưu giữ trong bộ sưu tập tại hang đá Vân Cương, bao gồm của Sickman, một con ngươi được tìm thấy trong các cuộc khai quật khảo cổ vào đầu những năm 1990 và 4 con ngươi do công chúng hiến tặng.
Những con ngươi khác vẫn ở nước ngoài. Hai con mắt từ Hang số 8 nổi tiếng của Vân Cương, được thu thập vào cuối những năm 1930 và 1940 khi phần lớn Trung Quốc bị phát xít Nhật chiếm đóng, đang nằm tại Viện Nghiên cứu Nhân văn thuộc Đại học Kyoto.
Nhiều con ngươi mắt có thể đang “ẩn mình ngay trước mắt”. Trong trường hợp của ông Tian, cả người bán lẫn người mua ban đầu đều không nhận ra giá trị của nó. Với vẻ ngoài bình thường và dường như không có công dụng thực tế, những con ngươi thất lạc luôn có nguy cơ bị vứt bỏ hoặc phá hủy. Khi nằm đúng vị trí, chúng là lời nhắc nhở về sức sống tâm linh, nhưng một khi bị tách khỏi vị trí nguyên bản, không ai có thể dự đoán hành trình của chúng.
Chuyến tàu lửa chở hàng đầu tiên chở đầy sầu riêng từ Thái Lan, nguồn cung sầu riêng lớn nhất của Trung Quốc, đã bắt đầu hành trình về phía bắc qua Lào đến Trung Quốc vào cuối tuần qua, theo tờ South China Morning Post (SCMP) mới đây dẫn lại thông tin từ Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV).
Trung Quốc đã và đang nỗ lực xây dựng mạng lưới đường sắt kết nối với các quốc gia Đông Nam Á trong nhiều năm. Tuyến đường sắt Trung Quốc - Lào đã đi vào hoạt động từ năm 2021 và cũng đã được tích hợp với các dịch vụ hiện có đến Thái Lan.
Tuyến đường sắt vận chuyển hàng trữ lạnh mới, với các toa tàu được làm lạnh đến 13 độ C, chạy từ cảng Laem Chabang của Thái Lan qua Lào đến Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam, theo CCTV.
Theo Nhân dân Nhật báo, giờ đây, các chuyến tàu chở sầu riêng Thái Lan sẽ đến Côn Minh mỗi sáng, dự kiến vận chuyển hơn 200.000 tấn trong năm nay. Chuyến tàu chở sầu riêng đến Côn Minh mất 3 ngày.
Nhờ tuyến đường sắt này, việc vận chuyển sầu riêng từ Thái Lan đến Thành Đô, một thành phố lớn ở phía tây nam Trung Quốc, giờ chỉ mất 5 ngày, so với khoảng một tuần trước đây. Giá sầu riêng nhập khẩu ở Trung Quốc đã giảm 30% do nguồn cung tăng, theo CCTV.
Hồi năm ngoái, SCMP đưa tin sầu riêng tươi được bán ở Trung Quốc với giá lên tới 200 nhân dân tệ (hơn 770.000 đồng, tính theo tỷ giá hiện nay) cho mỗi 6 kg. Một số người tiêu dùng ở Trung Quốc coi trọng sầu riêng đến mức họ tặng loại quả này trong những dịp trang trọng.
Con người luôn khát khao hòa bình, đặc biệt với những ai đang sống trong chiến tranh, từ Ukraine tới Sudan, từ Iran tới Lebanon và nhiều nơi khác trên thế giới mà dân lành chưa thể có được ngày lành.
Giữa chiến sự, người ta chứng kiến nhiều khoảnh khắc toát lên khát vọng hòa bình. Giữa những con số thương vong hay vô số câu chuyện đau lòng đến ám ảnh mỗi ngày, người ta bắt gặp những ánh mắt đang chờ đợi một ngày mai tươi sáng.
Sống giữa những làn đạn, dân thường không quan tâm đến những tính toán địa chính trị phức tạp. Điều họ cần rất giản dị: được sống an toàn, được trở về nhà, được đoàn tụ với người thân và tiếp tục cuộc sống thường ngày vốn đã bị chiến tranh tước đi.
Như chia sẻ của bà Olha (45 tuổi) - làm việc tại một công ty xây dựng ở Kiev - hy vọng lớn nhất của bà rất đơn giản: các con của mình một ngày nào đó sẽ được sống mà không còn sợ hãi.
"Tôi muốn các con lớn lên mà không phải lo lắng về tên lửa và máy bay không người lái, được chứng kiến những người lính trở về nhà, và được ngủ yên giấc mà không còn tiếng còi báo động" - bà chia sẻ trên Tân Hoa xã hồi tháng 2-2026, thời điểm tròn 4 năm xung đột giữa Nga và Ukraine.
Hay như chia sẻ của Bộ trưởng Kinh tế và Thương mại Lebanon Amer Bisat trên kênh Euronews mới đây, đất nước của ông đã mệt mỏi vì chiến tranh và muốn có hòa bình với Israel.
"Tôi thực sự tin rằng người dân Lebanon muốn có hòa bình, muốn được thịnh vượng, ổn định, tất cả đều vậy. Tôi nghĩ rằng hiện tại tất cả chúng tôi đều mệt mỏi vì chiến tranh, mệt mỏi vì bất ổn, mệt mỏi vì bạo lực" - ông chia sẻ.
Trên báo The Guardian hồi tháng 3, Farhad, một biên tập viên ảnh ở Iran, trải lòng: "Thật khó khăn, nhưng chúng tôi đang thích nghi và cố gắng trở lại cuộc sống thường nhật càng nhiều càng tốt. Không còn cách nào khác. Chúng tôi mệt mỏi rồi. Chúng tôi chỉ muốn hòa bình".
Chiến tranh, dù diễn ra ở bất kỳ đâu, cũng luôn để lại những vết sẹo không dễ lành. Có những khoảnh khắc cho thấy hòa bình quý giá biết bao. Một bé gái chạm vào bức ảnh của cha mình tại một khu tưởng niệm ở Ukraine, như thể cố níu giữ một ký ức đã vĩnh viễn xa rời. Một người phụ nữ đứng lặng bên mộ con trai ở Iran, nỗi đau không cần lời diễn tả.
Hay hình ảnh một người đàn ông ôm chặt bạn mình khi trở về quê nhà sau những ngày phải chạy trốn bom đạn ở Lebanon, cái ôm ấy không chỉ là sự đoàn tụ, mà còn là minh chứng cho một điều: con người luôn khao khát được sống trong hòa bình.
Ở một góc khác, các cựu binh tại Mỹ - những người từng trải qua chiến tranh - cùng tập trung phản đối những cuộc tấn công mà họ hiểu rõ hơn ai hết. Chiến tranh không chỉ gây tổn thương cho đối phương, mà còn để lại những hệ lụy sâu sắc ngay trong lòng mỗi quốc gia phát động. Khi những người hiểu rõ cái giá của xung đột lên tiếng, đó là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về sự cần thiết của hòa bình.
Chia sẻ trước các nhà báo tại New York (Mỹ) gần đây, Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres dự báo năm 2026 sẽ là "một năm đầy những bất ngờ và hỗn loạn liên tiếp", nhưng ông mong thế giới: Hãy chọn hòa bình thay vì hỗn loạn!
Trong bài phát biểu tại Cameroon ngày 16.4, Giáo hoàng Leo XIV nói rằng thế giới đang "bị tàn phá bởi một vài bạo chúa" đã chi hàng tỉ USD cho chiến tranh. Người đứng đầu Tòa thánh Vatican lên án những lãnh đạo thế giới đã dùng tôn giáo để biện minh cho hành động bạo lực chống lại nước khác, theo tờ The Guardian.
Ông nói rằng có những người "lợi dụng tôn giáo và chính danh xưng của Chúa để phục vụ lợi ích quân sự, kinh tế và chính trị của riêng mình, kéo những điều thiêng liêng vào bóng tối và sự dơ bẩn". "Họ nhắm mắt làm ngơ trước thực tế rằng hàng tỉ USD được chi cho việc giết chóc và tàn phá, trong khi các nguồn lực cần thiết cho việc chữa lành, giáo dục và phục hồi lại không hề có", Giáo hoàng Leo XIV nói với đám đông tại Nhà thờ Thánh Giuse ở thành phố Bamenda, miền tây Cameroon.
Giáo hoàng Leo XIV, lãnh đạo Giáo hội Công giáo đầu tiên là người Mỹ, không nhắc đến cụ thể nhân vật nào trong bài phát biểu.
Trên máy bay bắt đầu chuyến công du châu Phi dài 11 ngày vào đầu tuần này, Giáo hoàng Leo XIV nói ông không phải là chính trị gia và không muốn tranh luận với Tổng thống Mỹ, song ông nhấn mạnh sẽ tiếp tục phản đối chiến tranh, thúc đẩy hòa bình và không sợ chính quyền ông Donald Trump
Trong ngày 16.4, Tổng thống Trump tiếp tục có phát biểu mới, cho rằng Giáo hoàng Leo XIV có quyền nói điều ông ấy muốn nhưng quan trọng là người đứng đầu giáo hội phải hiểu rằng Iran không bao giờ được phép sở hữu vũ khí hạt nhân, theo Reuters.
Trước đó, Phó tổng thống Mỹ J.D. Vance, quan chức cấp cao nhất của Nhà Trắng theo Công giáo, đã can thiệp để bênh vực Tổng thống Trump và cho rằng giáo hoàng nên đứng ngoài chính trị và nên tập trung vào vấn đề đạo đức.
Ông Vance còn đặt vấn đề về quan điểm phản chiến của Giáo hoàng Leo XIV, khiến Hội đồng Giám mục Công giáo Mỹ đã ra một tuyên bố bảo vệ lãnh đạo Tòa thánh Vatican