Dòng sông uốn lượn qua núi rừng, làng mạc, mang theo phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ven bờ. Không chỉ là nguồn nước, sông Trà Khúc từ lâu còn được ví như “bầu sữa” nuôi sống bao thế hệ cư dân xứ Quảng. cá bống sông trà
Những sản vật đặc trưng như cá bống, don… đã trở thành dấu ấn riêng của vùng đất này. Giữa nhịp sống hiện đại, vẫn còn đó những con người lặng lẽ mưu sinh bằng nghề cũ – đặt ống tre bắt cá bống, một nghề thủ công đã tồn tại hàng trăm năm trên dòng sông Trà.
Khi trời còn tờ mờ sáng, ánh nắng đầu ngày vừa kịp nhuộm vàng mặt sông, những chiếc ghe nhỏ bắt đầu rẽ nước. Không tiếng động ồn ào, chỉ có nhịp chèo khua nhẹ và làn nước loang ra trong buổi sớm tĩnh lặng.
Trên những chiếc ghe ấy, người dân mang theo hàng chục ống tre thả xuống những đoạn sông quen thuộc – nơi họ đã “thuộc lòng” từng con nước, từng luồng cá. Nghề này không cần máy móc hiện đại, chỉ cần sự kiên trì và kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng.
Ông Nguyễn Phan Văn Định (65 tuổi, ở tổ dân phố Liên Hiệp 2, P.Trương Quang Trọng, Quảng Ngãi) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề. Hơn nửa thế kỷ lênh đênh trên sông Trà, cuộc đời ông gắn liền với những ống tre và con nước lên xuống mỗi ngày.
“Mỗi ngày tôi dậy từ 4 giờ sáng, chèo ghe ra sông đặt bẫy rồi quay lại gỡ những ống đã đặt trước đó để thu cá. Nghề này không nặng nhọc, nhưng phải hiểu con nước, biết chỗ cá ở thì mới có ăn”, ông Định nói.
Trên sông Trà, cá bống sinh sống khá đa dạng với các loại như bống cát, bống dừa, bống mú… Trong đó, cá bống cát được xem là ngon nhất, thịt chắc, thơm, được thị trường ưa chuộng với giá khoảng 300.000 đồng/kg. Các loại khác dao động từ 150.000 – 200.000 đồng/kg. Chính giá trị ấy khiến cá bống trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ dân ven sông, dù sản lượng ngày nay không còn dồi dào như trước.
Để có được những mẻ cá bống, người làm nghề phải chuẩn bị những chiếc bẫy rất đặc biệt. Những ống tre tưởng chừng đơn giản nhưng lại chứa đựng nhiều kinh nghiệm dân gian.
Theo ông Định, tre dùng làm bẫy thường là tre đã qua sử dụng, được xin hoặc đổi từ người dân. Tre mới có mùi nồng, cá sẽ không vào, vì vậy phải chọn loại đã “già”, thậm chí đã từng dùng qua.
Những thân tre được cưa thành từng đoạn dài khoảng 60 – 70 cm, hai đầu thông nhau. Ở giữa thân, người thợ đục một lỗ để đóng cọc dài khoảng 50 cm nhằm cố định khi cắm xuống cát, tránh bị nước cuốn trôi. “Ống tre mới thả xuống thì cá chưa vào đâu. Phải chờ 2 – 3 ngày cho ống có rêu bám, mất mùi tre thì cá mới tìm đến trú ngụ”, ông Định giải thích.
Hiện ông sở hữu khoảng 300 ống tre, được đặt luân phiên trên các bãi cát ven sông. Mỗi vị trí đều được đánh dấu bằng một cây tiêu nhỏ, vừa để nhận biết, vừa tránh nhầm lẫn với bẫy của người khác.
Bẫy thường được đặt ở những đoạn nước nông, độ sâu không quá 1,5 m – nơi cá bống thích trú ẩn. Đặc biệt, việc đặt bẫy phải “canh” theo con nước. Khi nước lớn hoặc chảy xiết, người dân không thể thả bẫy, phải chờ nước rút mới tiếp tục công việc.
Nghề này cũng mang tính thời vụ rõ rệt. Một năm chỉ có khoảng 5 tháng, từ tháng 4 đến hết tháng 8 là thời điểm thuận lợi để đặt bẫy. Những tháng còn lại, khi cá còn nhỏ hoặc vào mùa mưa lũ, người dân phải chuyển sang làm nông để duy trì cuộc sống.
Theo ông Định, vào mùa sinh sản, cá bống thường sống theo cặp, thậm chí nhiều con cùng trú trong một ống tre. Có những hôm mở bẫy, ông bắt gặp 3 – 4 con cá mập ú nằm chung, “nhìn mà thích mắt”.
Trung bình mỗi ngày vào mùa, ông Định thu được khoảng 3 – 4 kg cá. Cá vừa bắt lên thường được thương lái đến tận nơi thu mua, hoặc người dân trong vùng tìm đến đặt mua từ sớm. “cá bống sông Trà là đặc sản rồi, nên không lo đầu ra. Có bao nhiêu bán hết bấy nhiêu”, ông Định nói.
Tuy nhiên, niềm vui từ “lộc sông” không còn trọn vẹn như trước. Ông Định trầm ngâm khi nhắc đến sự suy giảm của nguồn cá. “Hồi trước cá nhiều vô kể, đặt bẫy là có vài ký mỗi ngày. Giờ cá ít dần do môi trường ô nhiễm, rồi có người dùng kích điện đánh bắt nên nguồn cá ngày càng cạn”, ông chia sẻ, giọng đầy tiếc nuối.
Không chỉ ông Định, nhiều người dân ven sông cũng cảm nhận rõ sự thay đổi. Sản lượng cá giảm, nhưng giá tăng, phần nào bù đắp thu nhập. Dẫu vậy, nỗi lo về sự mai một của nguồn lợi tự nhiên vẫn luôn thường trực.
Với ông Định, nghề đặt ống tre không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức gắn bó suốt đời. Nhờ nghề này, ông nuôi 3 người con ăn học đến nơi đến chốn, nay đều đã trưởng thành, có công việc ổn định. “Giờ tuổi cao rồi, con cái cũng yên bề gia thất, tôi đi bẫy cá chủ yếu để giữ nghề, cho đỡ nhớ sông nước, với lại rèn luyện sức khỏe”, ông cười hiền.
Ông nhớ lại thời trước, dọc hai bên sông Trà, người làm nghề chài lưới đông đúc. Mỗi sáng, hàng chục chiếc ghe xuôi ngược, người thả lưới, người đặt rập, người cắm ống tre… gặp nhau giữa dòng sông, rộn ràng tiếng cười nói. “Giờ thì ít hơn nhiều rồi. Người trẻ không còn mặn mà với nghề nữa, họ đi làm công ty, buôn bán. Nghề này chắc rồi cũng mai một dần”, ông Định trầm ngâm.
Không chỉ là nguồn sinh kế, cá bống sông Trà còn là một phần ký ức của nhiều người con Quảng Ngãi xa quê. Chị Lê Thùy Trang (30 tuổi, quê Quảng Ngãi, hiện sinh sống và làm việc tại TP.HCM) cho biết, mỗi lần về quê, chị đều mua cá bống sông Trà làm quà cho bạn bè, người thân. “Cá bống sông Trà là ký ức tuổi thơ của tôi. Ngày nhỏ, ba mẹ hay nấu cá bống kho nghệ hoặc cá bống rim, ăn với cơm nóng rất ngon. Cá ở đây thịt chắc, thơm, vị rất riêng, không giống nơi khác”, chị Trang chia sẻ.
Hiện nay, trên các quầy bán đặc sản Quảng Ngãi, cá bống sông Trà luôn là mặt hàng không thể thiếu. Từ những món dân dã trong bữa cơm gia đình đến quà biếu cho người thân, cá bống đã trở thành “hồn quê” của vùng đất này. (còn tiếp)
Ngày 7.5, ông Ngô Chí Cường, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, cùng lãnh đạo UBND tỉnh và các sở, ngành đã khảo sát thực tế dự án ngọt hóa Gò Công nhằm tìm giải pháp bảo đảm nguồn nước ngọt lâu dài và ngăn xâm nhập mặn cho khu vực phía đông của tỉnh.
Theo báo cáo của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh Đồng Tháp, vùng ngọt hóa Gò Công rộng khoảng 54.400 héc ta, dân số gần 500.000 người, được bao bọc bởi sông Cửa Tiểu, sông Vàm Cỏ và kênh Chợ Gạo. Sau hơn nửa thế kỷ đầu tư, nơi đây đã hình thành hệ thống thủy lợi khép kín gồm đê biển, đê sông, cống điều tiết và các tuyến kênh dẫn phục vụ sản xuất cho khoảng 44.000 ha đất nông nghiệp.
Tuy nhiên, nguồn nước ngọt của khu vực hiện phụ thuộc lớn vào cống Xuân Hòa. Khi xâm nhập mặn lấn sâu từ 60 - 70 km vào nội đồng. Toàn vùng có nguy cơ bị nước mặn bao vây trong thời gian dài, đe dọa nghiêm trọng đến sinh hoạt và sản xuất.
Thực tế cho thấy, thiệt hại do hạn mặn ngày càng gia tăng. Mùa khô 2015 - 2016, có gần 18.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt, hơn 3.700 héc ta lúa và hàng trăm héc ta rau màu bị ảnh hưởng. Đến mùa khô 2019 - 2020, thiệt hại tăng mạnh với hơn 8.500 héc ta lúa, gần 4.500 héc ta cây ăn trái bị tác động và khoảng 92.000 hộ dân gặp khó khăn về nước ngọt. Ngay cả mùa khô 2023 - 2024, hơn 17.650 hộ dân vẫn thiếu nước sinh hoạt dù tình hình hạn mặn chỉ ở mức trung bình nhiều năm.
Trong khi đó, nhu cầu nước tại khu vực này đang tăng nhanh. Theo quy hoạch đến năm 2030, vùng phía đông tỉnh Đồng Tháp không chỉ phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn cung cấp nước cho 9 khu, cụm công nghiệp cùng các đô thị, dịch vụ và du lịch ven biển. Tổng nhu cầu nước dự kiến lên tới khoảng 300.000 m3/ngày đêm, nhưng hệ thống hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 100.000 m3, tương đương 1/3 nhu cầu thực tế.
Để giải bài toán thiếu nước, tỉnh Đồng Tháp đang nghiên cứu phương án dẫn nước ngọt từ thượng nguồn sông Tiền thông qua hệ thống Bảo Định và các tuyến kênh trục về vùng Gò Công.
Theo đề xuất, nước được đưa băng qua kênh Chợ Gạo bằng hệ thống xi phông đường kính từ 2,5 - 3 mét kết hợp trạm bơm tăng áp. Phương án tận dụng hệ thống kênh hiện hữu, nạo vét khoảng 40 km tuyến dẫn nước có tổng vốn dự kiến khoảng 2.600 tỉ đồng được đánh giá khả thi và bền vững hơn. Ngoài ra, tỉnh cũng tính đến phương án xây thêm tuyến kênh mới dọc tỉnh lộ 877C với tổng vốn khoảng 3.400 tỉ đồng.
Lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp cho biết sẽ tiếp tục khảo sát, đánh giá tác động dự án; đồng thời kiến nghị đưa công trình vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 nhằm sớm triển khai, bảo đảm an ninh nguồn nước cho toàn vùng ngọt hóa Gò Công.
Ban Quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội (MRB), chủ đầu tư tuyến metro thí điểm Nhổn - ga Hà Nội, cho biết ngày 13/4, máy đào hầm Tunnel Boring Machine (TBM) số 2 mang tên Táo Bạo đã về đích an toàn tại ga cuối S12 (ga Hà Nội).
Đây là máy TBM cuối cùng của dự án, đánh dấu việc hoàn thành đào thông toàn bộ đoạn hầm đi qua các ga ngầm S9 (Kim Mã), S10 (Cát Linh), S11 (Văn Miếu) và S12 (ga Hà Nội).
Ban Quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội (MRB), chủ đầu tư tuyến metro thí điểm Nhổn - ga Hà Nội, cho biết ngày 13/4, máy đào hầm Tunnel Boring Machine (TBM) số 2 mang tên Táo Bạo đã về đích an toàn tại ga cuối S12 (ga Hà Nội).
Đây là máy TBM cuối cùng của dự án, đánh dấu việc hoàn thành đào thông toàn bộ đoạn hầm đi qua các ga ngầm S9 (Kim Mã), S10 (Cát Linh), S11 (Văn Miếu) và S12 (ga Hà Nội).
Phần ngầm của dự án dài 4.000 m, gồm 4 ga ngầm và một giếng thoát hiểm. Các hạng mục đang được triển khai đồng loạt, đạt khoảng 63% tiến độ; riêng gói thầu CP03 (xây dựng hầm và các ga ngầm) đạt gần 77%.
Phần ngầm của dự án dài 4.000 m, gồm 4 ga ngầm và một giếng thoát hiểm. Các hạng mục đang được triển khai đồng loạt, đạt khoảng 63% tiến độ; riêng gói thầu CP03 (xây dựng hầm và các ga ngầm) đạt gần 77%.
Phần ngầm của dự án dài 4.000 m, gồm 4 ga ngầm và một giếng thoát hiểm. Các hạng mục đang được triển khai đồng loạt, đạt khoảng 63% tiến độ; riêng gói thầu CP03 (xây dựng hầm và các ga ngầm) đạt gần 77%.
Hai máy đào TBM được thiết kế riêng cho tuyến metro số 3 đoạn Nhổn - ga Hà Nội, do hãng Herrenknecht (Đức) sản xuất, mỗi máy dài hơn 100 m, nặng khoảng 850 tấn.
Hai máy đào TBM được thiết kế riêng cho tuyến metro số 3 đoạn Nhổn - ga Hà Nội, do hãng Herrenknecht (Đức) sản xuất, mỗi máy dài hơn 100 m, nặng khoảng 850 tấn.
Hiện trên công trường, hàng trăm kỹ sư, công nhân trong và ngoài nước làm việc 24/24 giờ để hoàn thiện các hạng mục còn lại.
Hiện trên công trường, hàng trăm kỹ sư, công nhân trong và ngoài nước làm việc 24/24 giờ để hoàn thiện các hạng mục còn lại.
Đào xong hầm, các đơn vị tiếp tục thi công kết cấu bên trong, dốc hạ ngầm, các ga ngầm, đường chuyển làn, khu gara, đồng thời hoàn thiện đường ven hồ Thủ Lệ.
Đào xong hầm, các đơn vị tiếp tục thi công kết cấu bên trong, dốc hạ ngầm, các ga ngầm, đường chuyển làn, khu gara, đồng thời hoàn thiện đường ven hồ Thủ Lệ.
Tại ga S9 (Kim Mã), hai ống hầm được bố trí song song ở độ sâu khoảng 17,8 m. Đoạn sâu nhất của tuyến đạt khoảng 30 m, tại vị trí giếng thoát hiểm trên đường Kim Mã, nằm giữa ga S9 (Kim Mã) và ga S10 (Cát Linh).
Tại ga S9 (Kim Mã), hai ống hầm được bố trí song song ở độ sâu khoảng 17,8 m. Đoạn sâu nhất của tuyến đạt khoảng 30 m, tại vị trí giếng thoát hiểm trên đường Kim Mã, nằm giữa ga S9 (Kim Mã) và ga S10 (Cát Linh).
Hai tập thể được khen thưởng gồm cán bộ, nhân dân thôn Đồng Quạ và thôn Vĩnh Ninh. Ban Chỉ huy Quân sự xã Đạo Trù cũng đề xuất cấp trên khen thưởng thêm các tập thể trực tiếp tham gia chỉ huy, phối hợp tìm kiếm.
Trong 20 cá nhân được khen thưởng có nhiều người thuộc lực lượng nòng cốt tìm kiếm như ông Lưu Xuân Năm (Phó chủ tịch UBND xã), thượng tá Phan Văn Thực (Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự xã), ông Nguyễn Thanh Long (Phó Trưởng Công an xã), ông Đỗ Văn Dũng (Phó trạm trưởng Kiểm lâm), cùng các cán bộ, chiến sĩ, kiểm lâm viên và người dân địa phương tham gia hỗ trợ.
Ngoài lực lượng chính quy, một số tình nguyện viên cũng được khen thưởng, trong đó có ông Phạm Trung Dũng, ông Nguyễn Thế Tài, bà Cù Thị Trang (nhóm S Trek Việt Nam) và ông Vũ Hoàng Nam (Tam Đảo Trekking).
Chính quyền xã Đạo Trù tiếp tục rà soát danh sách khen thưởng, đặc biệt với các đội nhóm tình nguyện, đồng thời đề xuất UBND tỉnh Phú Thọ khen thưởng đối với cá nhân, tập thể.
Trước đó chiều 19/4, nam sinh Tuấn Anh đi leo núi tại khu vực rừng Tam Đảo cùng nhóm bạn nhưng không quay trở lại và mất liên lạc. Khoảng 18h cùng ngày, sự việc được trình báo chính quyền địa phương.
Ngay trong đêm, trung tâm chỉ huy được thiết lập tại chân núi, huy động hàng trăm người gồm công an, quân đội, kiểm lâm, dân quân tự vệ và người dân tham gia tìm kiếm. Thông tin nhanh chóng lan rộng trên mạng xã hội, thu hút nhiều nhóm trekking, chạy địa hình từ Hà Nội và các tỉnh lân cận tham gia xuyên đêm.
Theo thượng tá Phan Văn Thực, Chỉ huy trưởng quân sự xã, riêng lực lượng quân sự đã huy động khoảng 10 người trong ban chỉ huy, 96 dân quân và hơn 100 người phối hợp. Từ trung tâm chỉ huy, 8 tổ tìm kiếm (gồm cả những người tình nguyện) được thành lập, phân chia khu vực, triển khai phương án tìm theo hình thức cuốn chiếu và liên tục báo cáo qua bộ đàm để tránh chồng chéo.
"Chúng tôi đánh giá rất cao tinh thần của các nhóm trekking, vận động viên leo núi. Ngay khi có thông tin, nhiều người từ Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Phú Thọ... đã chủ động liên hệ xin tham gia và đi xuyên đêm để hỗ trợ", thượng tá Thực nói.
Không chỉ trực tiếp tham gia tìm kiếm, người dân địa phương còn hỗ trợ hậu cần, mang nước uống, lương thực tiếp tế tại chân núi. Một số nhóm tình nguyện sử dụng flycam để quan sát từ trên cao, trong khi công an triển khai thêm thiết bị hỗ trợ để rà soát trong điều kiện địa hình phức tạp.
Đến sáng 20/4, nam sinh được tìm thấy trong tình trạng kiệt sức nhưng an toàn, khép lại chiến dịch tìm kiếm kéo dài nhiều giờ.