Trong khi nhiều người bàn bạc về thời gian, sự kiên nhẫn, lòng quyết tâm để tập thể dục thể thao, tôi phát hiện ra một thực tế rằng, ở Việt Nam, muốn chơi thể thao “đúng nghĩa” không hề rẻ.
Nhiều người vẫn nghĩ thể thao là thứ “miễn phí”: chạy bộ ngoài đường, đá bóng với bạn bè, đánh cầu lông ở sân gần nhà. Nhưng xin hỏi chạy bộ thì chạy ở đâu? Lòng đường hay lề đường? Chơi cầu lông kiểu hai người ra đường nội bộ khu dân cư cầm hai cây vợt khều qua khều lại hay sao?
Xin thưa, khi bắt đầu chơi một cách bài bản, tức là có lịch tập cố định, có ý thức bảo vệ cơ thể và cải thiện hiệu suất luyện tập, chi phí tiền của là điều không thể né tránh.
Hãy nhìn vào những môn được coi là bình dân nhất như đá bóng, cầu lông hay chạy bộ.
Một đôi giày tốt không còn là lựa chọn, mà gần như là điều bắt buộc nếu bạn không muốn trả giá bằng chấn thương. Hãy biết yêu lấy đôi bàn chân, các khớp gối của mình. Một đôi giày chạy hoặc giày sân cỏ nhân tạo có giá vài triệu đồng là chuyện bình thường.
Quần áo thể thao không cần hàng hiệu, nhưng cũng phải đủ tiêu chuẩn để thấm hút mồ hôi, vận động thoải mái. Cộng lại, khoản này khó dưới 5-7 triệu đồng mỗi năm nếu bạn thực sự sử dụng thường xuyên.
Đó là chưa kể đến chi phí sân bãi. Tôi đánh một buổi đánh cầu lông 2 tiếng, 4 người, mỗi người chia tiền từ 50-60 nghìn đồng một buổi. Nhân lên với tần suất 3 buổi một tuần, con số hàng tháng đã không còn nhỏ.
Chưa kể các chi phí mua cầu lông, vợt, bóng, nước uống, gửi xe, thậm chí là những buổi giao lưu, liên hoan sau trận những thứ tạo nên “văn hóa thể thao” của người Việt (cái này gọi là giao lưu), cũng làm đội chi phí lên.
Và nếu đã bước chân sang những môn “có độ nghiện cao” như đạp xe, tennis hay gym chuyên sâu, chi phí còn tăng theo cấp số nhân. Một chiếc xe đạp thể thao cơ bản cũng đã 40-50 triệu đồng cho trọn bộ.
Một gói tập gym có huấn luyện viên cá nhân có thể lên đến hàng chục triệu mỗi năm. Khi đó, thể thao không còn là thói quen đơn giản, mà trở thành một khoản đầu tư thực sự.
Rõ ràng, sức khỏe là thứ xứng đáng để đầu tư. Nhưng điều đáng bàn là: Vì sao một nhu cầu cơ bản như vận động lại đang trở nên tốn kém với phần đông người dân đô thị? (Gấp nhiều lần mức lương bình quân, ý tôi là vậy).
Có lẽ, câu trả lời nằm ở hạ tầng công cộng. “Đường bé tí, ôtô xe máy đi còn chật, đâu ra chỗ cho người chạy bộ, đạp xe”, có lẽ nhiều người sẽ bật câu nói này trong đầu.
Ở nhiều thành phố lớn trên thế giới, người dân có thể chạy bộ trong công viên rộng rãi, chơi thể thao trên các sân miễn phí hoặc chi phí rất thấp, sử dụng hệ thống đường dành riêng cho xe đạp… Những không gian đó không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn tạo ra thói quen vận động tự nhiên cho cộng đồng.
Trong khi đó, ở các đô thị lớn, không gian công cộng cho thể thao vẫn còn thiếu và phân bổ chưa hợp lý. Công viên không nhiều, sân chơi miễn phí lại càng hiếm. Người dân muốn vận động một cách nghiêm túc gần như buộc phải xã hội hóa bằng cách trả tiền cho các dịch vụ tư nhân.
Tôi nghĩ một thành phố đáng sống không chỉ có trung tâm thương mại, cao ốc hay đường sá rộng, mà còn phải có đủ không gian để người dân vận động, hít thở và chăm sóc sức khỏe một cách bình đẳng.
Khuyến khích người dân tập thể dục không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu. Nó cần được hiện thực hóa bằng những công viên đủ lớn, những sân chơi mở, những tuyến đường thân thiện với người chạy bộ và xe đạp. Khi đó, chi phí để “chơi thể thao đúng nghĩa” sẽ không còn là rào cản quá lớn.
Thời gian qua có nhiều quy định được ban hành xung quanh hành vi ép người khác uống rượu bia và hút thuốc lá điện tử. Cụ thể, Nghị định 90/2026 vừa được Chính phủ ban hành, quy định mức xử phạt từ 3 đến 5 triệu đồng cho hành vi sử dụng thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng. Hay Nghị định 90/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định hành vi lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu bia hoặc sử dụng thức uống này ngay trước, trong giờ làm việc, học tập sẽ khiến người vi phạm bị xử phạt 1-3 triệu đồng.
Tôi hoàn toàn ủng hộ các quy định trên. Nhưng điều khiến tôi băn khoăn không nằm ở con số xử phạt. Các mức phạt đã có đủ hết, nhưng thực tế đã có ai bị phạt chưa, tố giác vi phạm thế nào, ai xử phạt?
Lấy chính trường hợp của bản thân, tôi thường xuyên bị sếp gọi đi nhậu (thực chất là ép vì không đi không được). Trong những buổi như vậy, các đồng nghiệp của tôi hút thuốc lá (cả loại truyền thống lẫn thuốc lá điện tử) là chuyện cơm bữa. Tôi không muốn uống rượu bia, cũng không hút thuốc, nhưng vẫn phải ngồi đó trong hơi men và giữa làn khói trắng. Nếu những hành vi ấy là vi phạm, thì tôi phải làm gì? Tố giác ư? Với ai? Và rồi chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?
>> Kết quả sau nửa năm trời tôi từ chối tất cả lời mời nhậu
Không chỉ trong môi trường công sở. Ở nơi công cộng, tôi vẫn thường xuyên bắt gặp người hút thuốc lá điện tử. Có những lúc tôi tự hỏi: nếu muốn phản ánh, tôi phải báo cho ai? Liệu bản thân có bị liên lụy gì không? Hay chỉ có thể nhắc nhở rồi thôi? Những câu hỏi rất cụ thể ấy, nếu không có câu trả lời rõ ràng, thì quy định dù đúng đến đâu cũng dễ rơi vào tình trạng "biết là có, nhưng khó áp dụng".
Thực tế, không phải ai cũng đủ hiểu biết pháp luật và dũng khí để đứng ra tố giác, nhất là khi người vi phạm lại là cấp trên, đồng nghiệp, hay đơn giản là những người xa lạ nhưng có thể phản ứng tiêu cực. Nếu không có một cơ chế thực thi rõ ràng, dễ tiếp cận và an toàn, thì gánh nặng lại quay về phía người bị ảnh hưởng.
Có thể đó là một đường dây nóng dễ nhớ, một ứng dụng phản ánh nhanh, bảo mật danh tính, hay đơn giản là quy định rõ trách nhiệm của lực lượng tại chỗ như công an, quản lý trật tự, ban quản lý địa điểm công cộng... Khi người dân biết rõ, "gõ cửa" đúng nơi, pháp luật mới có cơ hội đi vào đời sống.
Tôi ủng hộ các quy định mới, nhưng sự ủng hộ đó đi kèm một kỳ vọng: luật không chỉ để đọc, mà phải để dùng. Và muốn dùng được, thì người như tôi cần biết rõ mình phải làm gì, khi nào, và ai sẽ đứng ra bảo vệ mình nếu tôi lên tiếng?
L.D'Nên xử phạt người hút thuốc lá khi lái xe bằng camera AI'
Trong nhiều năm qua, đặc biệt tại các thành phố lớn, nhiều đã quen với hình ảnh những tài xế công nghệ lao đi giữa dòng xe đông nghẹt: Người chở khách, người giao đồ ăn, người giao hàng xuyên đêm.
Chúng ta tung hô tốc độ giao hàng "15 phút", chấp nhận những cuốc xe xuyên đêm với giá rẻ, đòi hỏi shipper phải nhanh hơn, rẻ hơn, phục vụ tốt hơn. Nhưng rất ít người đặt câu hỏi: Ai chịu áp lực để tạo nên thứ "tiện lợi" ấy?. Câu trả lời là tài xế.
Thực tế, chính thuật toán mới là "người" điều khiển nhịp sống của tài xế. Thuật toán quyết định ai được nhận cuốc, ai bị giảm hiển thị, ai bị khóa tài khoản, ai phải chạy xa hơn để có thưởng. Người tài xế tưởng như "tự do làm chủ thời gian", nhưng thật ra đang bị dẫn dắt bởi một hệ thống vô hình mà họ không được quyền thương lượng.
Muốn đủ tiền thuê trọ, tiền xăng, tiền ăn và tiền nuôi gia đình, họ buộc phải chạy nhiều hơn. Muốn có thưởng, họ phải đạt đủ số chuyến. Muốn giữ điểm đánh giá, họ phải chiều khách hàng bằng mọi giá. Và thế là xã hội chứng kiến những cảnh tượng quen thuộc: Tài xế vượt đèn vàng để kịp đơn. Shipper chạy ngược chiều vài mét vì sợ trễ giờ. Người giao hàng làm việc liên tục 12-14 tiếng. Tài xế kiệt sức nhưng không dám nghỉ vì "mất chỉ tiêu".
Khi một người lao động bị ép vào guồng quay mà thu nhập phụ thuộc trực tiếp vào tốc độ và tần suất di chuyển, thì tai nạn giao thông không còn là "rủi ro cá nhân".
Khi xảy ra tai nạn, nhiều trường hợp khách hàng và tài xế rơi vào tình trạng "không biết ai chịu trách nhiệm". Tại các thành phố lớn, số lượng tài xế công nghệ và giao hàng đã trở thành lực lượng lao động khổng lồ. Xã hội đang yêu cầu ngày càng nhiều từ tài xế công nghệ, nhưng lại rất ít quan tâm đến khả năng chống chịu của họ.
Một người tài xế không chỉ phải cạnh tranh với giao thông đông đúc, thời tiết khắc nghiệt và áp lực tài chính, mà còn phải chạy đua với hệ thống do thuật toán tạo ra.
Chúng ta thường chỉ nhìn thấy mặt tiện lợi của ứng dụng: Đặt xe nhanh giao đồ ăn nhanh, giá rẻ, khuyến mãi liên tục. Nhưng phía sau sự tiện lợi đó là hàng chục nghìn con người đang sống trong trạng thái lao động căng thẳng kéo dài.
Khi thấy shipper ngủ gục bên xe, nhiều người quay clip, khi tài xế gặp tai nạn mạng xã hội đôi khi chỉ xem đó như "tin nóng", khi giao hàng chậm vài phút khách hàng sẵn sàng đánh giá 1 sao. Chúng ta đang tiêu dùng dịch vụ bằng tâm lý "miễn mình tiện là được".
Người dùng không thể vừa muốn giá rẻ tuyệt đối, vừa muốn giao hàng tức thì, rồi sau đó lại lên án chuyện tài xế phóng nhanh vượt ẩu. Bởi chính nhu cầu cực đoan của thị trường đang tạo ra áp lực ấy.
Tôi có đứa em họ học hành làng nhàng, thi lớp 10 trường công trượt nên cha mẹ chạy vạy học phí để vào một trường tư. Rồi cũng cố "lết" qua cấp III. Đóng tiền học một trường cao đẳng nhưng rồi cũng bỏ dở. Đã mấy năm không có việc làm ổn định. Hay tụ tập với đám bạn ở quán cà phê suốt ngày.
Gần đây, nhờ người quen giới thiệu, buổi tối em đi làm thời vụ cho một công ty đóng gói thực phẩm trong khu công nghiệp gần nhà, lương 500 nghìn một ca đêm.
Như vậy là em hài lòng vì không bằng cấp, không nghề ngỗng, làm công việc ai nhìn qua là cũng làm được, với thu nhập như vậy đủ để mua thuốc lá, cà phê, không tốn tiền cơm, tiền nhà, không phải chu cấp cho ai cả? Vậy động lực ở đâu để cố gắng?
Quý 1/2026, cả nước ghi nhận gần 1,6 triệu người 15-24 tuổi không có việc làm, không học tập và không tham gia đào tạo. Con số này phản ánh một thực tế đáng lo khi thanh niên đang đứng ngoài guồng quay phát triển, không kỹ năng, không định hướng và cũng không chịu thay đổi.
Trong khi đó, một vấn đề liên quan đó là thị trường xây dựng lại thiếu lao động nghiêm trọng. Nhiều đội thầu "khát người".
Không nói đến những kỹ sư xây dựng, nhân công được đào tạo bài bản qua trường lớp. Tôi chỉ muốn bàn một chút về vấn đề của những lao động xây dựng tự do.
Trước đây, từng có người chia sẻ rằng trả ngày công 400 nghìn vẫn không tuyển được thanh niên làm phụ hồ. Nhiều nhà thầu xây dựng không tuyển được lao động. Lý do rất rõ ràng.
Công việc phụ hồ, nhìn từ bên ngoài, là việc tay chân, ai cũng làm được. Tương tự cái việc đóng gói thực phẩm thời vụ mà tôi nói ở trên. Nhưng thực tế lại khắc nghiệt hơn nhiều.
Nắng gắt, mưa dầm, môi trường bụi bặm, nguy cơ tai nạn luôn rình rập. Nhiều công trình thiếu đồ bảo hộ, không hợp đồng lao động rõ ràng, không bảo hiểm, không có cơ chế đền bù thỏa đáng nếu xảy ra sự cố.
Công việc không đều, phụ thuộc hoàn toàn vào tiến độ công trình và chủ thầu. Có những ngày nghỉ việc vì trời mưa, thiếu vật liệu, hoặc chờ công đoạn tiếp theo. Những ngày đó, đồng nghĩa với không có thu nhập. Chưa kể việc ăn ở tạm bợ, phải di chuyển liên tục theo công trình, đời sống thiếu ổn định.
Nếu nhìn toàn cảnh, việc một số người trẻ không mặn mà với nghề phụ hồ là điều có thể hiểu. Nhưng điều đáng bàn không nằm ở việc họ từ chối một công việc cụ thể, mà là thái độ sống phía sau lựa chọn đó.
Từ chối làm phụ hồ vì công việc nặng nhọc, độc hại là một lý do hợp lý. Nhưng từ chối tất cả cơ hội lao động, chấp nhận sống lay lắt qua ngày bằng những công việc tạm bợ, không tích lũy kỹ năng, không hướng đến tương lai đó lại là một vấn đề khác.
>> Tôi làm thợ thu nhập gấp ba lần người bạn chạy xe ôm công nghệ
Lao động phổ thông có thể vất vả, nhưng ít nhất đó là một con đường rõ ràng để kiếm sống. Từ đó, người ta có thể tích lũy kinh nghiệm, chuyển sang công việc tốt hơn, hoặc học thêm một nghề khác. Không ai bắt buộc phải làm phụ hồ cả đời, nhưng từ chối mọi khởi đầu thì sẽ không có điểm đến nào.
Không thể viện lý do công việc vất vả để biện minh cho việc sống không mục tiêu. Cũng không thể đòi hỏi một công việc nhẹ nhàng, lương cao khi bản thân không có kỹ năng hay kỷ luật.
Nhưng theo tôi điều quan trọng nhất, vấn đề khi một ngành nghề nào đó khó tuyển nhân sự thì ngành nghề đó nên xem lại chính mình. Nếu những bất cập không được cải thiện, việc thu hút lao động trẻ sẽ ngày càng khó.