Tại phiên thảo luận Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của Tổng Công ty Hóa chất và Dịch vụ Dầu khí – CTCP (PVChem, HNX: PVC), các lãnh đạo doanh nghiệp đã trực tiếp giải đáp, làm rõ bức tranh hoạt động trong giai đoạn tới.
Theo đó, dựa trên kịch bản hoạt động khoan tại Việt Nam giai đoạn 2025–2030 có thể đạt trung bình 90–100 giếng mỗi năm, cao hơn đáng kể so với trước đây; đồng thời đặt ra khả năng tham gia của PVChem tại các dự án lớn như Lô B – Ô Môn, cũng như mức độ cạnh tranh trên thị trường dung dịch khoan.
Chia sẻ về nội dung này, ông Trần Ngọc Lan – Ủy viên HĐQT PVChem, cho biết kịch bản 90–100 giếng khoan/năm là kịch bản cơ sở do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam xây dựng cho giai đoạn 2025–2026 và các năm tiếp theo trong hoạt động thăm dò, khai thác. Tuy nhiên, theo ông Lan, số lượng giếng khoan không phải yếu tố duy nhất quyết định nhu cầu dịch vụ.
Ông phân tích, đặc thù của từng loại giếng khoan có sự khác biệt lớn.
“Ví dụ như tại Lô B, có những giếng khoan với thời gian khoan chỉ 4–5 ngày, nên nhu cầu dung dịch khoan sẽ thấp hơn rất nhiều so với các giếng khoan truyền thống kéo dài 1–4 tháng”, ông Lan cho biết.
Về cạnh tranh thị trường, lãnh đạo PVChem thừa nhận áp lực đang gia tăng rõ rệt so với trước đây. Nếu như giai đoạn trước doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo, thì hiện nay sự tham gia của nhiều đối thủ khiến môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn. Dù vậy, PVChem vẫn xác định mục tiêu duy trì thị phần trong lĩnh vực cung cấp dung dịch khoan.
Theo ông Lan, năm 2025, PVChem có hợp đồng cung cấp dịch vụ cho khoảng 40 giếng khoan. Sang năm 2026, doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng cho khoảng 30 giếng và tiếp tục tham gia các gói thầu mới.
“Kỳ vọng năm 2026, số lượng giếng khoan mà PVChem cung cấp dịch vụ cũng khoảng 30 giếng, chiếm phần lớn thị phần trong nước”, ông nói.
Đối với dự án Lô B – Ô Môn, được xem là một trong những dự án trọng điểm của ngành dầu khí với quy mô lên tới hàng nghìn giếng khoan, PVChem xác định đây là cơ hội chiến lược. “Chúng tôi sẽ tập trung nguồn lực, nhân lực và công nghệ để tham gia sâu, không chỉ ở dung dịch khoan mà còn các dịch vụ kỹ thuật liên quan”, ông Lan nhấn mạnh.
Liên quan đến tác động của biến động địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt là căng thẳng liên quan Iran, ông Lan cho rằng đây là yếu tố có ảnh hưởng 2 chiều. Một mặt, giá dầu tăng có thể thúc đẩy hoạt động thăm dò, khai thác, qua đó tạo thêm nhu cầu dịch vụ. Mặt khác, chi phí vận chuyển và giá nguyên vật liệu đầu vào, đặc biệt là các hóa chất phục vụ dung dịch khoan cũng gia tăng.
“PVChem luôn bám sát thị trường và các hợp đồng đã ký để có phương án điều chỉnh phù hợp, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh”, ông Lan cho biết.
Bổ sung thêm, Tổng Giám đốc Dương Trí Hội cho biết hiện PVChem đang chiếm khoảng 75–80% thị phần cung cấp dung dịch khoan và dịch vụ kỹ thuật tại Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp đang phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn quốc tế như Baker Hughes cùng nhiều đơn vị khác.
Ông Hội nhấn mạnh, yếu tố quan trọng không chỉ là số lượng giếng khoan mà là giá trị dịch vụ trên từng giếng.
“Có những giếng khoan giá trị dịch vụ lên tới 4–5 triệu USD, nhưng cũng có giếng chỉ khoảng 70.000 USD. Vì vậy, hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào đặc thù từng dự án”, ông nói.
Liên quan đến dự án Lô B – Ô Môn, Tổng Giám đốc PVChem cho biết doanh nghiệp đã trúng thầu gói cung cấp dầu nền với giá trị khoảng 16 triệu USD. Dự án này dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026–2031, kéo dài khoảng 5 năm.
Về tác động của giá dầu, ông Hội cho rằng ảnh hưởng từ căng thẳng Trung Đông mang tính ngắn hạn và không tác động quá lớn đến kế hoạch thăm dò, khai thác trong dài hạn. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chi phí vận hành của doanh nghiệp vẫn chịu áp lực do giá nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào tăng.
Bên cạnh mảng kinh doanh cốt lõi, cổ đông cũng đặt nhiều câu hỏi liên quan đến tiến độ và hiệu quả các dự án đầu tư mới, đặc biệt là dự án nhà máy khí công nghiệp hợp tác với Messer và dự án tái chế nhựa PET.
Tổng Giám đốc Dương Trí Hội cho biết PVChem đang triển khai chiến lược đầu tư theo từng giai đoạn. Trong giai đoạn 2026–2028, doanh nghiệp ưu tiên các dự án liên doanh, liên kết nhằm giảm áp lực vốn và chia sẻ rủi ro.
Đối với dự án tái chế nhựa PET (Petrochip), ông Hội cho biết dự án đã được khởi công ngày 22/4. Nếu không phát sinh yếu tố bất lợi, dự án dự kiến đi vào vận hành thương mại trong quý I/2027.
“Các chỉ số tài chính của dự án tương đối tích cực, với IRR (tỉ suất hoàn vốn nội bộ) khoảng 18%”, ông thông tin.
Tuy nhiên, lãnh đạo PVChem cũng thẳng thắn nhìn nhận rủi ro lớn nhất của dự án nằm ở nguồn nguyên liệu đầu vào.
“Sản phẩm tái chế phụ thuộc vào việc thu gom, do đó luôn tiềm ẩn rủi ro. Chúng tôi đã hợp tác với các đối tác để đảm bảo nguồn cung ổn định”, ông nói.
Đối với dự án nhà máy khí công nghiệp liên doanh với Messer, PVChem dự kiến xây dựng nhà máy tại khu vực Cái Mép với công suất khoảng 200.000 tấn/năm, sản xuất các loại khí như Nitơ, Oxy, Argon. Dự án tận dụng nguồn nhiệt lạnh từ kho khí của PV GAS, giúp tiết kiệm năng lượng trong vận hành.
“IRR của dự án này khoảng hơn 13%. Biên lợi nhuận ngành khí công nghiệp không cao do phạm vi cung cấp giới hạn trong bán kính khoảng 200 km, đồng thời phải cạnh tranh với các nhà máy có thể tận thu khí trong quá trình sản xuất”, ông Hội cho biết.
Hiện dự án đang hoàn thiện thủ tục đầu tư, dự kiến được cấp phép trong tháng 5 và có thể khởi công vào tháng 6 hoặc đầu tháng 7/2026. Thời điểm vận hành thương mại dự kiến vào quý I/2028.
Ngoài 2 dự án trên, PVChem cũng đang nghiên cứu hàng loạt cơ hội đầu tư khác như xử lý và chế biến tro xỉ tại Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, sản xuất axit sulfuric tại Khu kinh tế Nghi Sơn với tổng mức đầu tư khoảng 140 triệu USD, cùng các dự án sản xuất xút và hóa chất khác.
Theo Tổng Giám đốc PVChem, việc lựa chọn mô hình liên doanh, liên kết trong giai đoạn đầu xuất phát từ thực tế năng lực triển khai dự án và nguồn vốn của doanh nghiệp còn hạn chế. “Liên doanh giúp chia sẻ rủi ro và đảm bảo tính an toàn trong đầu tư”, ông nói.
Về dài hạn, cùng với kế hoạch tăng vốn lên khoảng 5.000 tỷ đồng, PVChem đặt mục tiêu trong giai đoạn 2028–2031 sẽ chủ động triển khai các dự án lớn với vai trò dẫn dắt.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh ethanol thông qua hợp tác BCC tại Nhà máy Ethanol Dung Quất. Đây được kỳ vọng là mảng bổ trợ trong bối cảnh thị trường xăng sinh học E10 được triển khai rộng rãi từ cuối tháng 4.
Sáng ngày 25/4, Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank, HOSE: VAB) đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, trình cổ đông xem xét và thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kế hoạch kinh doanh, phân phối lợi nhuận, tăng vốn điều lệ cũng như định hướng mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực tài chính mới.
Theo tài liệu trình đại hội, VietABank đặt mục tiêu tổng tài sản đến cuối năm 2026 đạt 150.500 tỷ đồng, tăng 7,1% so với đầu năm; dư nợ tín dụng đạt 101.633 tỷ đồng, tăng 14,5%; tiền gửi khách hàng và phát hành giấy tờ có giá đạt 115.441 tỷ đồng, tăng 11%, trong khi tỉ lệ nợ xấu được kiểm soát dưới 2%. Ngân hàng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18% so với kết quả năm 2025.
Cùng với kế hoạch kinh doanh, VietABank cũng trình cổ đông phương án tăng vốn điều lệ từ 8.164 tỷ đồng lên 12.688 tỷ đồng, tương ứng mức tăng khoảng 55% thông qua ba cấu phần gồm phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, phát hành ESOP và chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.
Cụ thể, ngân hàng dự kiến phát hành gần 122,5 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỉ lệ 15%, tương đương giá trị khoảng 1.225 tỷ đồng từ lợi nhuận giữ lại và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ.
Cùng với đó phát hành 20 triệu cổ phiếu ESOP cho cán bộ nhân viên với giá 10.000 đồng/cổ phần, tổng giá trị 200 tỷ đồng, bị hạn chế chuyển nhượng trong 1 năm; đồng thời chào bán 310 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phần, quy mô khoảng 3.100 tỷ đồng.
Các phương án phát hành sẽ được triển khai sau khi có chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, với nguồn vốn bổ sung dự kiến phục vụ hoạt động tín dụng, đầu tư giấy tờ có giá, tài sản cố định và các hoạt động kinh doanh khác trong giai đoạn 2026-2027.
Đáng chú ý, VietABank cũng trình kế hoạch mở rộng hoạt động thông qua việc góp vốn, mua cổ phần hoặc thành lập công ty con, công ty liên kết để tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực như chứng khoán, bảo hiểm, quản lý nợ và khai thác tài sản, kiều hối, vàng, dịch vụ trung gian thanh toán và thông tin tín dụng.
Ngân hàng cũng định hướng tham gia hoặc sở hữu các doanh nghiệp trong lĩnh vực cho thuê tài chính, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng và tín dụng tiêu dùng, với tỉ lệ sở hữu có thể linh hoạt theo thỏa thuận nhưng đảm bảo tuân thủ giới hạn theo quy định pháp luật, tổng mức đầu tư không vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng.
Chỉ tính riêng tại TP.HCM, mỗi năm có hàng chục nghìn hồ sơ xin cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ. Trước đây người dân phải tốn nhiều thời gian, chi phí để hoàn thiện thủ tục xin phép xây dựng, nhưng từ khi bỏ thủ tục xin phép xây dựng, mọi thứ đã khác.
Anh Ngọc Tuân, ở xã Nhà Bè, TP.HCM, so sánh, để xin được tờ giấy phép xây dựng (GPXD) trước đây, anh phải đi lại nhiều lần, bổ sung giấy tờ liên tục. Không chỉ vậy, chi phí làm hồ sơ thủ tục mất hàng chục triệu đồng từ việc thuê người đo vẽ đến việc phải thuê dịch vụ làm hồ sơ. Tuy nhiên hiện nay các thủ tục xin cấp phép xây dựng đã đơn giản hơn, anh có thể tự đi nộp, thậm chí nộp hồ sơ trực tuyến tại nhà, đỡ rất nhiều áp lực, cũng như thời gian và tiền bạc.
"Mới đây tôi đi xin cấp phép xây dựng cho căn nhà nằm trong khu quy hoạch 1/500 ở xã Nhà Bè chỉ mất 12 ngày, tính cả 2 ngày cuối tuần, là có được thông báo khởi công xây dựng. Chi phí cho thủ tục này cũng giảm đi rất nhiều, khi chỉ tốn tiền thuê đơn vị vẽ bản vẽ thiết kế", anh Tuân kể và nhận xét việc bỏ GPXD đã giúp người dân rút ngắn thời gian chuẩn bị xây dựng, giảm chi phí không chính thức, hạn chế tình trạng nhũng nhiễu, phiền hà. Không chỉ vậy, trong suốt quá trình thi công cũng không thấy đô thị hay thanh tra xây dựng xuống kiểm tra, người dân được hoàn toàn tự chủ, tự xây dựng đúng như bản vẽ được duyệt.
Với các doanh nghiệp (DN), việc bỏ quy định phải xin phép xây dựng với các dự án đã có quy hoạch 1/500 thực sự là bước đột phá. Bởi với các dự án nhà ở thương mại, thủ tục cấp phép xây dựng thường là một trong những khâu quan trọng nhất, vì dự án muốn khởi công được phải có giấy phép. Theo ông Dương Tuấn Tú, Tổng giám đốc Công ty Anh Tuấn, DN của ông có dự án đang triển khai cũng nằm trong diện được miễn GPXD. Khi hồ sơ thiết kế cơ sở của dự án được Bộ Xây dựng phê duyệt, từ đó DN có thể lấy để triển khai bản vẽ kỹ thuật thi công, trong khi trước đây làm hồ sơ xin phép xây dựng mất nhiều thời gian, phải lặp lại hồ sơ như đi xin thiết kế cơ sở. Khi thủ tục cấp phép xây dựng được gỡ bỏ cũng đồng nghĩa với việc dự án rút ngắn được từ 2 - 3 tháng, thậm chí còn hơn.
Ông Tú nhận xét những thay đổi này rất giá trị, bởi nó không chỉ giúp rút ngắn thời gian mà khi dự án triển khai sớm, DN sẽ có thêm cơ hội nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường, bán được hàng, thu hồi vốn và có dòng tiền. Điều này cũng giúp chi phí vốn, chi phí tài chính được giảm bớt, nhất là trong bối cảnh lãi suất đang tăng quá cao như hiện nay.
"Trước đây sau khi được duyệt thiết kế cơ sở, DN vẫn phải làm thiết kế kỹ thuật thi công mới cấp phép xây dựng được. Còn nay mọi việc đã khác, nhanh hơn rất nhiều. Điều này giúp DN tăng tính tự chủ nhưng phải kiểm soát được các rủi ro, không được làm sai thiết kế được duyệt để tránh các phiền phức và sau này nghiệm thu nhanh, cấp sổ hồng cho người mua nhà dễ dàng hơn", ông Dương Anh Tú nói.
Nếu năm 2025, hơn 30% thủ tục hành chính (TTHC) trong lĩnh vực bất động sản (BĐS) đã được loại bỏ, thì theo kế hoạch mới nhất, đến hết năm 2026 con số này sẽ tăng lên 50% và giảm 50% thời gian thực hiện.
TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường, phân tích: Trong BĐS và xây dựng, chi phí lớn nhất của DN thường không chỉ là tiền, mà là thời gian chờ thủ tục. Một dự án càng kéo dài khâu pháp lý thì càng tăng chi phí vốn, chi phí cơ hội, chi phí quản trị và rủi ro thị trường. Khi thủ tục được rút gọn, DN có thể triển khai dự án nhanh hơn, quay vòng vốn tốt hơn, giảm áp lực lãi vay và giảm tình trạng "đất treo, dự án treo". Đây là lý do cải cách thủ tục trong lĩnh vực này có tác động lan tỏa lớn hơn nhiều ngành khác. "Bộ Xây dựng đang quản lý một khối lượng thủ tục và điều kiện kinh doanh rất lớn. Năm 2025, Thủ tướng từng yêu cầu rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa 361 TTHC và 447 điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của bộ; đồng thời yêu cầu giảm mạnh thời gian và chi phí tuân thủ. Điều đó cho thấy dư địa cải cách trong ngành còn rất nhiều và rộng lớn, nên cần phải hành động dứt khoát theo chủ trương giảm 50% TTHC bắt đầu từ tháng 4.2026", ông Thuận nhấn mạnh.
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách, Trường ĐH Hùng Vương TP.HCM, cũng cho rằng việc Bộ Xây dựng cắt giảm tới 50% TTHC theo yêu cầu của Thủ tướng là một động thái rất quyết liệt, phản ánh đúng tinh thần lấy cải cách thể chế làm động lực phát triển. Bởi trong nhiều năm qua, một trong những điểm nghẽn lớn nhất của thị trường BĐS là thủ tục pháp lý kéo dài và chồng chéo. Một dự án BĐS có thể mất từ 2 - 5 năm chỉ để hoàn tất các bước pháp lý, thậm chí lâu hơn. Chi phí lớn nhất của DN vì vậy không phải chi phí xây dựng, mà là chi phí thời gian, bao gồm lãi vay, chi phí cơ hội và rủi ro pháp lý. Nên khi 50% thủ tục được cắt bỏ, cùng với đó là giảm 50% thời gian thực hiện không chỉ mang lại lợi ích cho DN mà cho cả nền kinh tế.
Nếu việc cắt giảm thủ tục được thực hiện thực chất, tác động sẽ rất lớn khi rút ngắn thời gian triển khai dự án, giúp DN sớm đưa sản phẩm ra thị trường, qua đó tăng nguồn cung và giảm áp lực giá. Khi thủ tục đơn giản, minh bạch, DN không phải "đi vòng", từ đó hạn chế chi phí không chính thức và nâng cao tính minh bạch của thị trường. Đồng thời đây cũng là yếu tố quan trọng để thu hút dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn FDI. Nhà đầu tư quốc tế không ngại chi phí, nhưng họ rất ngại sự không chắc chắn về thủ tục và thời gian.
Tuy nhiên theo TS Trần Việt Anh, vấn đề không nằm ở cắt giảm bao nhiêu, mà ở việc cắt như thế nào. Nếu cắt về số lượng nhưng không giảm về thực chất, thủ tục vẫn tồn tại dưới hình thức khác hoặc cắt bỏ khâu kiểm soát cần thiết, dẫn đến rủi ro về pháp lý, quy hoạch và chất lượng dự án. Do đó, điều quan trọng không phải là giảm bao nhiêu thủ tục mà là thiết kế lại toàn bộ quy trình theo hướng khoa học, minh bạch và có thể dự báo được.
Từ sau khi hoàn thành sáp nhập, mở rộng địa giới hành chính đến nay, gần như không tuần nào, các sở chuyên ngành của TP.HCM không có văn bản khẩn gửi UBND TP để báo cáo thông tin liên quan tới việc triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm. Nhu cầu kết nối giao thông nội đô giữa 3 cực tăng trưởng (vùng lõi TP.HCM - Bình Dương - Bà Rịa-Vũng Tàu), giải quyết bài toán ùn tắc giao thông hiện hữu, rồi kết nối tới cảng hàng không, cảng biển…, hàng loạt những bài toán cấp bách về kinh tế tạo sức ép rất lớn lên tiến độ nối thông "huyết mạch" giao thông. Đó là lý do UBND TP.HCM liên tiếp chỉ đạo đưa các dự án trong kế hoạch vào diện khẩn cấp hoặc cấp bách phải làm ngay, còn với các công trình đang "nóng máy" thì quyết liệt đẩy tiến độ tới từng dự án.
Mới nhất, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đã đề nghị thủ trưởng các sở, ngành, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan dồn lực bảo đảm mốc tiến độ các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, dự án xây dựng đường Vành đai 3 TP.HCM và dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu cần hoàn thành toàn bộ, đưa vào khai thác trước 30.6. Đối với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Tham Lương, lãnh đạo UBND TP.HCM yêu cầu các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành toàn bộ dự án và đưa vào vận hành trong năm 2030. Với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm, Chủ tịch UBND TP yêu cầu khẩn trương tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án, đảm bảo đủ điều kiện khởi công dự án trước ngày 30.4. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành cũng cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án, phấn đấu khởi công trước ngày 30.6.
Bên cạnh đó, TP.HCM đang đặt yêu cầu khởi công 3 siêu cảng biển tỉ USD gồm Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ; Cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ (giai đoạn 1) và Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link (giai đoạn 2) ngay trong tháng này để chào mừng kỷ niệm 51 năm ngày đất nước thống nhất (30.4.1975 - 30.4.2026). Dịp này, dự án Trung tâm Chính trị - Hành chính mới tại Thủ Thiêm và Công viên, quảng trường ven sông tại Bến Nhà Rồng cũng sẽ chính thức được khởi công. Sau khởi công, tiến độ các siêu công trình này cũng rất "căng" khi đa số đều đặt mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2028 - 2030.
Không chỉ các sở, ngành chạy đua với tiến độ, hàng loạt doanh nghiệp (DN) tư nhân đăng ký nghiên cứu hay đề xuất đầu tư các dự án trọng điểm của TP.HCM cũng phải bật trạng thái "khẩn" cho tất cả các đầu việc. Đơn cử, Liên danh Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex - CTCP (Becamex) - Công ty CP Tập đoàn Trường Hải (Thaco) trong văn bản gửi UBND TP.HCM đề xuất nghiên cứu 2 tuyến metro nối từ trung tâm TP.HCM tới trung tâm hành chính Bình Dương cam kết tối đa trong 3 tháng sẽ hoàn thiện phương án đầu tư, nếu được chấp thuận giao dự án sẽ hoàn thành các thủ tục pháp lý ngay trong năm nay, đảm bảo đủ điều kiện khởi công vào quý 1/2027 và hoàn thành đưa vào khai thác vận hành cả hai tuyến vào năm 2030.
Liên danh Tập đoàn Đèo Cả - Trí Tín kiến nghị thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường trên cao dọc Vành đai 2 phía nam (đường Nguyễn Văn Linh) cũng cam kết dồn mọi nguồn lực triển khai ngay trong năm nay để hoàn thành vào năm 2029.
Có thể thấy, không khí "hầm hập" đang bao trùm toàn ngành xây dựng của TP.HCM.
Đáng nói, nếu như trước đây các dự án chỉ lo không đủ vốn và mặt bằng để khởi công thì hiện nay, nỗi lo lớn nhất của Sở Xây dựng chính là các dự án khởi công nhanh nhưng không có đủ nhiên liệu, vật liệu xây dựng để làm.
Theo thống kê mới nhất của Sở NN-MT TP.HCM, trong giai đoạn 2026 - 2030, có 64 dự án triển khai trên toàn địa bàn TP nhưng nguồn cung vật liệu đang thiếu so với nhu cầu.
Riêng trong năm nay, đối với đá xây dựng, nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3; cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3. Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3. Tương tự, đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trong khi đó, tình hình nhu cầu và khả năng cung ứng vật liệu xây dựng giai đoạn 2027 - 2030 cho 46 dự án trọng điểm cũng không khả quan. Đơn cử cát xây dựng dù nhu cầu cần đến 61,3 triệu m3 nhưng khả năng cung ứng chỉ được 3 triệu m3, thiếu đến 58,3 triệu m3. Hay cát san lấp, nhu cầu cho 46 dự án trọng điểm đến hơn 177 triệu m3 nhưng chỉ đáp ứng được hơn 2 triệu m3, còn thiếu đến hơn 175 triệu m3.
Các dự án chưa triển khai đã lo, các công trình đang trong giai đoạn tăng tốc về đích còn khổ gấp nhiều lần vì "vừa chạy vừa chờ". Cụ thể, dự án Vành đai 3 TP.HCM đoạn phía tây theo kế hoạch phải thông xe kỹ thuật chậm nhất ngày 31.12.2025, hướng tới khai thác toàn tuyến vào 30.4.2026. Tuy nhiên, mốc hoàn thành đã được điều chỉnh tới trước ngày 30.6.2026. Dù vậy, ghi nhận thực tế trên công trường cho thấy nhiều đoạn tuyến vẫn còn ngổn ngang, thậm chí chưa hoàn tất đắp cát gia tải, vốn là khâu then chốt thường kéo dài 6 - 9 tháng.
Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM - chủ đầu tư, các nhà thầu muốn thi công nhanh cũng không được vì vừa làm vừa phải chờ nguồn nguyên vật liệu "nhỏ giọt". Riêng nhu cầu đá của dự án lên tới 88.000 m3 nhưng hiện mới chỉ cung cấp được khoảng 26.000 m3. Tổng nhu cầu đá cho 5 gói thầu phía tây trong năm 2026 lên tới khoảng 1,2 triệu m3 nhưng nguồn cung từ các mỏ hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu tăng tốc thi công.
Tương tự, cả 10 gói thầu tại dự án cải tạo kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên đều đang chậm so với hợp đồng do vật tư cát, đá khan hiếm, giá tăng cao làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công của các nhà thầu. Công trình hiện cần khoảng 180.850 tấn bê tông nhựa, nhưng đến nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM (chủ đầu tư) lo ngại mục tiêu hoàn thành toàn bộ dự án vào cuối năm 2026 đang bị đe dọa.
Áp lực thiếu nguyên vật liệu còn nhân lên gấp nhiều lần khi các công trình đang phải gồng mình vượt "bão" giá dầu. Một số nhà thầu cho biết chi phí vận hành máy móc mỗi ngày đã tăng gấp đôi khiến họ phải "cắn răng" chịu lỗ để giữ tiến độ. Chưa kể, giá dầu tăng kéo theo giá nhựa đường tăng đột biến (gần 32%), giá các loại vật liệu như cát, đá, gạch cũng tăng từ 13,5 - 23,3% do chi phí khai thác và vận chuyển đường thủy/đường bộ leo thang. Đó là lý do nhiều gói thầu không thể duy trì phương thức "3 ca, 4 kíp" như trước vì càng làm càng lỗ. Một số đơn vị thậm chí phải tạm dừng các mũi thi công không cấp thiết để chờ điều chỉnh giá. Tiến độ các dự án trọng điểm từ khó chuyển hẳn sang ì ạch.
Trước tình trạng nói trên, Sở NN-MT TP.HCM đã đưa ra hàng loạt giải pháp cho năm 2026 để tăng cung. Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất, các công trình sẽ có thêm hơn 7 triệu m3 đá, vượt nhu cầu. Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu, có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ việc nạo vét 22 hồ của TP. Tương tự, 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu cũng đã có kế hoạch chi tiết nạo vét từ nguồn sông nào, tận thu hồ ở đâu, nếu không đủ có thể thay thế bằng cách xay đá, rửa cát biển…
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu, chỉ riêng cát san lấp vẫn thiếu khoảng 24,6 triệu m3 (46,5%) trong năm 2026. Riêng giai đoạn 2027 - 2030, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng và đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu. Song, cát xây dựng vẫn thiếu 17,17 triệu m3 (tương ứng 28%), cát san lấp thiếu đến 170,74 triệu m3 (96%).
Giám đốc Sở NN-MT TP.HCM Nguyễn Toàn Thắng thông tin: Ngoài các biện pháp trên, Sở cũng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM chấp thuận cho nâng công suất khai thác mỏ theo Nghị quyết số 66.4. Đồng thời, có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỷ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của TP, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Đồng thời, nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của TP. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP.HCM, nhìn nhận TP.HCM được xác định là cực tăng trưởng quan trọng đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước. Vì vậy, các dự án cầu đường, hạ tầng cảng, xây dựng đô thị đã, đang và sẽ được triển khai không đơn thuần là xây dựng thêm vài con đường, cây cầu mà là thực hiện một cuộc "đại tu cấu trúc" để thoát khỏi chiếc áo hạ tầng đã quá chật chội, bước vào kỷ nguyên phát triển mới cùng dân tộc. Do đó, các dự án nếu chậm trễ sẽ đánh mất "thời điểm vàng" để TP.HCM chuyển mình. TP cần tập trung quyết liệt đưa ra những giải pháp tháo nút thắt nguồn vật liệu xây dựng để các công trình quan trọng đảm bảo tiến độ, giảm thiểu phát sinh chi phí vốn đầu tư.
Ông Đạt kiến nghị TP nhanh chóng cấp phép nâng công suất tối đa cho các mỏ đang khai thác. Các mỏ cần được phép xuống sâu vì càng xuống sâu thì chất lượng đá càng tốt, tận thu được tối đa, tránh lãng phí nguồn tài nguyên đá xây dựng đang có. Đối với các mỏ đã khai thác hết công suất hoặc còn nhiều trữ lượng đã được cấp giấy phép thì Sở NN-MT và các sở ngành liên quan cần tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ cho DN sớm hoàn thành hồ sơ thủ tục để trình UBND TP xem xét cấp giấy phép điều chỉnh tăng công suất theo nghị Quyết 66.4/2025.