Gia đình không rõ thời gian bé chìm trong nước, khi phát hiện và vớt lên đã ngừng tim. Trẻ được nhân viên y tế sơ cứu, ba phút sau có nhịp tim trở lại, chuyển đến Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh trong tình trạng hôn mê, suy hô hấp cấp, đồng tử đều còn phản xạ ánh sáng.
Các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhi suy hô hấp, viêm phổi, ngừng tuần hoàn do đuối nước, theo dõi tổn thương não. Bé phải thở máy, dùng chống phù não, kiểm soát thân nhiệt, nuôi dưỡng qua đường truyền tĩnh mạch.
Ngày 24/4, sau 7 ngày điều trị, bác sĩ đánh giá chỉ số sinh tồn của trẻ đã dần ổn định, bình phục nhanh cả về sức khỏe lẫn tinh thần, đủ điều kiện xuất viện.
Đuối nước là tình trạng nước tràn vào đường hô hấp làm cho các cơ quan bị thiếu oxy các chức năng sống của cơ thể ngừng hoạt động. Đây là tai nạn nguy hiểm và là nguyên nhân lớn nhất gây tử vong trẻ em dưới 19 tuổi. Trẻ nam bị đuối nước nhiều gấp hai lần trẻ nữ.
Phần lớn trẻ bị đuối nước tử vong hoặc để lại di chứng não bởi không được sơ cứu hoặc sơ cứu không đúng cách. Các bác sĩ cho rằng sơ cứu tại chỗ đúng kỹ thuật cực kỳ quan trọng, quyết định sự sống còn cho trẻ.
Khi phát hiện trẻ bị đuối nước, cần tìm mọi cách đưa lên khỏi mặt nước và đặt nằm ở nơi khô ráo, thoáng khí. Tùy thuộc vào phương tiện có sẵn tại chỗ, tình trạng trẻ tỉnh hay hôn mê, có bị ngừng tim, ngừng thở hay không và tình hình thực tế (đuối nước tại sông, hồ hay biển, nước lặng hay nước chảy xiết, nước nông hay sâu, gần bờ hay xa bờ) mà cấp cứu bằng các cách khác nhau.
Nếu nạn nhân bất tỉnh và ngưng thở/ngưng tim, cần thực hiện ngay kỹ thuật thổi ngạt và ấn tim liên tục trên đường đến bệnh viện. Nếu nạn nhân còn thở, đặt nằm nghiêng để tránh sặc chất nôn và nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để theo dõi.
Tin Gốc: Vnexpress
Sức Khỏe
Xây dựng Đà Nẵng trở thành mô hình điểm quốc gia về cấp cứu ngoại viện

Tại hội thảo góp ý Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030 do Bộ Y tế tổ chức ngày 15.5 tại Đà Nẵng, bác sĩ chuyên khoa Trương Văn Trình, Phó giám đốc Sở Y tế TP.Đà Nẵng, cho biết thành phố đang định hướng xây dựng hệ thống cấp cứu ngoại viện hiện đại, chuyên nghiệp, liên thông và có khả năng đáp ứng nhanh trên toàn địa bàn.
Theo Sở Y tế Đà Nẵng, hiện hệ thống cấp cứu ngoại viện của thành phố lấy Trung tâm Cấp cứu 115 làm nòng cốt, phối hợp với mạng lưới bệnh viện công lập, tư nhân và các lực lượng liên quan. Thành phố duy trì 9 trạm cấp cứu trực thuộc, đồng thời mở rộng các trạm vệ tinh đến khu vực đông dân cư, ven biển, miền núi và trung du.
Chỉ từ tháng 1 - 5.2026, hệ thống đã thực hiện hơn 10.500 ca cấp cứu và vận chuyển cấp cứu, phục vụ khoảng 5.200 ca tại các sự kiện lớn; tỷ lệ đáp ứng đạt hơn 98%. Hệ thống cũng tham gia xử lý nhiều vụ tai nạn giao thông hàng loạt và các ca cấp cứu biển.
Đà Nẵng hiện là địa phương tiên phong trong nước ứng dụng công nghệ định vị what3words trong cấp cứu ngoại viện, cho phép xác định vị trí người bệnh chính xác trong ô vuông 3 x 3 m, đặc biệt hữu ích tại bãi biển, kiệt hẻm hoặc khu vực rừng núi.
Ngoài ra, hệ thống xe cứu thương đã được tích hợp trên nền tảng Danang Smart City và DanaMap, cho phép người dân gọi cấp cứu qua ứng dụng, theo dõi vị trí xe cứu thương theo thời gian thực và nhận hướng dẫn sơ cứu ban đầu từ nhân viên y tế.
"Với định hướng xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung, thành phố xác định phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện là nhiệm vụ chiến lược, vừa mang ý nghĩa y tế, vừa góp phần bảo đảm an sinh xã hội, môi trường đầu tư, du lịch và năng lực ứng phó khẩn cấp của đô thị hiện đại", BS Trương Văn Trình nhấn mạnh.
Theo kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030, Đà Nẵng sẽ nâng cấp Trung tâm Cấp cứu thành trung tâm điều hành cấp cứu thông minh; hình thành 25 điểm trạm cấp cứu trên toàn địa bàn; phấn đấu thời gian tiếp cận hiện trường dưới 10 phút tại khu vực trung tâm và dưới 15 - 20 phút tại vùng ven.
"Đà Nẵng mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Bộ Y tế, các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ, các tập đoàn và các cơ sở đào tạo trong việc chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hỗ trợ phương tiện và xây dựng mô hình cấp cứu ngoại viện hiện đại, hướng tới mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành mô hình điểm quốc gia về cấp cứu ngoại viện trong thời gian tới", ông Trình nói thêm.
Bên cạnh những kết quả đạt được, lãnh đạo Sở Y tế Đà Nẵng cho rằng, công tác cấp cứu ngoại viện hiện vẫn đối mặt nhiều khó khăn như thiếu nhân lực chuyên sâu, áp lực địa bàn rộng sau sáp nhập, thiếu phương tiện và cơ chế tài chính chưa đồng bộ.
Hiện toàn hệ thống cấp cứu ngoại viện Đà Nẵng có 33 xe cứu thương cho quy mô dân số khoảng 3 triệu người. Một số trạm vệ tinh ở khu vực miền núi, xa trung tâm vẫn còn thiếu cơ sở vật chất và trang thiết bị đồng bộ.
BS Trương Văn Trình cho biết, người dân gọi cấp cứu qua tổng đài 115 được miễn phí, nhưng nhiều người vẫn có thói quen liên hệ trực tiếp bệnh viện hoặc cơ sở y tế nên phải tự chi trả chi phí vận chuyển cấp cứu.
Từ thực tiễn địa phương, Đà Nẵng kiến nghị Bộ Y tế sớm ban hành Đề án cấp cứu ngoại viện quốc gia cùng các cơ chế đặc thù về tài chính, bảo hiểm y tế, đào tạo và đãi ngộ nhân lực cấp cứu trước viện; đồng thời tăng cường đầu tư phương tiện, công nghệ và hệ thống điều hành thông minh cho các đô thị lớn.
Theo TS Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), hệ thống cấp cứu ngoại viện của Việt Nam hiện mới chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu thực tế; chỉ khoảng 30% người bệnh được tiếp cận trong "10 phút vàng"; khoảng 80% nhân viên chưa được đào tạo chuẩn hóa và 30% xe cứu thương chưa đạt chuẩn.
Tỷ lệ xe cứu thương của Việt Nam hiện chỉ khoảng 0,2 xe/100.000 dân, thấp hơn nhiều so với Singapore, Nhật Bản hay Đài Loan. Ngoài ra, mới chỉ có 9/34 tỉnh, thành phố bố trí ngân sách cho trung tâm cấp cứu 115.
Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% tỉnh, thành phố kiện toàn mạng lưới cấp cứu ngoại viện; vận hành nền tảng quản lý cấp cứu toàn quốc; đạt tối thiểu 1 xe cứu thương đạt chuẩn/100.000 dân và phổ cập kỹ năng sơ cấp cứu cho ít nhất 5% dân số.
Theo Bộ Y tế, giai đoạn 2025 - 2027, đề án sẽ được triển khai thí điểm tại khoảng 30% tỉnh, thành phố, trong đó có Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, An Giang và Bắc Ninh.
Theo TS Hà Anh Đức, để khắc phục tình trạng cấp cứu ngoại viện còn phân mảnh, đề án tập trung vào một số nhóm giải pháp trọng tâm, như: xây dựng hệ thống điều phối cấp cứu thống nhất trên toàn quốc; phát triển nền tảng số kết nối tổng đài, xe cứu thương và bệnh viện; chuẩn hóa nhân lực cấp cứu ngoại viện; đồng thời đầu tư đồng bộ phương tiện, trang thiết bị và mạng lưới trạm cấp cứu…
Đề án cũng hướng tới đào tạo lực lượng cấp cứu viên ngoại viện chuyên nghiệp, phổ cập kỹ năng sơ cấp cứu trong cộng đồng và tăng cường phối hợp liên ngành giữa y tế, công an, quân đội, phòng cháy chữa cháy và chính quyền địa phương.
Tin Gốc: Thanh Niên

"Chi phí khám chữa bệnh gia tăng mạnh, đặc biệt từ các bệnh mạn tính không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch, rối loạn chuyển hóa đang tạo áp lực ngày càng lớn lên quỹ bảo hiểm y tế (BHYT)", Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Đức Hòa nói tại hội thảo Hướng tới hệ thống bảo hiểm y tế bền vững tại Việt Nam, do cơ quan này phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch và Novo Nordisk Việt Nam tổ chức hôm 16/4 tại Hà Nội.
Báo cáo của BHXH Việt Nam tại hội thảo cho thấy năm 2025 cả nước có gần 98 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ hơn 95% dân số. Tổng số lượt khám chữa bệnh BHYT vượt 195 triệu, tăng 6,5% so với năm trước, trong khi chi phí đề nghị thanh toán lên tới 166.400 tỷ đồng, tăng hơn 16%.
Đáng chú ý, phần lớn chi phí đến từ các bệnh mạn tính. Quỹ BHYT hiện chi trả cho gần 8 triệu người tăng huyết áp, hơn 3,3 triệu bệnh nhân đái tháo đường, trên 1,1 triệu người mắc bệnh hô hấp mạn tính và khoảng 500.000 bệnh nhân ung thư. Riêng nhóm bệnh không lây nhiễm ghi nhận khoảng 51 triệu lượt khám, với tổng chi gần 20.000 tỷ đồng, tăng gần 18%.
PGS Vũ Thị Thanh Huyền, Trưởng khoa Nội tiết – Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương, cho hay bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hóa không còn xuất hiện đơn lẻ mà thường đi kèm nhiều bệnh lý tim mạch, thận, làm chi phí điều trị tăng vọt và tạo áp lực lớn lên quỹ BHYT. Tại Việt Nam, điểm đáng lo ngại là phần lớn chi phí điều trị không nằm ở giai đoạn sớm mà tập trung vào xử lý biến chứng.
"Bệnh nhân thường không mắc một bệnh riêng lẻ mà đi kèm 2–3 bệnh như tim mạch, thận, rối loạn chuyển hóa", bà Huyền nói, dẫn chứng khoảng 55% bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng tim mạch, 1/3 tiến triển thành bệnh thận mạn. Hơn 80% trường hợp được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn, khiến chi phí điều trị tăng gấp nhiều lần, thậm chí phải lọc máu hoặc can thiệp chuyên sâu.
Một trong những nguyên nhân chính là tỷ lệ kiểm soát bệnh còn thấp. Hiện chỉ dưới 30% bệnh nhân đạt mục tiêu đường huyết, làm gia tăng nguy cơ biến chứng và kéo theo chi phí tích lũy lớn. Đáng chú ý, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ nổi bật. Khoảng 90% bệnh nhân đái tháo đường type 2 có tình trạng này, liên quan đến lối sống ít vận động, chế độ ăn giàu năng lượng và áp lực công việc.
Ông Erik Wiebols, Tổng Giám đốc Novo Nordisk Việt Nam, cho hay các bệnh mạn tính hiện chiếm hơn 70% gánh nặng bệnh tật và trên 80% số ca tử vong tại Việt Nam. Điều này cho thấy sự cần thiết cấp bách của việc chuyển hướng từ điều trị sang phòng ngừa và quản lý bệnh một cách sớm, toàn diện và bền vững. Việc kiểm soát hiệu quả các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như béo phì, đái tháo đường, tim mạch và bệnh thận mạn không chỉ giúp giảm biến chứng lâu dài mà còn tối ưu nguồn lực BHYT, giảm chi phí xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy hiệu quả của cách tiếp cận này. Một số quốc gia đã triển khai mô hình phân tầng nguy cơ, can thiệp sớm với nhóm nguy cơ trung bình nhằm tránh chuyển nặng, qua đó giảm chi phí điều trị dài hạn. Như ở Thái Lan, các bệnh không lây nhiễm như béo phì, đái tháo đường đang tạo gánh nặng kinh tế khổng lồ, buộc chính sách y tế phải chuyển hướng sang phòng ngừa sớm và quản lý toàn dân.
PGS Petch Rawdaree, Chủ tịch Liên đoàn Hiệp hội Phòng chống Bệnh không lây nhiễm (Thái Lan), cho biết nước này áp dụng cách tiếp cận phân tầng nguy cơ dân số thành ba nhóm: nguy cơ thấp (khoảng 50%), nguy cơ trung bình (35-40%) và nguy cơ cao. Nhóm nguy cơ trung bình được coi là "điểm chặn" quan trọng, hiện chiếm khoảng 30-35% chi phí y tế. Trong khi đó, nhóm nguy cơ cao dù chỉ chiếm khoảng 5% dân số nhưng lại gánh tới 40-55% tổng chi phí y tế.
Chính sách của Thái Lan vì vậy tập trung đồng thời vào nhiều trụ cột, nâng cao sức khỏe cộng đồng, tăng cường y tế cơ sở, sàng lọc sớm, quản lý liên tục và huy động sự tham gia của toàn xã hội, từ chính phủ đến khu vực tư nhân. "Chiến lược hiệu quả nhất là ngăn họ chuyển nặng, thay vì chỉ tập trung điều trị nhóm đã có biến chứng", ông nói.
Tin Gốc: Vnexpress

"Nhiều năm qua chúng ta đã triển khai chương trình nha học đường chăm sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học, tuy nhiên, chưa bao phủ hết cộng đồng về dự phòng bệnh răng miệng, chưa hướng dẫn rộng rãi về chăm sóc răng miệng, do đó, ước có khoảng 90% dân số có vấn đề về sức khỏe răng miệng.
Thực hiện nghị quyết 72, tới đây ngành răng hàm mặt mặt Việt Nam kết hợp các cơ sở y tế khám răng miệng cùng với khám sức khỏe cho người dân, ít nhất 1 năm/lần; đồng thời cung cấp các kiến thức chăm sóc sức khỏe răng miệng, dự phòng bệnh răng miệng đến cộng đồng", PGS-TS Trần Cao Bính, Giám đốc Bệnh viện Răng hàm mặt T.Ư Hà Nội, cho biết, bên lề hội nghị Nha khoa châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 47 và Hội nghị khoa học, triển lãm Răng hàm mặt quốc tế diễn ra tại Hà Nội từ 12 - 14.5.
Ông Bính cũng khẳng định, ngành răng hàm mặt Việt Nam thực hiện song song 2 nhiệm vụ: công tác dự phòng và công tác điều trị. Trong đó, điều trị đã tiếp cận các kỹ thuật tiên tiến trong khu vực.
Với dự công tác dự phòng bệnh răng miệng, sẽ chú trọng hơn về tuyên truyền giáo dục cho các đối tượng, đặc biệt là trẻ em, mẫu giáo, mầm non, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ có thai.
Theo Bộ Y tế, trong giai đoạn 1 thực hiện đề án "Nâng cao năng lực khám, chữa bệnh răng hàm mặt và dự phòng bệnh răng miệng cộng đồng giai đoạn 2021 - 2030" (Đề án 5628), 93,5% tổng số trường học tham gia hoạt động chăm sóc sức khỏe răng miệng; 360 quy trình chuyên môn kỹ thuật răng hàm mặt được xây dựng và chuẩn hóa.
Các bệnh viện đề xuất Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan ban hành các chính sách đảm bảo bền vững hơn cho chăm sóc răng miệng trẻ em, trong đó xem xét cơ chế bảo đảm chi trả, hỗ trợ tài chính từ bảo hiểm y tế cho các dịch vụ dự phòng bệnh răng miệng...
Tin Gốc: Thanh Niên

