Tại một quán nhậu (izakaya) ở thành phố Ebina, tỉnh Kanagawa vào tối thứ 7, một nhóm 8 người đàn ông ngồi quanh bàn tiệc. Họ đều có con cái đang từ chối đến trường. Nhóm mang tên “Oyaji-no-Kai” (Hội những người cha), duy trì họp mặt hai tháng một lần để chia sẻ khó khăn và tìm cách xây dựng cuộc sống gia đình ổn định.
Tại Nhật Bản, các hội nhóm hỗ trợ trẻ nghỉ học xuất hiện nhiều nhưng thành viên chủ yếu là nữ giới. Những tổ chức dành riêng cho người cha như Oyaji-no-Kai rất thưa thớt.
Ông Hirotsugu Yoshizawa, 70 tuổi, người sáng lập nhóm vào năm 2024 cho biết, việc giới hạn thành viên là nam giới giúp họ dễ dàng bộc bạch những vấn đề cá nhân mà không e ngại định kiến. “Đàn ông thường khó thừa nhận sự yếu đuối. Mượn không khí của quán nhậu giúp họ dễ mở lòng hơn”., ông nói.
Một thành viên trong nhóm chia sẻ việc gia nhập Oyaji-no-Kai đã giúp ông thay đổi góc nhìn. Con trai ông bắt đầu nghỉ học từ cuối cấp tiểu học. Thời điểm đó, ông vừa chịu áp lực công việc vừa đối mặt với sự né tránh của con khi về nhà. “Tôi từng thấy không nơi nào thư giãn, dù ở nhà hay ra ngoài”, ông kể.
Nhờ lắng nghe chia sẻ từ những người cùng hoàn cảnh, ông học được cách thấu hiểu. Sau một năm im lặng, con trai ông đã bắt đầu phản hồi lại lời cha.
Tại bàn nhậu, những người cha khác cũng lần lượt kể câu chuyện gia đình mình. Có người phân vân giữa việc chủ động khuyên bảo hay để con yên tĩnh, người khác thừa nhận bản thân đang bế tắc vì chưa tìm ra cách giải quyết. Việc chia sẻ giúp giải tỏa áp lực, nhiều người đã khóc ngay tại bàn.
Theo khảo sát của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản năm 2024, cả nước có 353.970 học sinh tiểu học và trung học nghỉ học từ 30 ngày trở lên. Số lượng trẻ nghỉ học đã gia tăng năm thứ 12 liên tiếp. Khảo sát cũng ghi nhận 769.022 trường hợp bắt nạt học đường, trong đó có 1.405 vụ việc nghiêm trọng gây thương tích hoặc khiến trẻ nghỉ học dài ngày.
Việc từ chối đến trường kéo dài làm tăng nguy cơ trẻ trở thành “hikikomori” (người sống ẩn dật). Năm 2022, Văn phòng Nội các ước tính Nhật Bản có khoảng 1,46 triệu người rơi vào hoàn cảnh này.
Theo bác sĩ tâm thần học Tamaki Saito, chuyên gia hàng đầu Nhật Bản về hiện tượng hikikomori, tình trạng rút lui xã hội của người trẻ thường gắn liền với cấu trúc gia đình đặc thù: mối quan hệ mẹ – con quá gắn bó hoặc phụ thuộc, đi kèm với sự vắng bóng của người cha về mặt thể chất lẫn cảm xúc.
Các báo cáo lâm sàng cũng ghi nhận, sự đứt gãy kết nối với người cha khiến trẻ mất đi một điểm tựa quan trọng để bước ra thế giới bên ngoài. Thậm chí, ngay cả khi người cha có mặt ở nhà nhưng không biết cách phục hồi mối quan hệ này, sự khép kín của trẻ sẽ càng trở nên trầm trọng và bế tắc.
Bác sĩ Saito nhấn mạnh, việc thay đổi động lực học gia đình, giảm bớt các hành vi vô tình dung túng cho sự rút lui của trẻ và cải thiện giao tiếp từ phía cha mẹ là bước cốt lõi để bắt đầu quá trình chữa lành.
Chính vì vậy, sự xuất hiện của những hội nhóm như Oyaji-no-Kai đánh dấu một sự dịch chuyển văn hóa gia đình đáng chú ý. Theo quan niệm truyền thống của xã hội Nhật Bản, nam giới thường gánh vác áp lực kinh tế và gắn chặt với các cuộc nhậu xã giao (nomikai) sau giờ làm, phó mặc việc giáo dục và chăm sóc con cái cho người vợ.
Việc các ông bố chủ động bước ra khỏi những bàn nhậu thù tiếp thông thường để ngồi lại với nhau, thừa nhận sự bế tắc và tìm cách hàn gắn với con cái là một bước tiến lớn. Hành động này không chỉ gạt bỏ định kiến “đàn ông không được bộc lộ sự yếu đuối”, mà còn cho thấy người cha đang chủ động nhận trách nhiệm, cùng vợ tháo gỡ “hệ thống hikikomori” từ bên trong để đưa con trở lại với xã hội.
Ông Yoshizawa cho biết mục tiêu của nhóm là tạo không gian để các ông bố sắp xếp lại suy nghĩ. “Cha mẹ cần môi trường bình tâm để giúp trẻ nạp lại năng lượng tại nhà”, ông nói.
Ông hy vọng mô hình này sẽ lan rộng khắp Nhật Bản, trở thành điểm tựa cho các gia đình đối mặt với thách thức.
Huấn luyện viên thể dục, chuyên gia tư vấn sức khỏe Toby King (Anh) cho biết các bài tập yêu cầu gồng cơ mạnh như squat, nâng tạ hoặc tác động sâu vào cơ bụng khiến người tập vô thức siết chặt cơ sàn chậu.
"Nhiều nam giới có xu hướng gồng người khi nâng vật nặng và duy trì trạng thái này cả ngày. Lâu dần, cơ sàn chậu hoạt động quá mức, cản trở khả năng cương cứng, thậm chí gây đau nhức", chuyên gia nói.
Một số bài tập như ép chân (leg press), lăn bụng (ab wheel), nâng chân khi treo người hoặc plank cũng gây tác động tương tự do yêu cầu giữ căng cơ bụng liên tục. Với những người thường xuyên đạp xe hoặc tập ba môn phối hợp, việc ngồi lâu trên yên xe sai tư thế tạo áp lực lên dây thần kinh và mô cơ vùng nhạy cảm.
Bên cạnh yếu tố thể chất, tâm lý lo lắng về sự suy giảm sinh lý cũng làm gia tăng căng thẳng, khiến cơ sàn chậu khó thư giãn và tạo thành vòng luẩn quẩn.
Dù vậy, người tập không cần tránh hoàn toàn các bài squat hay nâng tạ. Chuyên gia khuyên nên điều chỉnh chế độ luyện tập, hạn chế các động tác tác động mạnh đến vùng háng, đùi trong và cơ hông sâu nếu đang có triệu chứng đau tức.
Người tập cần học cách thư giãn cơ sàn chậu bằng các bài tập thở, giãn cơ mông và hông như tư thế em bé (Child’s Pose) hoặc tư thế em bé hạnh phúc (Happy Baby). Ngoài ra, bài tập "Kegel ngược" tập trung thả lỏng sàn chậu thông qua hít thở sâu bằng cơ hoành cũng giúp giảm căng thẳng cho khu vực này.
Bác sĩ Tia Dankberg tại Viện vật lý trị liệu Brooks Rehabilitation (Mỹ) cho biết không có nhóm cơ nào hoạt động độc lập. Các biện pháp can thiệp thường bao gồm bài tập kéo giãn, cải thiện độ linh hoạt của lồng ngực và hông, qua đó giảm áp lực lên sàn chậu. Trong trường hợp cần thiết, người tập nên khám bác sĩ vật lý trị liệu để xác định nguyên nhân cụ thể.
Mới đây, Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí (Quảng Ninh) vừa tiếp nhận và điều trị thành công một trường hợp hội chứng Lyell do dị ứng thuốc.
Bệnh nhân là phụ nữ 35 tuổi (Hải Phòng). Trước đó, sau khi ăn lẩu tại nhà và xuất hiện ban đỏ toàn thân, người bệnh tự ra hiệu thuốc mua thuốc dị ứng về uống. Tuy nhiên, sau 3 ngày, tình trạng không cải thiện mà còn diễn biến nặng hơn với các bọng nước lớn lan nhanh khắp cơ thể, kèm sốt cao và đau rát nhiều nên được đưa đến bệnh viện cấp cứu.
Khi nhập viện, bệnh nhân sốt cao, ban đỏ lan rộng toàn thân, xuất hiện nhiều bọng nước lớn ở ngực, bụng và lưng, da bong tróc từng mảng, niêm mạc miệng và mắt bị tổn thương nghiêm trọng, gây đau đớn và ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt.
Sau thăm khám và làm các xét nghiệm cần thiết, các bác sĩ chẩn đoán người bệnh mắc hội chứng Lyell - một dạng dị ứng thuốc hiếm gặp nhưng đặc biệt nguy hiểm, có thể đe dọa tính mạng nếu không được điều trị kịp thời.
Tại bệnh viện, người bệnh được điều trị tích cực với nhiều biện pháp phối hợp như sử dụng kháng sinh để kiểm soát nhiễm trùng, truyền dịch, cân bằng điện giải, đồng thời chăm sóc tổn thương da và thay băng hằng ngày trong điều kiện vô khuẩn.
Các bác sĩ cũng theo dõi sát diễn biến toàn thân nhằm hạn chế tối đa biến chứng và hỗ trợ quá trình tái tạo da.
Đáng chú ý sau hơn hai tuần điều trị, tình trạng người bệnh cải thiện rõ rệt: Hết sốt, tổn thương niêm mạc dần hồi phục, da bắt đầu tái tạo. Các chỉ số xét nghiệm ổn định, người bệnh ăn uống tốt, sinh hoạt trở lại bình thường và được xuất viện.
Theo các chuyên gia, hội chứng Lyell có tiên lượng rất nặng, tỉ lệ tử vong lên tới 30 - 40%. Nguyên nhân tử vong thường do nhiễm khuẩn, rối loạn nước, điện giải hoặc suy đa tạng. Ngoài ra, người bệnh còn có thể gặp nhiều biến chứng nghiêm trọng như giảm thị lực, loét giác mạc không hồi phục dẫn đến mù lòa, tổn thương gan thận, suy thận cấp, chít hẹp thực quản, xuất huyết tiêu hóa, viêm màng não hay nhiễm khuẩn huyết.
Từ trường hợp trên, các bác sĩ khuyến cáo người dân tuyệt đối không tự ý sử dụng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như sốt, nổi ban đỏ, phỏng nước sau khi dùng thuốc, cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và xử trí kịp thời, tránh những biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng.
Cách đặt vấn đề "Không thể giao trẻ em cho mạng xã hội" của báo Tuổi Trẻ đã chạm đúng nỗi nhức nhối hiện nay rằng trẻ em đang "chìm" trong màn hình ngày càng sớm và ngày càng sâu.
Một số liệu từng được báo Tuổi Trẻ dẫn trong một bài viết sau đại dịch COVID-19 cho ra những con số đáng lo ngại: 87% trẻ từ 12-17 tuổi sử dụng Internet mỗi ngày, trong đó nhiều em dành từ 5-7 giờ/ngày trên môi trường số; 74% trẻ em truy cập Internet ngay tại trường học.
Những con số này cho thấy một thực tế rằng trẻ em trong nước không chỉ đang dùng mà là đang sống cùng Internet kèm theo các tác hại về cả thể chất lẫn tinh thần. Nhưng nếu chỉ dừng ở việc cảnh báo phụ huynh e là chưa đủ.
Chúng ta thường bắt đầu bằng một lập luận quen thuộc "Cha mẹ bận rộn, dễ dãi, giao điện thoại cho con như một cách giữ trẻ". Điều đó đúng nhưng chưa đầy đủ bởi thực tế vì nhiều lý do. Tuy nhiên có một yếu tố khác ít được nhắc đến chính là môi trường học tập đang góp phần hợp lý hóa việc trẻ gắn chặt với màn hình.
Là một người mẹ và làm trong lĩnh vực truyền thông tiếp thị, tôi hiểu rõ cách các nền tảng số vận hành, thu hút, giữ chân và dần hình thành thói quen sử dụng. Tôi đã cố gắng giải thích điều đó cho con mình bằng nhiều ví dụ nhưng thành thật mà nói nhiều khi đó chỉ là cách để tự trấn an.
Tôi nhớ giai đoạn dịch COVID-19, bé lớn lớp 2 phải học trực tuyến gần như cả ngày dưới sự hỗ trợ của ông bà ngoại. Ông bà cố gắng đọc cho cháu chép những bài tiếng Việt nhưng đến giờ học tiếng Anh cháu phải tự mình đọc trên màn hình toàn bộ nội dung của buổi học kéo dài chừng hai tiếng. Kết quả ngay khi quay lại TP.HCM, con bị cận.
Dù gia đình đã hạn chế việc sử dụng thiết bị điện tử và đặt ra nguyên tắc không mang điện thoại lên giường ngủ. Cả tôi và chồng đều không có bất kỳ tài khoản mạng xã hội nào cho nhu cầu cá nhân.
Nhưng các nguyên tắc đó dần trở nên mong manh khi cơn lốc số hóa lao tới: bài giảng, bài tập rồi các cuộc thi online từ học chính khóa đến bài tập bổ trợ, từ nội dung bắt buộc đến khuyến khích... hầu như mọi thứ đều diễn ra trên màn hình.
Hệ quả là gì? Một đứa trẻ học cả ngày ở trường, buổi tối tiếp tục học qua màn hình không còn thời gian nghỉ ngơi đúng nghĩa. Vậy là trẻ được hợp thức hóa việc sử dụng thiết bị số như một phần tất yếu của cuộc sống mà phụ huynh hầu như không thể từ chối!
Chúng ta nói không thể giao trẻ em cho mạng xã hội nhưng thực tế có những lúc chính gia đình lẫn nhà trường đã vô tình dẫn trẻ đến đó. Chẳng hạn khi bé lớn nhà tôi lên cấp II nhà trường có quy định "cấm học sinh mang điện thoại đi học". Tôi rất vui và tán đồng quy định này của trường. Tuy nhiên lịch học và làm bài tập online vẫn dày đặc thời khóa biểu tại nhà.
Khoảng cách giữa học tập và chơi gần như không còn. Từ học online đến mạng xã hội chỉ là một bước rất ngắn. Ban đầu là học, sau đó là nhóm rồi đến các cuộc trò chuyện ngoài bài vở. Và ở độ tuổi này trẻ bước vào thế giới mạng xã hội với đầy đủ sắc thái hành vi rất nhanh thôi.
Từ cập nhật tin tức, tìm kiếm thông tin cho bài học đến bắt trend, từ nghe nhạc giải trí cho tới đu thần tượng, từ đọc kỹ xem chậm chuyển sang nghe "review" và lướt nhanh... Càng phức tạp hơn khi tiếp theo đó là sự bắt chước của những đứa bé hơn trong nhà.
Nên nếu đặt toàn bộ trách nhiệm lên phụ huynh khi trẻ mắc kẹt trong màn hình, tôi cho rằng là cách tiếp cận không chỉ thiếu công bằng mà còn tạo nhiều khoảng trống. Trẻ em đang sử dụng Internet không chỉ để giải trí mà còn vì yêu cầu học tập. Nhà trường, nền tảng số và áp lực thành tích đang cùng tồn tại trong một hệ sinh thái.
Nếu không nhìn thẳng vào vai trò của hệ thống giáo dục, nếu không đặt lại ranh giới của việc học online thì mọi lời khuyên dành cho phụ huynh sẽ chỉ dừng lại ở mức khuyến nghị. Một khi việc học đã gắn chặt với màn hình thì việc cha mẹ có thể tách trẻ khỏi mạng xã hội gần như trở thành một cuộc chiến đơn độc. Phụ huynh nhiều khi không thể và cũng không có quyền lựa chọn thực sự.
Và những đứa trẻ, trong đó có con tôi, sẽ tiếp tục lớn lên trong một thế giới mà màn hình không còn là lựa chọn mà là điều mặc định.