Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa rộng hơn 8.800 m2, nổi bật với màu xanh da trời đang hoàn thiện những công đoạn cuối.
Cách trung tâm thành phố khoảng 12 km, Bình Hưng Hòa từng là nghĩa trang lớn nhất TP HCM (53 ha), xây dựng trước năm 1975 với khoảng 70.000 ngôi mộ. Công tác bồi thường và di dời dân cư bắt đầu từ năm 2014 với mục tiêu cải thiện mỹ quan, giải quyết các vấn đề về môi trường và an ninh trật tự.
Nơi đây được đề xuất cải tạo thành trường học, công viên thay vì dành một phần để làm dự án thương mại.
Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa rộng hơn 8.800 m2, nổi bật với màu xanh da trời đang hoàn thiện những công đoạn cuối.
Cách trung tâm thành phố khoảng 12 km, Bình Hưng Hòa từng là nghĩa trang lớn nhất TP HCM (53 ha), xây dựng trước năm 1975 với khoảng 70.000 ngôi mộ. Công tác bồi thường và di dời dân cư bắt đầu từ năm 2014 với mục tiêu cải thiện mỹ quan, giải quyết các vấn đề về môi trường và an ninh trật tự.
Nơi đây được đề xuất cải tạo thành trường học, công viên thay vì dành một phần để làm dự án thương mại.
Khối nhà có ba tầng với 30 phòng học cùng các phòng chức năng, khu hành chính, sân chơi.
Khối nhà có ba tầng với 30 phòng học cùng các phòng chức năng, khu hành chính, sân chơi.
Khu hành lang rộng, nối liền 4 dãy phòng, giúp học sinh, giáo viên đi lại thuận tiện.
Khu hành lang rộng, nối liền 4 dãy phòng, giúp học sinh, giáo viên đi lại thuận tiện.
Bàn ghế, bảng đã được trang bị cho các phòng học. Ngoài bảng viết dùng phấn còn có bảng tương tác 65 inch để thầy trò tăng trải nghiệm trong các bài học.
Bàn ghế, bảng đã được trang bị cho các phòng học. Ngoài bảng viết dùng phấn còn có bảng tương tác 65 inch để thầy trò tăng trải nghiệm trong các bài học.
Bốn phòng máy tính, 4 phòng học tiếng Anh, thư viện, phòng âm nhạc, thể chất…, đang được lắp đặt các trang thiết bị.
Bốn phòng máy tính, 4 phòng học tiếng Anh, thư viện, phòng âm nhạc, thể chất…, đang được lắp đặt các trang thiết bị.
Bốn phòng máy tính, 4 phòng học tiếng Anh, thư viện, phòng âm nhạc, thể chất…, đang được lắp đặt các trang thiết bị.
Hội trường được bài trí đơn giản, gọn gàng.
Hội trường được bài trí đơn giản, gọn gàng.
Công nhân hoàn thiện hệ thống đèn, dọn dẹp, dự kiến hoàn tất những công đoạn cuối trong tháng 4.
Công nhân hoàn thiện hệ thống đèn, dọn dẹp, dự kiến hoàn tất những công đoạn cuối trong tháng 4.
Công nhân hoàn thiện hệ thống đèn, dọn dẹp, dự kiến hoàn tất những công đoạn cuối trong tháng 4.
Sân trường có các chậu, hố trồng cây để tạo không gian xanh.
Sân trường có các chậu, hố trồng cây để tạo không gian xanh.
Bức họa chân dung giáo sư – viện sĩ Trần Đại Nghĩa, truyền cảm hứng về tinh thần học tập, sáng tạo, yêu nước…
Bức họa chân dung giáo sư – viện sĩ Trần Đại Nghĩa, truyền cảm hứng về tinh thần học tập, sáng tạo, yêu nước…
Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa dự kiến khánh thành vào ngày 19/5, tuyển sinh trong đầu tháng 6 với khoảng 10 lớp 1, đồng thời tiếp nhận học sinh trên địa bàn và các khu vực lân cận.
Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa dự kiến khánh thành vào ngày 19/5, tuyển sinh trong đầu tháng 6 với khoảng 10 lớp 1, đồng thời tiếp nhận học sinh trên địa bàn và các khu vực lân cận.
Trường mầm non 10 hiện đang hoạt động với nhiều cơ sở nhỏ lẻ, phân bố rải rác trên địa bàn phường Nhiêu Lộc. Các điểm trường chủ yếu là nhà phố có diện tích hạn chế, đã xuống cấp, thiếu các hạng mục phụ trợ và sân chơi, chưa đáp ứng tiêu chuẩn trường mầm non cũng như nhu cầu dạy và học của trường.
Kế thừa dự án do UBND quận 3 cũ thực hiện, dự án xây dựng mới Trường mầm non 10 là một trong các công trình trọng điểm của Đại hội Đảng bộ phường Nhiêu Lộc nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Quy mô dự án có 4 tầng, gồm khối nhà chính và các hạng mục phụ với tổng vốn đầu tư 164,13 tỉ đồng, dự kiến hoàn thành trong 12 tháng xây dựng.
Đây không chỉ là một công trình xây dựng mà còn là sự khởi đầu cho một môi trường giáo dục hiện đại, nhân văn dành cho thế hệ mầm non của thành phố tại phường Nhiêu Lộc.
Qua đó tạo môi trường cho trẻ được học tập, vui chơi an toàn, thân thiện, góp phần giảm tải áp lực cho hệ thống giáo dục mầm non hiện hữu, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Trên nền tảng Xiaohongshu, từ khóa "TOPIK" cho ra hơn 87,5 triệu kết quả, chủ yếu là các dịch vụ "đảm bảo điểm số", "bao đỗ", cùng nhiều bài viết về gian lận trong kỳ thi.
Đây là kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Hàn, được dùng trong tuyển sinh đại học, xét tốt nghiệp, tuyển dụng và cấp thị thực ở Hàn Quốc. Bài thi gồm ba phần: nghe, đọc, viết với 6 cấp độ.
Phóng viên tờ The Korea Herald trong vai người mua đã tiếp cận một "cò mồi" và nhận được bảng giá gây sốc: Dịch vụ tai nghe siêu nhỏ (khoảng 1mm) để hỗ trợ 1 kèm 1 trong phòng thi giá 20.000 nhân dân tệ (77 triệu đồng); đề thi 25.000-35.000 nhân dân tệ, tùy thời điểm. Đáp án có thể được cung cấp trước 6, 8, 12 giờ. Người môi giới khẳng định nguồn đề từ "nhân viên tại điểm thi ở Hàn Quốc.
Nghi vấn càng gia tăng khi một thí sinh dự kỳ thi TOPIK vào tháng trước cho biết một số đáp án lan truyền trên Xiaohongshu trùng đề thi thật.
Cùng thời điểm, tại một điểm thi ở Hàn Quốc, Viện Giáo dục quốc tế Hàn Quốc (NIIED) xác nhận một thí sinh đã có đáp án từ trước, bị hủy tư cách dự thi và chuyển cho cảnh sát.
NIIED thừa nhận một "kẽ hở" dẫn đến tình trạng này, là thứ tự tổ chức thi giữa các châu lục.
Kỳ thi diễn ra tại Mỹ, châu Âu, châu Phi vào thứ bảy, sau đó tới châu Á vào chủ nhật. Vì thế, các thí sinh thi sớm có thể ghi nhớ và truyền lại nội dung cho người thi sau. Dù đề thi không giống 100%, nhưng vẫn có sự tương đồng về câu hỏi.
"Chúng tôi nhận thức được những gì đang diễn ra trên mạng xã hội", một quan chức thuộc Trung tâm TOPIK của NIIED, nói. "Số thí sinh tăng lên và nhiều nơi chấp nhận chứng chỉ này hơn dẫn đến các hành vi gian lận gia tăng".
Theo nghị sĩ Kim Dae-sik, số vụ gian lận đang tăng, lên tới hơn 1.600 trong giai đoạn 2020-2024. Trong đó, nhóm sử dụng thiết bị liên lạc trái phép nhiều nhất (488 vụ), tiếp theo là thi hộ và các hình thức liên quan.
Bộ Giáo dục Hàn Quốc cho biết sẽ phối hợp với cơ quan điều tra để xử lý các thí sinh vi phạm. Đồng thời, cơ quan này dự kiến giảm mức độ tương đồng giữa đề thi ở các châu lục, nhằm hạn chế rò rỉ do chênh lệch múi giờ, kể từ tháng 7.
Hàn Quốc là điểm đến du học hấp dẫn tại châu Á, đạt kỷ lục hơn 300.000 sinh viên quốc tế vào năm ngoái.
Tôi từng nghe một người mẹ thở dài: "Không cho con dùng điện thoại thì sợ tụt lại việc học, mà cho dùng thì sợ nó lạc vào những thứ mình không kiểm soát nổi". Đó có lẽ là nỗi niềm không của riêng ai.
Trong những ngày gần đây, đề xuất hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội được đưa ra, xuất phát từ những lo ngại rất thật: bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nghiện mạng… Những điều ấy không còn là cảnh báo xa xôi, mà đã hiện diện trong đời sống mỗi gia đình.
Song, nhìn kỹ, ta sẽ thấy mình đang đứng trước một nghịch lý: chính những nền tảng mà người lớn muốn "cấm", lại đang là công cụ học tập quen thuộc của trẻ. Lớp học hôm nay không còn gói gọn trong bốn bức tường. Bài tập được giao qua Zalo, thảo luận nhóm trên Facebook, tài liệu chia sẻ qua các ứng dụng nhắn tin.
Một học sinh nếu bị "cắt mạng", đôi khi cũng đồng nghĩa bị cắt khỏi dòng chảy học tập. Vậy nên, câu chuyện không còn đơn giản là "có nên cấm hay không" mà là câu chuyện của một thời đại mà ranh giới giữa học và chơi, giữa hữu ích và độc hại, không còn rõ ràng.
Tôi nghĩ, nỗi lo của người lớn là có thật. Nhưng phản xạ "cấm" nhiều khi lại là một phản xạ bản năng: khi không kiểm soát được, ta muốn loại bỏ. Thực ra, với không gian số, điều đó gần như không thể.
Trẻ em hôm nay không lớn lên trong một thế giới "có Internet", mà là một thế giới "chính là Internet". Các em không bước vào không gian số, mà đang sống trong đó. Vì vậy cấm đoán không phải là dựng một hàng rào, mà giống như yêu cầu các em không bước ra khỏi một thực tại vốn đã gắn liền với mình.
Và điều đáng nói hơn những gì bị cấm tuyệt đối, thường lại trở nên hấp dẫn hơn. Một đứa trẻ không được giải thích, không được trang bị, chỉ đơn thuần bị ngăn lại, rất dễ tìm cách đi vòng. Dùng tài khoản khác, mượn thiết bị khác, hoặc đơn giản là giấu đi. Khi đó, người lớn không còn kiểm soát được, mà trẻ cũng không có kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Theo đó, nguy cơ không biến mất mà chỉ trở nên khó thấy hơn. Thực tế, nếu cấm đoán một cách cứng nhắc, chúng ta còn đối diện với một hệ quả khác: bất bình đẳng.
Một học sinh ở thành phố có nhiều thiết bị, nhiều kênh tiếp cận, có thể dễ dàng tìm cách thay thế. Nhưng một học sinh ở vùng khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào những nền tảng phổ biến để nhận bài, trao đổi với thầy cô, có thể bị "rơi ra ngoài" chỉ vì một quyết định hành chính. Khi đó, câu chuyện không còn là bảo vệ trẻ em, mà là vô tình tạo thêm khoảng cách.
Nhưng nếu không cấm, thì làm gì? Có lẽ, câu trả lời không nằm ở một biện pháp duy nhất, mà ở một cách tiếp cận khác: từ "bảo vệ bằng rào cản" sang "bảo vệ bằng năng lực". Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, hãy giúp trẻ biết cách tự kiểm soát.
Một đứa trẻ biết nhận diện lừa đảo, biết phân biệt thông tin thật/giả, biết dừng lại khi thấy mình đang bị cuốn vào những nội dung vô nghĩa… sẽ an toàn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ chỉ đơn thuần bị cấm. Điều này không thể đến từ một bài giảng đạo đức, mà cần được thực hành.
Trong gia đình, cha mẹ không chỉ là người giám sát, mà cần trở thành người đồng hành. Không phải là "đừng dùng", mà là "con đang xem gì vậy?", "con nghĩ gì về điều này?". Một cuộc trò chuyện mở, nhiều khi hiệu quả hơn cả một ứng dụng kiểm soát.
Ở trường học, kỹ năng số không nên chỉ là một khái niệm, mà cần trở thành một phần của giáo dục thực chất: cách ứng xử khi bị bình luận tiêu cực, cách bảo vệ thông tin cá nhân, cách quản lý thời gian sử dụng.
Về phía chính sách, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm lên gia đình và nhà trường, cần buộc các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm hơn: chế độ tài khoản dành riêng cho trẻ em, kiểm soát nội dung, giới hạn thời gian, giảm các thuật toán gây nghiện. Bởi suy cho cùng, một đứa trẻ không thể chống lại cả một hệ thống được thiết kế để giữ chân người dùng.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ chúng ta nên tự đặt ra: chúng ta muốn con mình "không dùng mạng", hay muốn con mình "biết dùng mạng"? Hai điều đó rất khác nhau.
Theo đó, một đứa trẻ không dùng mạng có thể an toàn trong một giai đoạn. Nhưng một đứa trẻ biết dùng mạng - biết chọn lọc, biết dừng lại, biết tự bảo vệ - mới có thể đi đường dài trong một thế giới mà công nghệ là điều không thể tách rời.
Chúng ta không thể đi thay con cả đời, nhưng chúng ta có thể dạy con cách đi. Có thể, thay vì hỏi "có nên cấm hay không", chúng ta nên hỏi một câu khác: con mình đang ở đâu trong thế giới số và mình đã ở đó cùng con chưa?
Điều trẻ cần không phải là một lệnh cấm, mà là một người lớn đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, lắng nghe và đi cùng. Trong một thế giới ngày càng nhiều kết nối, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tắt đi một cánh cửa, mà là dạy nhau cách bước qua nó một cách an toàn.