Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Quang Khải, Khoa Phẫu thuật Thận Tiết niệu – Nam học, Bệnh viện E, cho biết thận đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng với cơ thể. Do đó, khi cơ thể có bất thường, thận sẽ có dấu hiệu cảnh báo.
Tuy nhiên, suy thận mạn tính là bệnh diễn biến âm thầm, không có triệu chứng nên bệnh nhân ở những giai đoạn sớm có thể không biểu hiện biệt. Khi đã có biểu hiện triệu chứng thì thường đã ở những giai đoạn muộn, dẫn đến điều trị bệnh trở nên khó khăn và hiệu quả thấp.
Bác sĩ chỉ ra một số dấu hiệu buổi đêm cảnh báo nguy cơ bệnh thận, như sau:
Tiểu đêm nhiều
Ở người bình thường, tần suất đi vệ sinh từ 0–1 lần mỗi đêm. Khi thận yếu, mất khả năng cô đặc nước tiểu dẫn đến tiểu đêm nhiều. Tiểu nhiều là tiểu trên 10 lần vào ban ngày và trên ba lần vào ban đêm. Nếu tình trạng này kéo dài, người bệnh nên sớm tới thăm khám tại các bệnh viện có chuyên khoa tiết niệu để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Bác sĩ sẽ chỉ định xét nghiệm máu, tổng phân tích nước tiểu và siêu âm hệ tiết niệu để sàng lọc tìm nguyên nhân.
Lưu ý, nước tiểu bất thường (thường thấy rõ buổi tối) như nhiều bọt (protein niệu), sẫm màu, có máu…là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ tổn thương cầu thận.
Phù nhẹ rõ hơn về chiều tối hoặc ban đêm: Nhiều trường hợp bị sưng chân, mắt cá, mí mắt, đi giày dép chật hơn vào buổi tối. Không phải phù là do thận 100%, song phù và tiểu đêm nhiều là dấu hiệu cảnh báo, cần đi kiểm tra.
Khó thở hoặc hồi hộp khi nằm: Nằm xuống thấy tức ngực, khó thở, nguy cơ ứ dịch, ảnh hưởng phổi hoặc rối loạn điện giải (đặc biệt kali). Đây là dấu hiệu nặng, cần đi khám sớm
Ngứa da, khô da về đêm: Ngứa tăng về đêm, bôi dưỡng ẩm không đỡ có thể do tích tụ ure và độc chất trong máu.
Đau lưng vùng thận (tăng khi nằm): Đau âm ỉ vùng hông lưng, có thể do sỏi thận, viêm thận, bể thận. Đau thận thường không cải thiện khi nghỉ ngơi, xoa bóp hoặc kéo giãn.
Mất ngủ, chuột rút đêm (ít đặc hiệu hơn): Do rối loạn điện giải, tích độc chất.
Cách tốt nhất là chủ động đi khám kiểm tra sức khỏe định kỳ và tầm soát bệnh thận ít nhất một lần mỗi năm. Khi có những dấu hiệu, triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh thận như mệt mỏi, xanh xao, ăn uống kém, buồn nôn và nôn, rối loạn tiểu tiện… cần đi kiểm tra. “Tuyệt đối không tự điều trị theo phương pháp trên mạng”, bác sĩ nói.
Ngoài ra, mọi người cần thực hiện lối sống lành mạnh, ăn cân bằng, uống đủ nước, không ăn mặn, hạn chế đồ ăn nhanh và lạm dụng thức uống có cồn, nói không với thuốc lá. Tập thể dục thể thao hàng ngày tùy theo tình trạng sức khỏe từng cá nhân. Điều trị triệt để các bệnh lý cấp tính như nhiễm khuẩn đường hô hấp, nhiễm khuẩn ngoài da, nhiễm trùng đường tiết niệu…
Tránh sử dụng thuốc bừa bãi đặc biệt là các thuốc không cần kê đơn, thuốc thảo dược không rõ nguồn gốc. Không nên sử dụng chất kích thích (cà phê, trà, rượu bia, thuốc lá) vào buổi tối, gây căng thẳng thần kinh, mất ngủ.
Nhiều người có thói quen cho trực tiếp cơm thừa vào ngăn mát tủ lạnh nhưng các chuyên gia cảnh báo hành động này có thể tiềm ẩn rủi ro về an toàn thực phẩm. Bác sĩ Yên Tông Hải, Giám đốc Trung tâm Độc chất lâm sàng tại Bệnh viện Trường Canh (Đài Loan), cho hay vi khuẩn Bacillus cereus từng gây ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn tại các trường học. Hầu hết trường hợp này đều liên quan đến việc bảo quản không đúng cách các loại thực phẩm chứa tinh bột như cơm và các suất cơm hộp. Điểm mấu chốt không nằm ở việc chọn ngăn mát hay ngăn đá, mà là thời điểm đưa cơm vào tủ lạnh.
Trước những ý kiến nói không nên để cơm trắng trong ngăn mát, nhiều chuyên gia trong ngành gạo cho rằng cách tối ưu để xử lý cơm thừa là cho vào hộp kín và bảo quản trên ngăn đá. Họ giải thích nhiệt độ ngăn mát thường không đủ lạnh để bảo quản cơm hoàn hảo, khiến hạt cơm dễ bị ám mùi thực phẩm và mất đi độ ẩm bề mặt, dẫn đến kết cấu khô cứng, kém ngon. Cách làm lý tưởng là chia nhỏ cơm vào các hộp chuyên dụng và đưa vào ngăn đá ngay khi cơm còn tươi ngon.
Lò vi sóng là cách tốt nhất để giúp cơm đông lạnh lấy lại độ dẻo ngon như lúc mới nấu. Khi sử dụng cách này, cơm không cần phải rã đông trước; chỉ cần xịt một chút nước lên bề mặt rồi quay ở mức công suất 500W trong khoảng 3 phút 30 giây. Ngoài ra, việc sử dụng nồi cơm điện để hấp lại cơm trong khoảng 15 đến 20 phút cũng là một lựa chọn phù hợp.
Theo bác sĩ Yên, việc chỉ đơn thuần bỏ đồ ăn vào ngăn đá không giúp thực phẩm an toàn hơn một cách tuyệt đối. Mấu chốt nằm ở cách lưu trữ, nghĩa là thực phẩm sau khi nấu chín cần được đưa vào tủ lạnh càng sớm càng tốt. Nếu cơm trắng bị để ở nhiệt độ phòng suốt nhiều giờ mới mang đi cất, có thể vi khuẩn Bacillus cereus đã kịp sinh sôi và tiết ra độc tố. Khi đó, dù ngày hôm sau có mang cơm đi hấp lại, hâm nóng hay rang lên thì nhiệt độ cao cũng không thể tiêu diệt được những độc tố gây hại này.
Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Bacillus cereus được chia làm hai dạng chính. Dựa trên các tài liệu giáo dục sức khỏe của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Đài Loan, loại ngộ độc này gồm dạng gây nôn và gây tiêu chảy. Trong đó, dạng gây nôn chủ yếu liên quan đến thực phẩm chứa tinh bột và các món làm từ gạo.
Người bệnh thường có triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, đau bụng và các cảm giác khó chịu khác. Thời gian ủ bệnh khá ngắn, các triệu chứng thường xuất hiện chỉ sau khoảng 30 phút đến 6 giờ. Tại Đài Loan, hầu hết vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn liên quan đến suất ăn trường học trước đây đều bắt nguồn từ việc bảo quản cơm không đúng cách, dẫn đến sự xâm nhập của vi khuẩn Bacillus cereus.
Dạng ngộ độc gây tiêu chảy thường bắt nguồn từ nguồn thực phẩm đa dạng hơn. Bác sĩ cho biết khác với dạng gây nôn, loại ngộ độc do vi khuẩn Bacillus cereus dẫn đến tiêu chảy có thời gian ủ bệnh tương đối dài. Các loại thực phẩm dễ kích hoạt triệu chứng tiêu chảy rất phong phú, từ xúc xích, các loại nước sốt, nước dùng đến mứt, salad và bánh pudding.
Bác sĩ Yên nhấn mạnh một số độc tố do vi khuẩn Bacillus cereus tiết ra có khả năng chịu nhiệt cực tốt, và đây cũng chính là nguồn gốc của "hội chứng cơm rang". Loại độc tố gây nôn bền bỉ đến mức một khi cơm đã bị nhiễm khuẩn, dù có mang đi hâm nóng hay rang lại ở nhiệt độ cao, độc tố vẫn tồn tại mà không bị phá hủy.
Ông giải thích thêm nhiệt độ trong ngăn mát tủ lạnh thường duy trì ở mức 4 độ C. Mức nhiệt này chỉ có tác dụng ức chế sự phát triển của vi sinh vật chứ không thể tiêu diệt được vi khuẩn. Nếu cơm đã nhiễm độc tố gây nôn của vi khuẩn Bacillus cereus, loại độc tố này sẽ trở nên cực kỳ "lì lợm" và không thể bị loại bỏ bằng các phương pháp hâm nóng thông thường.
Theo bác sĩ Yên, trong y học có một khái niệm gọi là "vùng nhiệt độ nguy hiểm", cụ thể là từ 7 độ C đến 60 độ C. Hầu hết loại vi sinh vật gồm tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), vi khuẩn E. coli, Bacillus cereus và Salmonella, đều có thể dễ dàng sinh sôi và nhân bản nhanh chóng trong khung nhiệt độ này.
Nhiệt độ trung bình trong nhà thường rơi vào khoảng 20 độ C, hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt độ nguy hiểm trên. Vì vậy, lý tưởng nhất là cất cơm vào tủ lạnh trong vòng một giờ vào mùa hè và hai giờ vào mùa đông. Việc duy trì nhiệt độ tủ lạnh ở mức khoảng 4 độ C sẽ giúp thực phẩm tránh được vùng nguy hiểm, từ đó giảm đáng kể nguy cơ nhiễm khuẩn Bacillus cereus.
Việc phân cấp phân quyền này được quy định tại Nghị quyết 21/2026 về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế do Chính phủ vừa ban hành. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 29/4/2026, trong đó nội dung phân cấp thẩm quyền bắt đầu áp dụng từ ngày 1/7, đánh dấu bước thay đổi lớn trong cơ chế quản lý lĩnh vực khám chữa bệnh.
Cụ thể, Chủ tịch UBND cấp tỉnh sẽ thực hiện toàn bộ các thủ tục liên quan đến giấy phép hành nghề, bao gồm cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ và thu hồi. Quy định này cũng áp dụng với các chứng chỉ hành nghề đã được cấp trước đây.
Hiện nay, Bộ Y tế cấp giấy phép hành nghề cho các chức danh chuyên môn làm việc tại bệnh viện trực thuộc bộ, trong khi UBND cấp tỉnh cấp phép cho nhân sự tại địa phương.
Như vậy, từ 1/7, Bộ Y tế không còn trực tiếp cấp giấy phép hành nghề cho đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng và các chức danh chuyên môn khác. Thẩm quyền được giao thống nhất về địa phương nhằm tăng tính chủ động trong quản lý và giảm tải cho cơ quan trung ương.
Bộ Y tế vẫn giữ một số quyền hạn như cấp mới giấy phép hoạt động khám chữa bệnh, điều chỉnh danh mục kỹ thuật đặc biệt đối với bệnh viện tư nhân. Bộ cấp và điều chỉnh giấy phép hoạt động cho các bệnh viện trực thuộc bộ; đồng thời xem xét việc bổ sung kỹ thuật mới, phương pháp mới trên phạm vi toàn quốc.
Bên cạnh việc phân cấp, nghị quyết cũng đặt mục tiêu đơn giản hóa và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực khám chữa bệnh. Ví dụ, đối với thủ tục cấp mới giấy phép hoạt động khám chữa bệnh, cơ quan có thẩm quyền phải tổ chức thẩm định trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ và nếu đủ điều kiện thì phải cấp giấy phép trong 10 ngày làm việc kể từ ngày có biên bản thẩm định.
Ngoài ra, đối với thủ tục điều chỉnh giấy phép hoạt động, nghị quyết cũng quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ, thời gian yêu cầu bổ sung, cũng như thời hạn giải quyết sau khi hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm quy trình minh bạch và có mốc thời gian cụ thể.
Cà phê là một trong những loại đồ uống phổ biến và được ưa chuộng trên thế giới. Bên cạnh khả năng giúp tăng năng lượng, cà phê cũng có thể tác động đến nhiều loại hormone trong cơ thể.
Làm tăng cortisol tạm thời
Uống cà phê dù chỉ với lượng vừa phải cung cấp khoảng 80-120 mg caffeine, có thể làm tăng mức cortisol (hormone căng thẳng) lên tới 50% so với mức cơ bản. Sự gia tăng này chỉ mang tính tạm thời và thường rõ rệt hơn ở người không thường xuyên uống cà phê.
Điều này thường không đáng lo ngại vì nồng độ cortisol vốn dao động tự nhiên trong ngày, còn sự gia tăng sau khi uống cà phê buổi sáng chỉ mang tính tạm thời. Tuy nhiên, nếu lo ngại về mức cortisol, bạn có thể giảm lượng caffeine bằng cách uống ít hơn hoặc chọn cà phê không caffeine.
Ảnh hưởng đến phản ứng insulin
Cà phê có thể làm tăng insulin (hormone giúp điều hòa đường huyết) trong thời gian ngắn, đặc biệt ngay sau khi uống. Tuy nhiên, tiêu thụ ở mức vừa phải trong thời gian dài có thể hỗ trợ sức khỏe chuyển hóa tổng thể ở nhiều người. Phản ứng insulin phụ thuộc vào cơ địa, mức độ căng thẳng và cách bạn uống cà phê (uống cafe đen hay thêm sữa, đường). Yếu tố di truyền cũng ảnh hưởng đến cách cơ thể chuyển hóa caffeine, từ đó quyết định cà phê có lợi hay bất lợi cho kiểm soát đường huyết.
Ảnh hưởng đến chuyển hóa estrogen
Cà phê có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa estrogen trong cơ thể, tuy nhiên tác động này có lợi hay không còn tùy thuộc vào sự cân bằng hormone tổng thể. Với những người có tình trạng estrogen chiếm ưu thế (tức nồng độ estrogen cao hơn progesterone), ảnh hưởng này có thể mang lại lợi ích nhất định. Một số nghiên cứu cho thấy cà phê có thể làm thay đổi cách cơ thể phân giải estrogen, từ đó góp phần giảm các triệu chứng hoặc tình trạng nhạy cảm liên quan đến hormone này.
Dù vậy, mục tiêu quan trọng là duy trì sự cân bằng hormone, không chỉ đơn thuần giảm estrogen. Khi được tiêu thụ ở mức hợp lý, cà phê có thể hỗ trợ nhẹ cho quá trình này.
Có thể ảnh hưởng đến testosterone
Ở một số người, uống cà phê chứa caffeine ở mức vừa phải có thể làm tăng testosterone trong thời gian ngắn. Sự gia tăng tạm thời này có thể lý giải vì sao một số người cảm thấy cải thiện hiệu suất tập luyện, tỉnh táo và có động lực hơn sau khi uống cà phê. Tuy nhiên, tiêu thụ quá nhiều caffeine, thiếu ngủ hoặc căng thẳng kéo dài có thể gây tác động ngược lại.
Cách uống cà phê giúp cân bằng hormone
Ảnh hưởng của cà phê lên hormone không hoàn toàn tích cực hay tiêu cực mà phụ thuộc vào cách sử dụng. Để hỗ trợ cân bằng hormone, bạn có thể điều chỉnh thói quen uống cà phê.
Trước hết, nên trì hoãn thời điểm uống vào buổi sáng. Sau khi thức dậy, cơ thể tự nhiên tăng tiết cortisol - hormone giúp tỉnh táo. Uống cà phê ngay lúc này có thể làm tăng thêm cortisol, dễ gây bồn chồn, lo âu hoặc mệt mỏi về sau. Bạn có thể chờ khoảng một giờ hoặc ăn sáng rồi mới dùng cà phê.
Ngoài ra, cần kiểm soát lượng và thời điểm tiêu thụ. Mức caffeine không vượt quá 400 mg mỗi ngày (tương đương 3-4 tách) được xem là hợp lý và ít gây xáo trộn sinh lý. Uống quá nhiều hoặc quá muộn trong ngày có thể ức chế melatonin, ảnh hưởng đến giấc ngủ. Tốt nhất nên hạn chế dùng caffeine sau buổi trưa để giữ nhịp sinh học ổn định.