TS.BS.CK2 Trà Anh Duy, Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men’s Health, nói xuất tinh ngoài là cách tránh thai không tốn chi phí và tạo cảm giác chủ động. Tuy nhiên, cơ thể con người không vận hành như một chiếc đồng hồ. Khi bị lạm dụng như biện pháp chính, rủi ro không chỉ dừng lại ở một lần chậm kinh khiến cả hai lo lắng.
Bản chất của phương pháp này là cho xuất tinh ở ngoài. Sự đơn giản khiến nhiều người tin tưởng, thậm chí xem là “tự nhiên” hơn so với bao cao su hay thuốc tránh thai. Nhưng chính điều đó dễ tạo ảo giác an toàn, khi nhiều người dựa vào kinh nghiệm “trước giờ vẫn ổn” thay vì đánh giá hiệu quả thực sự.
Trên thực tế, hiệu quả của xuất tinh ngoài thấp hơn nhiều người nghĩ. Theo American College of Obstetricians and Gynecologists, trong điều kiện thực tế, khoảng 22 trên 100 người sẽ có thai trong một năm. Ngay cả khi dùng đúng cách, vẫn có khoảng 4 trên 100 trường hợp mang thai.
Nghiên cứu của James Trussell cũng cho thấy tỷ lệ mang thai khoảng 20% trong năm đầu, cho thấy phương pháp này có độ rủi ro đáng kể.
“Một hiểu lầm phổ biến là chưa xuất tinh thì không có tinh trùng”, bác sĩ Duy nói. Thực tế, dịch trước xuất tinh vẫn có thể chứa tinh trùng. Nghiên cứu của Stephen Killick ghi nhận điều này, cho thấy rủi ro không chỉ nằm ở việc “rút ra kịp hay không”, mà còn ở yếu tố khó kiểm soát từ cơ thể.
Hệ lụy không chỉ là mang thai ngoài ý muốn mà còn kéo theo lo lắng, căng thẳng, mâu thuẫn và những quyết định khó khăn. Về lâu dài, phương pháp này tạo áp lực tâm lý cho cả hai, khiến trải nghiệm tình dục kém thoải mái, biến thành một cuộc “đánh cược”.
Xuất tinh ngoài không bảo vệ bạn khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục như HIV hay HPV. Nếu không dùng bao cao su, nguy cơ lây nhiễm vẫn tồn tại đầy đủ.
Phương pháp này trở nên nguy hiểm khi bị sử dụng lặp lại như lựa chọn chính, đặc biệt trong những tình huống khó kiểm soát. Chỉ một lần sai lệch cũng có thể khiến kế hoạch tránh thai thất bại, trong khi người dùng dễ hình thành cảm giác “an toàn” sau nhiều lần may mắn.
Ở góc nhìn y học, xuất tinh ngoài không phải hoàn toàn vô dụng, nhưng không đủ đáng tin để lạm dụng nếu chưa sẵn sàng có thai. Nó dễ thất bại, gây lo lắng kéo dài và không phòng được bệnh lây truyền. Trong mục tiêu tránh thai, cảm giác “chắc kịp” không thể thay thế một biện pháp an toàn hơn.
Ngày 2/5, đại diện Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết điển hình là một bé trai 6 tuổi chìm dưới ao của gia đình. Khi phát hiện, người nhà dốc ngược nạn nhân chạy vòng quanh khoảng hai phút rồi mới ép tim.
Sau khi tim đập trở lại, gia đình đưa bé đến y tế tuyến dưới rồi chuyển thẳng lên Bệnh viện Nhi Trung ương. Thời gian chìm lâu cùng thao tác dốc ngược làm mất "thời gian vàng", buộc các bác sĩ Khoa Điều trị tích cực Nội khoa phải cho trẻ thở máy và dùng thuốc chống phù não, hiện chưa rõ tiên lượng phục hồi.
Ngược lại, người lớn xử trí đúng cách đã giúp nhiều trẻ khác bảo toàn tính mạng. Một bệnh nhi 8 tuổi ở Ninh Bình ngạt nước khi tắm biển cùng gia đình. Người nhà nhanh chóng ép tim khoảng hai phút, giúp nhịp tim đập trở lại và đưa trẻ đi cấp cứu với chẩn đoán viêm phổi.
Một bé trai 3 tuổi ở Hà Nội cũng ngạt nước tại bể bơi du lịch nhưng thoát cửa tử nhờ mọi người xung quanh phát hiện, cấp cứu đúng cách. Hiện sức khỏe hai bệnh nhi này tiến triển tốt nhưng bác sĩ vẫn tiếp tục theo dõi tại viện.
Các chuyên gia nhấn mạnh nguyên nhân chính gây tử vong khi đuối nước là tình trạng não tổn thương do thiếu oxy. Não người chỉ chịu đựng thiếu oxy tối đa 4-5 phút. Vượt qua thời gian này, não sẽ tổn thương không hồi phục, gây tử vong hoặc để lại di chứng thần kinh. Do đó, nếu người lớn thực hiện hành động dốc ngược trẻ lên vai rồi chạy, nạn nhân sẽ đánh mất cơ hội sống hoặc chịu thêm tổn thương nặng nề.
Khi thấy trẻ chìm dưới nước, mọi người cần nhanh chóng đưa nạn nhân lên bờ, lay gọi để kiểm tra phản ứng. Nếu trẻ không thở, ngừng tim, người sơ cứu phải lập tức hồi sức tim phổi bằng cách thổi ngạt và ép tim ngoài lồng ngực.
Sau khi nạn nhân có dấu hiệu sinh tồn, người sơ cứu đặt trẻ nằm nghiêng ở tư thế an toàn, kê cao gối hai bên vai và nới rộng quần áo để phòng tránh ngạt thở trở lại. Cuối cùng, mọi người lau khô người, mặc đồ ấm cho trẻ và nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.
Ngày 15/5, bác sĩ Trịnh Thùy Liên thuộc Trung tâm Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương nói lúc nhập viện, niêm mạc họng người đàn ông viêm đỏ, đờm rãi ứ đọng nhiều làm chít hẹp khe thở thanh môn. Theo gia đình, người đàn ông thường xuyên nhai đá viên nhằm giải nhiệt nhanh sau những lúc chơi thể thao hoặc đi ngoài nắng.
Bác sĩ chẩn đoán người bệnh mắc áp xe quanh amidan trái thể dưới và viêm phù nề thanh thiệt cấp. Tình trạng nhiễm trùng diễn tiến nghiêm trọng, ổ áp xe lớn kèm theo các tổn thương vôi hóa gây hẹp vùng hầu họng cùng đường thở.
Ê kíp điều trị đánh giá đây là ca bệnh khó vì bệnh nhân đã lớn tuổi, ổ áp xe nằm ở vị trí phức tạp, đồng thời đường thở chít hẹp gần như hoàn toàn. Quá trình đặt ống qua đường miệng nhằm gây mê phẫu thuật đối mặt với nguy cơ thất bại cao. Dù vậy, sau 5 ngày điều trị tích cực, sức khỏe người bệnh đã cải thiện.
Bác sĩ Liên giải thích việc dùng nước đá lạnh đột ngột lúc cơ thể đang nóng tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ lớn tại vùng họng. Tình trạng này kích thích mạnh niêm mạc họng cùng amidan, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, gây viêm và hình thành ổ áp xe.
Chuyên gia khuyến cáo người dân từ bỏ thói quen nhai đá hay uống nước lạnh thường xuyên. Hành động này không chỉ ảnh hưởng tới răng miệng mà còn làm tăng nguy cơ viêm họng, viêm amidan kéo dài và dẫn đến các biến chứng như áp xe quanh amidan. Mọi người tuyệt đối không uống nước quá lạnh ngay sau khi đi nắng về, thay vào đó hãy dùng nước ấm hoặc nước lọc ở nhiệt độ phòng, uống từng ngụm nhỏ để cơ thể thích nghi dần.
Áp xe amidan thể dưới gây nguy hiểm lớn cho sức khỏe. Khi xuất hiện các dấu hiệu đau họng kèm khó nuốt, khó thở và sốt cao, mọi người cần đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa để bác sĩ thăm khám và can thiệp kịp thời, ngăn chặn nguy cơ suy hô hấp dẫn đến tử vong. Bác sĩ cũng lưu ý người dân tuyệt đối không tự mua thuốc điều trị tại nhà hoặc cố chịu đựng, tránh tình trạng ổ áp xe lan rộng gây tắc nghẽn đường thở lúc nhập viện.
Ngay khi tiếp nhận tại Khoa Cấp cứu, 2 bệnh nhi nuốt mủ hoa sứ được đánh giá nhanh tình trạng toàn thân, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn và mức độ ngộ độc.
Bác sĩ cấp cứu lập tức triển khai các biện pháp xử trí ban đầu như bù dịch, kiểm soát nôn ói nhằm ổn định tình trạng. Sau đó, bệnh nhân được chuyển đến Khoa Nhi để tiếp tục điều trị chuyên sâu.
Ngày 23.4, bác sĩ chuyên khoa 1 Trần Đăng Khoa, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á Vĩnh Long, cho biết các bệnh nhi được chỉ định sử dụng than hoạt nhằm hạn chế hấp thu độc chất còn lại trong đường tiêu hóa, đồng thời theo dõi chặt chẽ các biến chứng có thể xảy ra trên tim mạch, thần kinh và tiêu hóa.
Theo bác sĩ Khoa, đáng chú ý đây không phải là trường hợp cá biệt mà trước đó đã ghi nhận các ca tương tự tại địa phương, cho thấy nguy cơ ngộ độc từ loại cây cảnh quen thuộc này đang bị xem nhẹ.
Theo bác sĩ Khoa, hoa sứ đặc biệt là sứ Thái (còn gọi là sứ sa mạc), chứa nhóm hoạt chất glycosid tim - một loại độc chất có khả năng tác động trực tiếp lên cơ tim. Độc tính hiện diện ở toàn bộ cây, từ mủ, thân, lá đến hoa. Khi xâm nhập vào cơ thể, các chất này không chỉ gây kích ứng niêm mạc tiêu hóa với biểu hiện nôn ói, đau bụng mà còn có thể ảnh hưởng đến hệ tim mạch, gây rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp. Trong những trường hợp nặng, nguy cơ biến chứng có thể đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.
Điều đáng lo ngại là mủ hoa sứ có màu trắng đục như sữa, dễ khiến trẻ nhỏ tò mò, trong khi hoa có hình dạng đẹp mắt, dễ bị nhầm lẫn là có thể ăn được. Những yếu tố nguy cơ này tồn tại ngay trong không gian sống quen thuộc như sân vườn, nhưng lại thường bị người lớn chủ quan bỏ qua.
Bác sĩ Khoa cũng khuyến cáo phụ huynh cần đặc biệt lưu ý không để trẻ chơi gần cây sứ, nhất là khi cây vừa bị cắt tỉa; hướng dẫn trẻ không chạm vào mủ cây, không đưa tay hoặc vật lạ vào miệng; khi phát hiện trẻ có biểu hiện bất thường như nôn ói, đau đầu sau khi tiếp xúc hoặc nghi nuốt phải mủ cây, cần nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời; tuyệt đối không tự ý áp dụng các biện pháp truyền miệng.