Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ngày 17/4 chào đón Thủ tướng Đức Friedrich Merz, Thủ tướng Anh Keir Starmer và Thủ tướng Italy Giorgia Meloni tới Paris dự hội nghị thảo luận về biện pháp triển khai lực lượng đa quốc gia nhằm đảm bảo tự do hàng hải tại eo biển Hormuz. Gần 30 lãnh đạo các quốc gia khác dự hội nghị theo hình thức trực tuyến.
Một trong những khoảnh khắc gây chú ý nhất tại sự kiện là khi Tổng thống Macron đón và ôm hôn, chào hỏi bà Meloni. Video về màn chào hỏi giữa hai lãnh đạo lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội, thu hút hàng triệu lượt xem.
Khi đón bà Meloni bước từ xe xuống, ông Macron tiến tới gần, chủ động ôm bà và hôn vào hai bên má theo nghi thức chào hỏi truyền thống của người Pháp. Tuy nhiên, bà Meloni dường như thể hiện sự ngạc nhiên trước thái độ nồng nhiệt của ông Macron, thậm chí hơi nghiêng người như thể đang né tránh.
Người dùng mạng xã hội phản ứng trái chiều về khoảnh khắc này, trong đó một số người mô tả đó là cảm giác gượng gạo, khó xử của bà Meloni. Tuy nhiên, những người khác lại cho rằng đó là cách hai lãnh đạo phản ứng hết sức bình thường.
“Chẳng có gì khó xử cả. Ông ấy nói điều gì đó rất hài hước và bà ấy phản ứng lại. Chỉ vậy thôi”, một tài khoản bình luận.
“Ông ấy có vẻ rất vui khi gặp Thủ tướng Italy và có lẽ họ đã nói đùa”, tài khoản khác viết.
Tổng thống Macron và Thủ tướng Italy hồi tháng 2 từng xảy ra tranh cãi liên quan sự việc gây chết người ở Pháp.
Quentin Deranque, công dân Pháp 23 tuổi, khi đó tử vong do chấn thương đầu sau khi bị ít nhất 6 người tấn công bên lề cuộc biểu tình của phe cực hữu tại một trường đại học ở thành phố Lyon. Hầu hết trong số 11 nghi phạm bị bắt đều là những người thuộc các phong trào cực tả.
Thủ tướng Italy nói cái chết của Deranque là “vết thương cho toàn châu Âu”. Tổng thống Pháp lập tức trả rằng “hãy để mọi người tự lo việc của mình”, đồng thời kêu gọi bà Meloni “ngừng bình luận về những gì đang xảy ra ở quốc gia khác”.
Hồi tháng 7 năm ngoái, bà Meloni và ông Macron cũng có khoảnh khắc gây chú ý khi dự hội nghị G7 ở Canada. Video tại sự kiện cho thấy Thủ tướng Italy nghiêng người về phía Tổng thống Pháp để nghe ông nói điều gì đó. Bà Meloni sau đó trợn tròn mắt, thể hiện biểu cảm ngạc nhiên, gây nhiều đồn đoán về câu nói của ông Macron. Hai lãnh đạo sau đó không tiết lộ về nội dung trao đổi của mình.
Tờ The Wall Street Journal ngày 10.4 dẫn lời các quan chức Mỹ cho biết cộng đồng tình báo đánh giá rằng Iran vẫn có thể triển khai sử dụng nhiều tên lửa đạn đạo sau 6 tuần chiến sự.
Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth tuần này nói rằng chương trình tên lửa của Iran đã "bị phá hủy về mặt chức năng", với số lượng bệ phóng và tên lửa "bị cạn kiệt, suy giảm nghiêm trọng và gần như hoàn toàn không hiệu quả".
Tuy nhiên, các báo cáo tình báo của Mỹ cho thấy Iran có thể khôi phục lại một phần lực lượng tên lửa. Mặc dù một nửa số bệ phóng tên lửa của Iran đã bị phá hủy, hư hại hoặc bị mắc kẹt dưới đống đổ nát, nhưng nhiều bệ phóng có thể được sửa chữa và đưa ra từ các địa điểm ngầm.
Các quan chức Mỹ và Israel cũng được trích dẫn nói rằng mặc dù hiện nay Iran chỉ còn một nửa số tên lửa so với trước xung đột, nhưng nước này vẫn còn hàng ngàn tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm ngắn có thể đưa ra khỏi nơi cất giấu hoặc đào lên từ trong lòng đất.
Các quan chức Israel cho biết khoảng 2/3 số bệ phóng tên lửa đạn đạo của Iran đã bị vô hiệu hóa trong chiến sự, song Iran có thể thu hồi nhiều bệ phóng bị mắc kẹt dưới lòng đất do các cuộc tấn công của Mỹ và Israel. Các quan chức Israel cũng cho biết Iran vẫn còn hơn 1.000 trong số khoảng 2.500 tên lửa tầm trung mà nước này sở hữu khi bắt đầu chiến sự. Số còn lại đã được sử dụng hoặc bị phá hủy.
Về số lượng máy bay không người lái (UAV), theo các quan chức Mỹ, Iran hiện chỉ còn chưa đến 50% UAV tấn công một chiều so với thời điểm bắt đầu chiến sự nhưng nước này có thể mua các hệ thống tương tự từ đồng minh để sử dụng chống lại các nước láng giềng.
Iran cũng vẫn còn một lượng nhỏ tên lửa hành trình, có thể được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các tàu chiến ở vịnh Ả Rập hoặc nhắm vào quân đội Mỹ, nếu Washington tấn công chiếm giữ một hòn đảo Iran trong trường hợp đàm phán đổ vỡ, các quan chức Mỹ cho biết.
Lầu Năm Góc và Nhà Trắng từ chối bình luận về thông tin của The Wall Street Journal, nhấn mạnh quân đội Mỹ đã đạt được mọi mục tiêu.
Đánh giá được tiết lộ giữa thời điểm Mỹ đang bước vào vòng đàm phán trực tiếp với Iran tại Pakistan nhằm đạt thỏa thuận chấm dứt chiến sự và mở lại eo biển Hormuz.
Theo Hãng tin Reuters ngày 25-4, phát biểu trong cuộc phỏng vấn với truyền hình nhà nước Nga, Ngoại trưởng Sergei Lavrov cho rằng Washington đang đưa thế giới "trở lại thời kỳ không tồn tại luật pháp quốc tế", nhất là trong cách tiếp cận đối với khu vực Mỹ Latin và Trung Đông.
Theo ông Lavrov, Mỹ đang hành xử như một quốc gia không chấp nhận bất kỳ sự ràng buộc nào từ bên ngoài.
"Mỹ đã tuyên bố không ai có thể áp đặt điều gì lên họ. Họ chỉ quan tâm đến lợi ích của mình và sẵn sàng bảo vệ điều đó bằng mọi cách", ông Lavrov nhấn mạnh, cáo buộc Washington sử dụng các biện pháp như đảo chính, bắt cóc hoặc ám sát lãnh đạo các quốc gia sở hữu tài nguyên mà Mỹ cần.
Ngoại trưởng Nga cho rằng các diễn biến tại Venezuela và Iran là minh chứng cho cách tiếp cận này, khi theo ông, các hành động gần đây của Mỹ đều liên quan trực tiếp đến lợi ích dầu mỏ.
Ông nhấn mạnh Washington đang theo đuổi một "học thuyết thống trị thị trường năng lượng toàn cầu".
Ông Lavrov cũng chỉ trích vai trò của Mỹ tại châu Âu, cho rằng Washington đã "cắt đứt" mối liên kết năng lượng giữa Nga và lục địa này.
Theo đó, Ngoại trưởng Nga đề cập đến việc Mỹ thúc ép các nước châu Âu từ bỏ đường ống khí đốt Nord Stream nối giữa Nga với Đức, ủng hộ các nỗ lực của Liên minh châu Âu (EU) nhằm hạn chế việc Hungary và Slovakia tiếp tục nhập khẩu khí đốt từ Nga.
"Đây không phải là cách tiếp cận trong quan hệ quốc tế, mà là nỗ lực đưa thế giới quay lại thời kỳ thuộc địa", ông Lavrov nhận định, cho rằng chính sách của châu Âu hiện bị chi phối bởi "sự kiêu ngạo và coi thường các nước khác".
Liên quan đến cuộc xung đột tại Ukraine, Ngoại trưởng Nga nói ngay cả trong các nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình, Mỹ vẫn nhấn mạnh đến những "cơ hội kinh tế khổng lồ" có thể đạt được.
Theo ông, trong khi các hoạt động ngoại giao diễn ra, Nga vẫn đang bị đẩy ra khỏi các thị trường năng lượng toàn cầu. Ông nhấn mạnh Matxcơva sẵn sàng triển khai các dự án hợp tác cùng có lợi, nhưng yêu cầu lợi ích của Nga cũng phải được tôn trọng.
"Nếu chúng tôi triển khai các dự án cùng có lợi trên lãnh thổ của mình và cung cấp cho phía Mỹ những gì họ quan tâm, thì lợi ích của chúng tôi cũng phải được tôn trọng. Cho đến nay, chúng tôi chưa thấy điều đó", ông Lavrov khẳng định.
Theo Hãng tin AFP, ngày 3-5, Saudi Arabia, Nga và 5 quốc gia thành viên liên minh OPEC+ khác ra tuyên bố nâng hạn ngạch khai thác dầu thêm 188.000 thùng/ngày trong tháng 6.
Động thái này được OPEC+ gọi là một phần của "cam kết tập thể nhằm hỗ trợ sự ổn định của thị trường dầu mỏ" và được công bố vài ngày sau khi Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) tuyên bố rời nhóm.
Mức tăng 188.000 thùng đã được giới phân tích dự báo và gần như tương đương với con số 206.000 thùng/ngày từng được OPEC+ công bố hồi tháng 3 và tháng 4.
Tuy nhiên, giới phân tích nghi ngờ quyết định này thực chất là một tuyên bố chính trị nhiều hơn là giải pháp thực tiễn cho cuộc khủng hoảng năng lượng hiện tại.
Điều này xuất phát từ thực tế rằng sản lượng khai thác hiện tại của OPEC+ vẫn đang thấp hơn tổng hạn ngạch được cho phép. Trong khi đó, trữ lượng chưa khai thác của nhóm lại chủ yếu nằm ở vùng Vịnh, nơi hoạt động xuất khẩu đã gần như đình trệ bởi lệnh phong tỏa eo biển Hormuz.
Trao đổi với AFP, chuyên gia phân tích tại Rystad Energy, ông Jorge Leon, nhận định việc tăng hạn ngạch là một "thông điệp hai tầng" mà OPEC+ muốn gửi đi cho thế giới.
Thứ nhất, việc UAE rời đi không làm xáo trộn cách OPEC+ vận hành. Thứ hai, nhóm vẫn nắm quyền kiểm soát thị trường dầu toàn cầu, bất chấp những đảo lộn nghiêm trọng từ chiến sự.
"Sản lượng đang tăng trên giấy, nhưng tác động thực tế đến nguồn cung vật chất vẫn rất hạn chế, xuất phát từ những ràng buộc tại eo biển Hormuz", ông Leon khẳng định.
Theo chuyên gia này, vấn đề không nằm ở chuyện bơm thêm dầu, mà là tín hiệu cho thấy OPEC+ vẫn là bên định đoạt cuộc chơi.
Trong thông báo chung ngày 3-5, OPEC+ không nhắc gì đến UAE, quốc gia thông báo rút khỏi cả Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cùng liên minh OPEC+ hôm 28-4.
Việc làm này nối dài chuỗi im lặng của cả OPEC lẫn OPEC+, vốn đều chưa lên tiếng công khai về việc rời đi trên.
Bảy quốc gia OPEC+ tham gia cuộc họp và ra quyết định nâng hạn ngạch trên bao gồm Algeria, Iraq, Kazakhstan, Kuwait, Oman, Nga và Saudi Arabia.