Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến hoàn thiện theo hướng siết chặt quản lý ô nhiễm ngay từ nguồn, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn kéo dài trong thực thi luật hiện hành.
Ba nhóm chính sách lớn được đặt ra gồm: phân loại rác sinh hoạt tại nguồn, quản lý chất lượng môi trường nước mặt và kiểm soát ô nhiễm không khí. Các điều chỉnh này được xây dựng trên cơ sở tổng kết thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020, trong đó nhiều quy định được đánh giá là chưa theo kịp thực tiễn, đặc biệt ở khâu tổ chức thực hiện và hạ tầng.
Hai phương án phân loại rác tại nguồn
Một trong những điểm cần thay đổi là quy định phân loại rác sinh hoạt tại nguồn, dù được luật hóa nhưng triển khai chưa hiệu quả. Dự thảo hiện đưa ra hai phương án: giữ mô hình ba nhóm gồm rác có khả năng tái sử dụng, tái chế; rác thực phẩm và rác sinh hoạt khác. Hoặc đơn giản hóa còn hai nhóm, trong đó rác thực phẩm được gộp vào rác sinh hoạt.
Báo cáo đánh giá thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020 cho thấy sau nhiều năm triển khai, việc phân loại rác tại nguồn mới chủ yếu dừng ở thí điểm, chưa được triển khai đồng bộ trên phạm vi cả nước. Nguyên nhân lớn nhất là thiếu đồng bộ giữa quy định, hạ tầng thu gom xử lý và cơ chế tổ chức thực hiện.
Hiện khoảng 63% chất thải rắn sinh hoạt vẫn được xử lý bằng chôn lấp, trong đó nhiều bãi không hợp vệ sinh. Trong khi đó, rác thực phẩm chiếm hơn 50% tổng lượng rác nhưng năng lực xử lý thành phân hữu cơ mới đạt khoảng 13%. Điều này khiến việc tách riêng rác hữu cơ trụ cột của mô hình ba nhóm gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn.
Không ít địa phương chưa có hệ thống thu gom và xử lý tương ứng sau phân loại. Dù người dân phân loại tại nguồn, rác vẫn bị thu gom chung do thiếu hạ tầng riêng biệt. Cùng với đó là hạn chế về quỹ đất, chi phí đầu tư cao và sự phụ thuộc vào các hợp đồng xử lý rác theo công nghệ chôn lấp kéo dài.
Một số địa phương như Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ xử lý bằng chôn lấp có thời điểm lên tới 85%, cao hơn nhiều so với mục tiêu giảm xuống dưới 30%.
Không cấp phép nếu sông, hồ vượt sức chịu tải
Với môi trường nước mặt, dự thảo sửa đổi nhấn mạnh nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm theo khả năng chịu tải của từng sông, hồ. Theo đó, các dự án có xả thải trực tiếp sẽ không được phê duyệt đánh giá tác động môi trường hoặc cấp phép môi trường nếu nguồn tiếp nhận đã được xác định không còn khả năng tiếp nhận thêm chất ô nhiễm.
Điểm mới là việc phân tách rõ hai trường hợp: nguồn nước không còn khả năng chịu tải đối với toàn bộ thông số và trường hợp chỉ vượt ngưỡng ở một số thông số nhất định. Cách tiếp cận này nhằm khắc phục bất cập hiện hành khi khái niệm “hết khả năng chịu tải” chưa được định lượng rõ ràng, gây khó khăn trong áp dụng.
Báo cáo tổng kết thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020 cho thấy việc cấp phép hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên từng dự án riêng lẻ, chưa tính đến tổng tải lượng ô nhiễm của toàn lưu vực. Hệ quả là nhiều dự án đều đạt quy chuẩn nhưng tổng xả thải lại vượt khả năng tự làm sạch của sông, hồ.
Thực tế, nhiều hệ thống sông đã rơi vào tình trạng quá tải kéo dài. Dự thảo vì vậy chuyển sang cách tiếp cận theo lưu vực và sức chịu tải tổng thể, thay vì quản lý rời rạc từng nguồn thải. Tuy nhiên, vẫn có cơ chế linh hoạt cho dự án áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến, tái sử dụng nước hoặc không làm gia tăng ô nhiễm.
Theo dự thảo, trách nhiệm của chính quyền địa phương cũng được nâng lên, trong đó chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể bị xem xét trách nhiệm nếu để xảy ra ô nhiễm nghiêm trọng trên địa bàn.
Siết kiểm soát phát thải giao thông
Trong lĩnh vực không khí, dự thảo chuyển từ cơ chế cảnh báo sang dự báo ô nhiễm, nhằm tăng tính chủ động trong phòng ngừa thay vì phản ứng khi ô nhiễm đã xảy ra.
Theo cơ quan soạn thảo, quy định hiện hành mới chủ yếu dừng ở cảnh báo, chưa tạo đủ cơ sở pháp lý để triển khai các biện pháp ứng phó sớm trong các đợt ô nhiễm không khí nghiêm trọng.
Báo cáo thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020 cũng chỉ ra hạn chế này, khi hệ thống quản lý chưa đủ công cụ để dự báo và kích hoạt biện pháp phòng ngừa kịp thời, đặc biệt tại các đô thị lớn.
Dự thảo đồng thời làm rõ trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong tổ chức ứng phó khẩn cấp và chịu trách nhiệm về chất lượng không khí trên địa bàn.
Một điểm mới của dự thảo là kiểm soát phát thải từ giao thông vận tải – nguồn gây ô nhiễm ngày càng lớn tại đô thị. Dự thảo bổ sung cơ sở pháp lý để lắp đặt thiết bị giám sát phát thải đối với một số loại phương tiện, đồng thời cho phép địa phương điều tiết phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại một số khu vực, thời điểm phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội.
Cơ quan soạn thảo cũng rà soát quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với phương tiện giao thông nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp để phù hợp với mô hình quản lý mới.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi được xây dựng nhằm khắc phục các bất cập phát sinh trong quá trình thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020, bảo đảm đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan và phù hợp hơn với thực tiễn quản lý môi trường hiện nay.
Việc sửa đổi tập trung hoàn thiện các công cụ quản lý theo hướng hiện đại, minh bạch, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao tính khả thi trong tổ chức thực hiện, đồng thời đáp ứng yêu cầu kiểm soát ô nhiễm và thúc đẩy phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Chỉ thị nêu rõ việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với năng lực quản trị, điều hành, thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước.
Thủ tướng yêu cầu chủ tịch UBND các tỉnh, thành quán triệt, triển khai quyết liệt, đồng bộ, kịp thời chủ trương, đường lối về công tác cán bộ. Xây dựng kế hoạch, giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương, hoàn thành vào tháng 5-2026.
Rà soát, đánh giá tổng thể chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã. Hoàn thiện tiêu chuẩn, tiêu chí theo yêu cầu vị trí việc làm về công tác cán bộ.
Bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã bảo đảm "đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, đúng địa bàn" và phát huy năng lực thực tiễn, sở trường và kinh nghiệm công tác.
Triệt để phân công, điều động các lãnh đạo, quản lý cấp phó đang vượt quy định của các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh, thành ủy, ủy ban nhân dân cấp tỉnh về cấp xã.
Ưu tiên bố trí cán bộ, công chức có bản lĩnh, khả năng chịu áp lực và kinh nghiệm về công tác tại các địa bàn phức tạp, khối lượng công việc lớn. Nhất là các lĩnh vực đòi hỏi năng lực, trình độ chuyên môn chuyên sâu, như đất đai, xây dựng, dân tộc, tôn giáo, khiếu nại, tố cáo... Không phân công cán bộ, công chức không phù hợp với năng lực, sở trường.
Đánh giá chất lượng công việc của cán bộ, công chức cấp xã trên cơ sở tiến độ, chất lượng xử lý công việc, năng lực phối hợp, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Thực hiện tinh giản biên chế đối với những người năng lực yếu kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu thường xuyên.
Thực hiện tuyển dụng bổ sung, ưu tiên người có tài năng và kinh nghiệm công tác. Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức gắn vị trí việc làm, thực tiễn, chú trọng năng lực xử lý tình huống.
Nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức. Siết chặt kỷ luật lao động, thực hiện nghiêm quy trình xử lý hồ sơ, thời hạn trả kết quả trên môi trường điện tử. Ngăn chặn biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, chậm trễ.
Các bộ trưởng, trưởng ngành được giao hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật về hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền. Cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, hướng dẫn về hồ sơ, quy trình nghiệp vụ, thủ tục hành chính, xử lý các tình huống...
Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành bảo đảm liên thông, kết nối đồng bộ, giải quyết dứt điểm những vấn đề tồn tại, vướng mắc bảo đảm thông suốt. Đẩy mạnh chuyển đổi số, dịch vụ công, họp trực tuyến, khai thác cơ sở dữ liệu, bảo mật thông tin.
Người đứng đầu Chính phủ cũng giao các nhiệm vụ cụ thể tới các bộ ngành. Trong đó có chính sách nhà ở xã hội đối với cán bộ có khó khăn về nhà ở, bố trí kinh phí bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, chế độ, chính sách và kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hướng dẫn hình thức đặc thù tuyển dụng cho cấp xã.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ngày 7/4 thay mặt Bộ Chính trị ký kết luận về chủ trương, đồng thời giao các cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để trình cấp có thẩm quyền xem xét.
Theo định hướng, Quảng Ninh sẽ phát triển theo mô hình đô thị xanh, thông minh, tái cấu trúc không gian theo hướng tích hợp đô thị, biển, đảo, biên giới và di sản thành một hệ sinh thái phát triển. Địa phương chuyển từ mô hình phân tán sang đa trung tâm, tăng tính kết nối và liên kết vùng.
Cùng với đó, tỉnh mở rộng không gian tăng trưởng với các động lực chính là khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; phát triển đồng bộ kinh tế xanh, kinh tế biển, kinh tế di sản, kinh tế biên giới, kinh tế ban đêm và công nghiệp văn hóa.
Hạ tầng được định hướng phát triển đồng bộ, gồm đường bộ, đường sắt tốc độ cao, sân bay, cảng biển và hạ tầng đô thị thông minh, kết nối các trung tâm lớn. Các phường, xã và đặc khu phát triển hài hòa với bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa. Cùng với đó, tỉnh phải cải cách thể chế, đổi mới quản trị, xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Bộ Chính trị giao Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo các cơ quan phối hợp với tỉnh Quảng Ninh hoàn thiện hồ sơ, báo cáo Trung ương và trình Quốc hội xem xét trong năm 2026.
Quảng Ninh nằm ở vùng Đông Bắc, giáp Trung Quốc, vịnh Bắc Bộ và các địa phương như Hải Phòng, Bắc Ninh. Tỉnh có diện tích đất liền hơn 6.200 km2, địa hình đa dạng, với hơn 2.000 đảo, tạo lợi thế phát triển du lịch, cảng biển và kinh tế biển.
Năm 2025, GRDP của Quảng Ninh ước tăng 11,89%, quy mô nền kinh tế đạt hơn 368.445 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 84.500 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 68.150 tỷ đồng. Du lịch tiếp tục là ngành chủ lực với 21,28 triệu lượt khách, doanh thu đạt 57.000 tỷ đồng.
Năm 2026, địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 12,5%, GRDP bình quân đầu người từ 11.800 USD, tổng thu ngân sách khoảng 100.000 tỷ đồng.
Cả nước hiện có 6 thành phố trực thuộc Trung ương gồm Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, TP HCM và Cần Thơ.
Chiều 14-4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương.
Đồng thời xem xét, thông qua nghị quyết về việc thành lập 10 phường thuộc Đồng Nai, xem xét, thông qua về nguyên tắc việc thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai.
Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình trình bày tờ trình của Chính phủ, trong đó nêu rõ các căn cứ quan trọng, cần thiết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai.
Theo đó, Đồng Nai hội tụ nhiều điều kiện để chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng Nai có vị trí là đầu mối liên kết trực tiếp giữa TP.HCM với Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Cùng với hệ thống hạ tầng giao thông, công nghiệp, dịch vụ, logistics ngày càng đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Long Thành đang được đẩy nhanh tiến độ và dự kiến khai thác thương mại vào cuối năm 2026.
Đồng Nai được xác định có tiềm năng phát triển thành đô thị lớn, đa trung tâm, đa chức năng, có sức lan tỏa mạnh đối với vùng phía Nam và cả nước.
Bộ trưởng nêu rõ việc thành lập thành phố Đồng Nai và các phường sẽ tạo động lực phát triển mới không chỉ cho Đồng Nai mà còn đóng góp thiết thực cho khu vực miền Nam, cả nước.
Đây là bước chuyển căn bản về mô hình phát triển và mô hình quản trị địa phương nhằm đưa Đồng Nai trở thành đô thị lớn, có chức năng chia sẻ, liên kết, tương hỗ cùng phát triển với TP.HCM
Từ đó đạt mục tiêu trở thành cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia, giữ vai trò là trung tâm kết nối kinh tế vùng và cửa ngõ hội nhập quốc tế. Là hình mẫu phát triển năng động, hiện đại, văn minh làm cơ sở định hướng không gian phát triển mới cho cả vùng Đông Nam Bộ theo kết luận của Bộ Chính trị.
Chính phủ đề nghị thành lập 10 phường Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh.
Các phường này thành lập trên cơ sở nguyên trạng diện tích tự nhiên và quy mô dân số của 10 xã Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh thuộc tỉnh Đồng Nai.
Thành lập thành phố Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng 12.737,18km2 diện tích, quy mô dân số 4.491.408 người và 95 đơn vị cấp xã (sau khi thành lập 10 phường) của tỉnh Đồng Nai.
Kết quả sau khi thành lập thành phố và 10 phường, thành phố Đồng Nai không thay đổi về diện tích tự nhiên và quy mô dân số. Có 95 đơn vị cấp xã, gồm 33 phường và 62 xã (giảm 10 xã, tăng 10 phường), tỉ lệ đô thị hóa 54,10% (2.429.835/4.491.408 người).
Báo cáo thẩm tra sơ bộ do Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày tán thành với sự cần thiết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai.
Ủy ban tán thành với đề xuất của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai trên cơ sở kế thừa Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Cơ quan thẩm tra đề nghị các nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 30-4 theo nguyện vọng và quyết tâm của cấp ủy, chính quyền tỉnh Đồng Nai.
Kết luận phiên họp, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nêu rõ Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất với các nội dung theo các tờ trình, đồng ý trình Quốc hội khóa XVI xem xét việc thành lập thành phố Đồng Nai tại kỳ họp thứ nhất.
Ông đề nghị chậm nhất 16-4 phải hoàn chỉnh toàn bộ hồ sơ trình Quốc hội và thống nhất các nghị quyết trên sẽ có hiệu lực từ 30-4. Ông cũng đề nghị tỉnh Đồng Nai cần có kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng các hồ sơ, thủ tục hành chính để vận hành ngay khi nghị quyết có hiệu lực.
Về hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, ông lưu ý toàn bộ giấy tờ của người dân, tổ chức nếu chưa chuyển đổi thì tiếp tục có hiệu lực, trong trường hợp chuyển đổi, Đồng Nai chịu trách nhiệm chi trả chi phí.
Tại phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất việc trình Quốc hội khóa XVI xem xét việc thành lập thành phố Đồng Nai tại kỳ họp thứ nhất.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua về nguyên tắc nghị quyết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và dự thảo nghị quyết thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai...