“Một khi chiến dịch phong tỏa các cảng vẫn diễn ra, eo biển Hormuz sẽ không còn mở cửa nữa”, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf tuyên bố hôm nay, thêm rằng hoạt động đi lại qua tuyến đường biển này sẽ phụ thuộc vào sự cho phép từ Tehran.
Ông Ghalibaf thêm rằng eo biển Hormuz mở hay đóng, cũng như các quy định liên quan, sẽ “được quyết định trên thực địa chứ không phải mạng xã hội”.
Chủ tịch Quốc hội Iran cũng chỉ trích Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đưa ra “7 tuyên bố trong vòng một giờ và tất cả đều sai sự thật”, nhưng không nêu cụ thể đó là những phát biểu nào. “Họ đã không thắng được cuộc chiến bằng những lời dối trá này và chắc chắn cũng sẽ không đạt được gì trong các cuộc đàm phán”, ông nói.
Tổng thống Trump trước đó nói rằng lệnh phong tỏa các cảng biển Iran do Mỹ thực hiện sẽ chấm dứt một khi “thỏa thuận được ký kết”. Ông cũng bày tỏ tin tưởng rằng hai bên sắp đạt được thỏa thuận.
Ngoại trưởng Abbas Araghchi ngày 17/4 thông báo Iran sẽ “mở hoàn toàn” eo biển Hormuz để hưởng ứng lệnh ngừng bắn 10 ngày giữa Israel và nhóm Hezbollah ở Lebanon. Ông khuyến cáo tàu thuyền di chuyển theo lộ trình mà Cục Cảng biển và Hàng hải Iran công bố. Đây là lộ trình thay thế cho tàu thuyền để giúp tránh nguy cơ trúng thủy lôi tại luồng chính của tuyến hàng hải này.
Tổng thống Mỹ đã hoan nghênh động thái của Iran, nhưng khẳng định lệnh phong tỏa các cảng Iran vẫn còn hiệu lực cho đến khi thỏa thuận hai nước “hoàn thành 100%”. Ông còn nói rằng Iran đã đồng ý sẽ “không bao giờ đóng cửa eo biển Hormuz nữa”.
Eo biển Hormuz là huyết mạch lưu thông của khoảng 20% nguồn cung dầu khí, cùng với 1/3 nguyên liệu sản xuất phân bón cho ngành nông nghiệp toàn cầu. Sau khi Mỹ và Israel phát động chiến dịch tấn công Iran hôm 28/2, Tehran đã gần như phong tỏa hoàn toàn eo biển, khiến giá năng lượng toàn cầu tăng vọt.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Iran: Tàu của các nước ủng hộ Mỹ trừng phạt Iran không được phép đi qua eo biển Hormuz

Theo Hãng tin Tass, ngày 10-5, người phát ngôn quân đội Iran Mohammad Akraminia khẳng định nước này sẽ không cho phép tàu thuyền của các quốc gia ủng hộ chính sách trừng phạt của Mỹ đối với Tehran đi qua eo biển Hormuz.
Phát biểu trong cuộc phỏng vấn với Hãng thông tấn IRNA, ông Akraminia nhấn mạnh: "Kể từ nay, những quốc gia ủng hộ Mỹ áp đặt các lệnh trừng phạt lên Iran chắc chắn sẽ đối mặt với nhiều khó khăn khi lưu thông qua eo biển Hormuz".
Ông cũng cho biết thêm rằng các cuộc xung đột quân sự với Mỹ và Israel đã buộc Iran phải "tận dụng tiềm năng địa chính trị của eo biển Hormuz", và hiện nước này đang thực thi quyền làm chủ đối với khu vực này.
Vị quan chức tuyên bố bất kỳ tàu thuyền nào muốn đi qua eo biển đều phải phối hợp hành động với Tehran. Theo ông, những biện pháp này "có thể mang lại nhiều lợi ích cho phía Iran".
Người phát ngôn quân đội Iran cũng khẳng định "không có mục tiêu nào của kẻ thù được thực hiện" trong cuộc chiến vừa qua và hệ thống chính quyền Iran vẫn không hề bị lung lay.
"Ngược lại, tinh thần thống nhất và gắn kết nội bộ còn được củng cố mạnh mẽ hơn, điều mà chúng ta vẫn đang thấy qua sự hiện diện của người dân trên đường phố.
Kẻ thù đã nhận ra rằng họ thực sự không thể bẻ gãy được sự kháng cự này và cuối cùng đã buộc phải chấp nhận một lệnh ngừng bắn", người phát ngôn quân đội Iran nói.
Trong thời gian lệnh ngừng bắn đang diễn ra, Iran được cho rằng đã tranh thủ củng cố lực lượng và năng lực tác chiến, cập nhật danh sách mục tiêu, đồng thời điều chỉnh lại các vị trí phòng thủ và tấn công của mình.
Một vòng xoáy leo thang căng thẳng mới đã bùng phát tại khu vực vùng Vịnh vào cuối ngày 7-5 khi Mỹ và Iran thực hiện các cuộc tấn công đáp trả lẫn nhau.
Theo truyền hình nhà nước Iran, ngòi nổ cho đợt leo thang này bắt nguồn từ việc phía Mỹ tấn công một tàu dầu của nước này.
Ngay sau đó, Tehran đã đáp trả bằng việc tấn công ba tàu khu trục của Mỹ gần khu vực eo biển Hormuz.
Trong động thái trả đũa, Bộ Chỉ huy Trung tâm Mỹ đã tiến hành một loạt cuộc không kích vào các mục tiêu quân sự bên trong lãnh thổ Iran.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Quỹ Gates mở cuộc điều tra làm rõ mối liên hệ với 'tỉ phú ấu dâm' Epstein

Theo Đài CNN, Quỹ Gates vừa chính thức khởi động một cuộc điều tra độc lập, nhằm làm rõ mối quan hệ giữa tổ chức từ thiện này và tội phạm tình dục Jeffrey Epstein.
Quỹ này được thành lập vào năm 2000 bởi tỉ phú Bill Gates và vợ cũ, hiện do ông Gates giữ vai trò Chủ tịch kiêm thành viên hội đồng quản trị.
Trong thông báo đưa ra ngày 21-4, tổ chức thiện nguyện trị giá hàng tỉ USD này cho biết họ đã ủy quyền cho một đơn vị bên ngoài thực hiện đánh giá toàn diện về những lần tương tác trong quá khứ giữa quỹ và ông Epstein.
Đồng thời quỹ cũng đang rà soát lại các quy trình thẩm định và xây dựng quan hệ với đối tác từ thiện mới.
Nhân viên của quỹ đã được thông báo về sự việc từ tháng 3, và quá trình điều tra dự kiến sẽ hoàn tất trong mùa hè năm nay.
Song song với cuộc điều tra, Quỹ Gates cũng đang tiến hành cắt giảm khoảng 500 nhân sự trong vài năm tới nhằm tối ưu hóa chi phí.
Các tài liệu liên quan đến "tỉ phú ấu dâm" Jeffrey Epstein do Bộ Tư pháp Mỹ công bố có hơn 3 triệu trang, trong đó chứa nhiều email trao đổi giữa ông Bill Gates và Epstein.
Nội dung cho thấy hai bên đã phối hợp sắp xếp các cuộc gặp và thảo luận về hoạt động từ thiện của quỹ.
Toàn bộ những tương tác này đều diễn ra sau khi ông Epstein bị kết án vào năm 2008 vì các tội danh liên quan đến môi giới mại dâm.
Trước làn sóng dư luận, ông Bill Gates đã gửi lời xin lỗi tới toàn thể nhân viên, thừa nhận mối liên hệ với tỉ phú Epstein là một sai lầm lớn. Tuy nhiên ông kiên quyết phủ nhận mọi cáo buộc về hành vi sai trái cá nhân, khẳng định đây là những thông tin sai sự thật.
Năm ngoái, ông Bill Gates thông báo kế hoạch quyên góp gần như toàn bộ khối tài sản của mình - ước tính khoảng 200 tỉ USD - trong vòng 20 năm tới, trước khi chính thức đóng cửa quỹ vào ngày 31-12-2045.
Vợ cũ của ông, bà Melinda French Gates - người từng đồng điều hành tổ chức này - đã rời Quỹ Gates cách đây hai năm, sau vụ ly hôn gây chấn động dư luận vào năm 2021.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tỷ lệ thất nghiệp thấp. Giá trị thị trường chứng khoán ở mức cao. Chi tiêu tiêu dùng đang ổn định. Nhưng khi hỏi người Mỹ về cảm nhận đối với nền kinh tế, không ít người vẫn bày tỏ lo âu.
Cảm nhận của người dân đối với nền kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi khi cảm thấy bi quan, hành vi của họ có thể thay đổi và làm chậm đà phát triển. Mặt khác, đôi khi họ còn đang nhìn thấy những vấn đề thực sự vốn chưa xuất hiện trong các số liệu cụ thể.
Nỗi sợ mất việc
Từ những năm 1960, các nhà kinh tế đã khảo sát người Mỹ về việc liệu họ nghĩ tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng hay giảm trong năm tới. Suốt một năm qua, nỗi lo về tình trạng thất nghiệp luôn duy trì ở mức cao, vốn chỉ xuất hiện trong các thời kỳ suy thoái trước đây.
Tại thành phố Boise, Idaho, Andrew Morstad đang nhìn thấy những dấu hiệu cảnh báo. Một kỹ sư Amazon anh quen vừa bị sa thải trong khi không ít người khác chia sẻ với anh nỗi lo sợ rằng mình cũng sắp mất việc.
Morstad vẫn giữ được công việc nhân viên tư vấn phần mềm của mình, nhưng anh không khỏi cảm thấy bất an. "Tôi tin rằng kinh tế Mỹ sắp dính đòn", anh nói. Khi những nhân sự thu nhập cao bị sa thải, họ không chỉ ngừng chi tiêu mà còn tạo ra lỗ hổng lớn cho ngân sách quốc gia vì đây là nhóm đóng thuế nhiều nhất", anh nói.
Khách hàng của Morstad đang thắt chặt chi tiêu và bản thân anh cũng vậy. Trước kia, anh thường ra ngoài ăn uống hai hoặc ba tối mỗi tuần nhưng nay phải giảm dần các hoạt động giao lưu xã hội. Dù số liệu cho thấy kinh tế vẫn ổn định, Morstad dự đoán làn sóng sa thải trên diện rộng sẽ giáng một đòn mạnh vào thị trường lao động trong những tháng tới.
Đại học Michigan hôm 24/4 cho biết chỉ số niềm tin tiêu dùng đã giảm xuống mức 49,8 điểm trong tháng 4, thấp nhất kể từ khi họ bắt đầu thực hiện các cuộc khảo sát thường kỳ người tiêu dùng Mỹ hơn 70 năm trước. Đánh giá của người dân về hiện trạng nền kinh tế cũng như kỳ vọng tương lai đều sụt giảm. Nó diễn ra ở mọi nhóm đối tượng, không phân biệt đảng phái chính trị, thu nhập, độ tuổi hay trình độ học vấn.
"Người tiêu dùng vẫn lo ngại về quỹ đạo của lạm phát và trong năm qua, niềm tin vào thị trường lao động đã sụt giảm đáng kể", Joanne Hsu, giám đốc cuộc khảo sát, cho hay.
Bầu không khí ảm đạm này là điều dễ hiểu. Cuộc xung đột ở Iran đã đẩy giá xăng lên cao. Những chính sách thuế quan thay đổi đột ngột gây ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp. Thị trường việc làm xét theo nhiều tiêu chuẩn vẫn ổn định, song đang xuất hiện rải rác tin tức về những đợt sa thải quy mô lớn sắp diễn ra.
Tuy vậy, chỉ số niềm tin này lại trái ngược với các báo cáo kinh tế khác công bố trong hai tuần qua cho thấy nền kinh tế Mỹ còn rất xa ngưỡng suy thoái.
Bộ Thương mại Mỹ hồi đầu tuần trước báo cáo doanh số bán lẻ trong tháng 3 vẫn ổn định, ngay cả khi đã điều chỉnh theo mức giá xăng tăng cao. Đến ngày 23/4, Bộ Lao động cho biết số lượng đơn xin trợ cấp thất nghiệp vẫn ở mức thấp. Trong khi đó, thị trường chứng khoán đang giao dịch gần các mức kỷ lục.
Không chỉ khảo sát của Đại học Michigan cho thấy những tín hiệu tiêu cực. Các số liệu tháng 3 từ cả Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và Hội đồng Hội nghị, tổ chức nghiên cứu kinh tế và kinh doanh phi lợi nhuận, đều cho thấy người tiêu dùng đang có tâm lý bi quan về nền kinh tế.
Một cuộc thăm dò do Trung tâm Nghiên cứu các Vấn đề Công cộng AP-NORC thực hiện trong tháng 4 cho thấy 73% người Mỹ nghĩ rằng nền kinh tế đang diễn biến xấu.
Dù xét theo lạm phát, giá xăng hiện nay chưa phải mức cao kỷ lục, nhưng đà tăng trong tháng 3 lại là chưa từng có tiền lệ. Vì xăng dầu là mặt hàng được mua thường xuyên và giá cả luôn được niêm yết công khai, nó có thể tác động quá mức đến tâm lý người tiêu dùng.
Thắt chặt chi tiêu
Mối bất mãn về tình trạng lạm phát tăng vọt dưới thời chính quyền tổng thống Joe Biden đã góp phần đưa Tổng thống Donald Trump trở lại Nhà Trắng. Phe Cộng hòa hiện lo ngại rằng tâm lý bi quan, ngay cả đối với những người có việc làm ổn định và thu nhập cao, sẽ gây bất lợi cho họ trong cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới.
Rosalyn Ruiz, nhân viên bộ phận thanh toán y tế tại Đại học bang Ohio, đang phải đối mặt hai bức tranh kinh tế trái ngược. Bà có công việc ổn định tại một thành phố đang trên đà phát triển, nhưng cuộc sống hàng ngày đang ngày càng trở nên quá đắt đỏ.
Ruiz, bà mẹ đơn thân, bắt đầu phải cắt giảm các bữa ăn ngoài và thu thập mọi loại phiếu giảm giá có thể. Hai con bà, 20 và 24 tuổi, đang chật vật tìm việc làm. Một trong hai người sắp chuyển về sống cùng gia đình.
"Tôi không chi tiêu bất cứ thứ gì phục vụ sở thích cá nhân. Tất cả chỉ dành cho thực phẩm, xăng xe và thú cưng", bà nói.
Ruiz không lo về việc sẽ bị sa thải, nhưng bà cảm thấy tương lai của các con mình mịt mù.
"Chúng chỉ có thể đi làm ở tiệm đồ ăn nhanh hoặc đi đóng gói hàng mà thôi", bà cho hay.
Một gia đình khi cảm thấy bất an về tương lai có thể sẽ cân nhắc kỹ hơn việc mua nhà hay khởi nghiệp kinh doanh. Công ty có thể dừng tuyển dụng. Nếu có quá nhiều người cùng dè chừng như vậy, những quyết định đó sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền tác động lên toàn bộ nền kinh tế, Hsu từ Đại học Michigan cho hay.
Tuy nhiên, giữa nhận định và hành vi tiêu dùng luôn tồn tại một độ vênh nhất định. Lịch sử từng ghi nhận vào tháng 6/2022, bất chấp bóng ma lạm phát và chỉ số niềm tin rơi xuống mức thấp kỷ lục, sức mua của người dân Mỹ vẫn không hề suy giảm và đà tạo việc làm mới vẫn bùng nổ.
Mặc dù vậy, một điểm khác biệt hiện nay là cái nhìn của người dân về thị trường lao động đang trở nên bi quan hơn nhiều. Báo cáo từ Đại học Michigan công bố hôm 24/4 cho thấy 64% số người tham gia khảo sát tin rằng tỷ lệ thất nghiệp trong một năm tới sẽ cao hơn hiện tại, tăng so với mức 61% hồi tháng 3 và đang tiến gần sát ngưỡng 69% ghi nhận hồi tháng 11/2025. Trong khi đó, vào tháng 6/2022, tỷ lệ này chỉ dừng lại ở mức 32%.
Cuộc khảo sát hàng quý đối với các chuyên gia Mỹ trên LinkedIn cũng cho thấy người lao động có những đánh giá bi quan về thị trường lao động trong suốt một năm qua.
"Niềm tin của lực lượng lao động đang chạm đáy và tình trạng này đã kéo dài một thời gian rồi", Kory Kantenga, trưởng bộ phận kinh tế khu vực châu Mỹ của LinkedIn, nói.
Mặc dù có một số thông báo sa thải gây chú ý, như Nike và Meta Platforms vừa công bố cắt giảm nhân sự quy mô lớn hôm 23/4, nhìn chung tỷ lệ sa thải vẫn ở mức khá thấp. Điều này được thể hiện qua số liệu trợ cấp thất nghiệp hàng tuần, báo cáo sa thải hàng tháng của Bộ Lao động cũng như những thông báo mà các doanh nghiệp lớn bắt buộc phải nộp trước khi đóng cửa hoặc sa thải hàng loạt.
Nhưng hoạt động tuyển dụng cũng đang ở mức cực kỳ thấp, khiến những người tìm việc liên tục bị từ chối. Điều này có thể làm u ám thêm cái nhìn về thị trường lao động trong mắt người tìm việc cũng như bạn bè và gia đình của họ. Đây còn có thể là một dấu hiệu cảnh báo sớm cho những gì sắp xảy ra. Ví dụ, những người làm việc tại một thành phố sắp có đợt sa thải quy mô lớn thường cảm nhận được rắc rối đang cận kề ngay cả trước khi thông tin đó xuất hiện trên mặt báo.
Ty Littlefield, lập trình viên phần mềm 35 tuổi ở Denver, thường xuyên lướt LinkedIn và nhận thấy những người bị sa thải từ một năm trước đến nay vẫn miệt mài tìm việc.
Littlefield cho biết gần đây ngành của anh đã chứng kiến những đợt sa thải "kỷ lục", trong đó có rất nhiều người mà anh quen biết. Littlefield nhận thấy ngày càng có nhiều người phải làm cùng lúc nhiều công việc bán thời gian, cố gắng nhận thêm càng nhiều việc tự do càng tốt để tìm kiếm cảm giác an tâm về tài chính.
Mặc dù đang có công việc ổn định, anh vẫn cảm thấy bất an. Littlefield là người khiếm thị và theo anh, điều này càng khiến việc tìm kiếm một vị trí mới trở nên khó khăn gấp bội nếu anh không may mất đi công việc hiện tại.
"Tôi đang cảm thấy hoảng loạn về tình hình kinh tế hiện tại", anh nói. "Trước đây, bị sa thải cũng chỉ được coi là khoảng thời gian nghỉ ngơi ngắn và lấy lại sức. Nhưng giờ mọi chuyện không còn như thế nữa".
Tin Gốc: Vnexpress

