Bộ Công thương đang lấy ý kiến dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia. Theo đó, Bộ đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ thứ hai đến thứ bảy vào tháng 1 – 4 và tháng 9 – 12, khung giờ cao điểm sẽ từ 14 – 19 giờ (5 tiếng); từ tháng 5 – 8, giờ cao điểm từ 14 giờ 30 – 16 giờ 30 (2 tiếng) và 19 giờ 30 – 22 giờ 30 (3 tiếng). Khung giờ thấp điểm là 6 tiếng mỗi ngày, từ 0 – 6 giờ sáng. Còn lại giờ bình thường có 13 tiếng mỗi ngày từ thứ hai đến thứ bảy và 18 tiếng ngày chủ nhật.
Bộ này lý giải, việc điều chỉnh các khung giờ sử dụng điện của hệ thống điện quốc gia xuất phát trong bối cảnh vận hành thực tế thay đổi nhiều so với 12 năm trước. Đặc biệt, từ năm 2019 đến nay, với sự thâm nhập mạnh mẽ và gia tăng tỷ trọng của nguồn điện mặt trời (ĐMT) trong cơ cấu nguồn điện, biểu đồ công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Thế nên việc điều chỉnh khung giờ giúp phản ánh đúng đặc điểm cung – cầu điện năng trong bối cảnh mới. Ngoài ra, việc xác định hợp lý các khung giờ giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng. Người dùng điện sẽ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện nhằm giảm chi phí, qua đó giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm. Hơn nữa, khi khung giờ cao điểm ngược (lệch) với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo sẽ là động lực để người đầu tư ĐMT phát triển thiết bị lưu trữ để sử dụng vào khung giờ cao điểm.
Tuy nhiên, Tập đoàn Điện lực VN (EVN) lo ngại, với khoảng 1,25 triệu công tơ phục vụ mua bán, giao nhận điện, trong đó phần lớn công tơ được cài đặt theo khung giờ cố định; để triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới có thể kéo dài đến 3 tháng, khối lượng công việc phát sinh rất lớn, bao gồm cập nhật cấu hình; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan…
Quan trọng hơn, việc triển khai đồng loạt trên phạm vi rộng và thực hiện nhiều lần trong năm tiềm ẩn nhiều rủi ro sai sót, phát sinh khiếu nại của khách hàng và chi phí khi triển khai. Từ đó, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa. Khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN tập trung vào 5 tiếng từ chiều tối đến đêm (17 giờ 30 – 22 giờ 30) từ thứ hai đến thứ bảy; giờ bình thường từ 6 – 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 – 24 giờ từ thứ hai đến thứ bảy; chủ nhật từ 6 – 24 giờ; khung giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 – 6 giờ.
Như vậy, khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN kéo dài vào buổi tối và không tính giá cao điểm vào ban ngày. Trong khi khung giờ cao điểm của Bộ Công thương đề xuất thay đổi theo mùa và phân bổ giờ cao điểm cả ban ngày (buổi chiều) và buổi tối.
Ông Nguyễn Quốc Việt, Tổng giám đốc Công ty CP Vinasol, nhận xét việc thay đổi các khung giờ cao điểm, thấp điểm của Bộ Công thương nhằm mục tiêu khuyến khích nhà đầu tư ĐMT phải đầu tư pin lưu trữ thì mới có hiệu quả. “Việc phân bổ lại các khung giờ nhằm giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải của ngành điện, giảm áp lực lên lưới điện vì khi vào ban đêm sẽ có nguồn phát từ các hệ thống lưu trữ. Tôi nghĩ cơ quan quản lý đang tìm cơ chế tốt nhất nhằm tháo gỡ cho ĐMT mái nhà bên cạnh chính sách thay đổi về khung giờ nhằm thúc đẩy việc lắp pin lưu trữ. Nếu chính sách này được tổ chức tốt, chắc chắn sẽ kích hoạt mạnh việc sử dụng ĐMT kết hợp lưu trữ”, ông Việt nói và thông tin thêm, chi phí đầu tư ĐMT có pin lưu trữ nay khá cạnh tranh, còn khoảng 12 – 15 triệu đồng/kWh, thời gian hoàn vốn chỉ còn khoảng 3 năm thay vì 5 năm như trước. Cùng với đó, chính sách mua điện dư thừa cởi mở hơn cũng là động lực thúc đẩy người dân lắp đặt.
Các chuyên gia cho rằng ĐMT tiềm năng lớn, song mức huy động không tăng như kỳ vọng do hạ tầng tải điện khó đáp ứng. TS Ngô Đức Lâm, nguyên Cục trưởng Cục An toàn kỹ thuật và môi trường, khuyến nghị cần tính toán phụ tải, nếu bảo đảm an toàn, hệ thống có thể nâng công suất mua điện dư của nguồn điện này cao hơn, chiếm tỷ trọng 20% trên toàn hệ thống. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 10 về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển ĐMT mái nhà tự sản tự tiêu, trong đó nói rõ ưu tiên lắp đặt tại cơ quan, công sở, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hộ gia đình; khuyến khích lắp đặt kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm và tăng khả năng tự chủ nguồn điện tại chỗ.
“Chỉ đạo rất rõ ràng. Đầu tư ĐMT cho cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ chế về vốn đầu tư, ưu đãi tín dụng đầu tư thế nào, phải nhanh chóng hơn. Hiện ĐMT mái nhà cho công sở dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Ngoài ra, đã khuyến khích pin lưu trữ thì cũng cần có chính sách ưu đãi để giúp cân bằng phụ tải hệ thống. Tôi từng đề xuất nếu nhà đầu tư có lắp đặt hệ thống lưu trữ thì EVN cần mua điện với giá cao hơn mức bình quân. Bởi nếu không có nguồn điện này, EVN vẫn phải nhập khẩu hoặc mua điện từ những nguồn đắt đỏ”, ông Ngô Đức Lâm nói.
Ông Nguyễn Quốc Việt đồng tình, muốn đẩy nhanh ĐMT cần sửa gấp Nghị định 58 về giới hạn công suất lắp đặt; đẩy nhanh triển khai nâng tỷ lệ bán điện lên lưới. Hiện Bộ Công thương đã có đề xuất cho phép bán lên lưới 50% (thay vì 20% công suất lắp đặt), song đề xuất này vẫn còn trên giấy. Bên cạnh đó, sớm có chính sách khuyến khích bán điện vào giờ cao điểm và ưu đãi cho các hệ thống có pin lưu trữ. Ông Việt nói: “Tháo được chốt nghẽn, chắc chắn điện tái tạo sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, cũng như tăng độ tin cậy, an ninh năng lượng”.
Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) vừa phát đi thông báo về việc thu giữ tài sản bảo đảm của Công ty CP Hàng không Tre Việt (Bamboo Airways) nhằm xử lý thu hồi nợ. Cụ thể, ngân hàng sẽ thu giữ 207 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Khu biệt thự thuộc Khu phức hợp Đắk Đoa (nay là xã Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai), đứng tên Công ty CP Tập đoàn FLC. Cùng lúc, thu giữ 169 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Phân khu số 6, Khu đô thị du lịch sinh thái Nhơn Hội (phường Quy Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai), đứng tên Công ty CP Đầu tư và Phát triển Bình Định, cũng nằm trong diện bị thu giữ.
Bên cạnh đó, Ngân hàng MSB cũng thu giữ 10 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Khu đô thị du lịch sinh thái FLC (phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa), cùng một tài sản khác tại phường Diên Hồng (tỉnh Gia Lai), đều đứng tên Tập đoàn FLC. Thời gian thu giữ dự kiến được thực hiện sau ngày 10.5. Nguyên nhân được công bố do khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên MSB thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.
Trước đó vào cuối tháng 3, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng thông báo kế hoạch thu giữ tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của Bamboo Airways. Tài sản bị thu giữ là quyền sử dụng đất với tổng diện tích hơn 86.300m2, trong đó phần lớn là đất ở nông thôn, thuộc 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại Khu C - Khu biệt thự phức hợp Đắk Đoa (xã Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai). Chủ sở hữu các tài sản này là Tập đoàn FLC. Sacombank dự kiến triển khai thu giữ trong khoảng thời gian từ ngày 22.4 đến 22.6. Ngân hàng yêu cầu bên bảo đảm và các bên đang quản lý tài sản chủ động di dời toàn bộ tài sản không thuộc diện bảo đảm trước thời điểm thu giữ. Trường hợp không thực hiện, Sacombank sẽ tiến hành di dời và bàn giao các tài sản này cho bên thứ ba trông giữ, với mọi chi phí phát sinh do bên bảo đảm và bên vay chịu trách nhiệm...
Hội đồng Vàng thế giới (WGC) vừa công bố Báo cáo xu hướng nhu cầu vàng quý 1/2026. Theo đó, tổng nhu cầu vàng toàn cầu trong quý (bao gồm cả giao dịch trên thị trường phi tập trung - OTC) đạt 1.231 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước.
Mặc dù khối lượng giao dịch chỉ tăng nhẹ, nhưng giá trị nhu cầu đã tăng vọt lên 193 tỉ USD, tương ứng mức tăng 74% so với cùng kỳ năm trước.
Các ngân hàng T.Ư tiếp tục hỗ trợ tổng cầu, với lượng mua ròng đạt 244 tấn. Con số này vượt cả quý 4/2025 và mức trung bình của 5 năm gần đây, dù một số tổ chức thuộc khu vực công tăng cường bán ra (Ngân hàng T.Ư Thổ Nhĩ Kỳ, Ngân hàng T.Ư Nga và Quỹ Dầu mỏ Nhà nước Azerbaijan).
Nhu cầu đối với các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) vàng tiếp tục duy trì tích cực trong quý 1, với lượng vàng nắm giữ tăng thêm 62 tấn, chủ yếu nhờ sự tăng trưởng mạnh từ các quỹ niêm yết tại châu Á khi các tổ chức này mua ròng 84 tấn.
Tuy nhiên, dòng vốn rút ra đáng kể trong tháng 3, chủ yếu từ các quỹ niêm yết tại Mỹ. Điều này phần nào kìm hãm đà tăng rất mạnh của thị trường trong giai đoạn đầu năm.
Ông Shaokai Fan, Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng T.Ư toàn cầu tại WGC, cho biết, địa chính trị được dự báo sẽ tiếp tục là yếu tố chính thúc đẩy nhu cầu vàng trong 2026 và những năm tiếp theo.
Điều này hỗ trợ xu hướng mua ròng liên tục của các ngân hàng T.Ư, dòng vốn chảy mạnh vào các quỹ ETF vàng toàn cầu cũng như nhu cầu tích trữ vàng miếng và vàng xu.
Theo WGC, quý đầu năm nay, trên toàn cầu, các nhà đầu tư cá nhân bị thu hút bởi đà tăng giá và sức hấp dẫn của vàng như tài sản trú ẩn an toàn, qua đó đẩy nhu cầu vàng miếng, vàng xu tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, đạt 474 tấn.
Đáng chú ý, tại Trung Quốc, nhu cầu tăng mạnh tới 67% so với cùng kỳ năm trước, đạt 207 tấn - mức cao nhất từ trước đến nay, cao hơn nhiều so với mức kỷ lục 155 tấn được ghi nhận vào quý 2/2013.
Ở chiều ngược lại, nhu cầu vàng trang sức trong quý 1 giảm mạnh 23% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 300 tấn. Đà suy giảm diễn ra trên hầu hết thị trường chủ chốt. Trong đó, đáng chú ý nhất là Trung Quốc (giảm 32%), Ấn Độ (giảm 19%) và khu vực Trung Đông (giảm 23%).
Xét riêng khu vực ASEAN, trong quý 1, nhu cầu đầu tư vàng miếng và vàng xu của Việt Nam ghi nhận mức giảm mạnh nhất, giảm 24% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 9 tấn.
Với vàng trang sức, trong khi khối lượng tiêu thụ tại nhiều thị trường trầm lắng, Việt Nam gây chú ý khi nhu cầu đạt mức kỷ lục 472 triệu USD, tăng 28% so với quý trước. Diễn biến này một phần có thể do những hạn chế trong nguồn cung vàng miếng, khiến nhu cầu chuyển sang vàng nhẫn trơn như một kênh đầu tư thay thế.
Theo bà Louise Street, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại WGC, sau khi thiết lập mức đỉnh trên 5.400 USD/ounce vào tháng 1, thị trường vàng đã ghi nhận một đợt điều chỉnh mạnh nhưng vẫn trong tầm kiểm soát.
Thời gian tới, yếu tố rủi ro địa chính trị được dự báo sẽ tiếp tục hỗ trợ nhu cầu đầu tư vàng. Tuy nhiên, môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra những rào cản, đặc biệt tại các thị trường phương Tây.
"Nhu cầu vàng trang sức dự kiến vẫn duy trì ổn định, ngay cả khi giá vàng cao khiến khối lượng tiêu thụ giảm. Về nguồn cung, sản lượng khai thác được kỳ vọng tăng nhẹ, song rủi ro thiếu hụt năng lượng có thể hạn chế triển vọng này", bà Louise Street nói.
Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, cá nhân kinh doanh; chủ hộ kinh doanh; chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sẽ thuộc trường hợp áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi: không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; có số tiền thuế nợ từ 1 triệu đồng trở lên; sau 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Cục Thuế đánh giá, đây là quy định thu hẹp phạm vi áp dụng so với hiện hành, không phải siết chặt hơn.
Theo số liệu tổng hợp, có hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng.
Nghị định 49/2025/NĐ-CP hiện không quy định ngưỡng nợ tối thiểu, do đó, chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế quá hạn, dù nhỏ, người nộp thuế vẫn thuộc diện xem xét tạm hoãn xuất cảnh nếu không khắc phục sau thông báo.
Việc bổ sung ngưỡng từ 1 triệu đồng trở lên nhằm xử lý bất cập đối với các khoản nợ rất nhỏ phát sinh do sai sót kỹ thuật, chậm cập nhật dữ liệu hoặc các nguyên nhân khách quan.
Nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể tác động đến số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
Theo Cục Thuế, một số ý kiến chỉ nhìn vào con số 1 triệu đồng để đánh giá mức ngưỡng thấp hay cao. Thực tế, trường hợp này không đơn thuần là nợ thuế.
Người nộp thuế thuộc trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký" là trường hợp đã vi phạm nghĩa vụ duy trì thông tin đăng ký thuế chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và thu hồi nợ thuế. Đây là hành vi làm gián đoạn kết nối quản lý giữa cơ quan nhà nước với người nộp thuế.
Do đó, việc áp dụng biện pháp quản lý đối với nhóm đối tượng này không chỉ dựa trên số tiền nợ, mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh để né tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Nói cách khác, ngưỡng 1 triệu đồng không phải là thước đo duy nhất, mà là điều kiện bổ sung trong tổng thể các dấu hiệu vi phạm đã được xác định.
Cục Thuế nhấn mạnh, tạm hoãn xuất cảnh không được áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế. Theo dự thảo, chỉ sau khi người nộp thuế đã được xác định thuộc trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; cơ quan thuế đã gửi thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh; quá 30 ngày kể từ ngày thông báo mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì biện pháp này mới được xem xét áp dụng.
Khoảng thời gian 30 ngày là khoảng đệm hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu thông tin, thực hiện nộp tiền hoặc liên hệ cơ quan thuế xử lý vướng mắc.
Thực tiễn triển khai cho thấy, đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động liên hệ cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ và được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh.
Trước đó, với đề xuất nêu trên, một số chuyên gia thuế cho rằng, ngưỡng nợ thuế tối thiểu 1 triệu đồng là quá thấp, cần nghiên cứu kỹ lưỡng, có cơ sở để đưa ra ngưỡng phù hợp hơn.
Đề nghị được nhiều chuyên gia nhắc tới là, trường hợp người nộp thuế ra đến cửa khẩu mới biết bị tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế, cơ quan chức năng nghiên cứu có một tài khoản nhận tiền nộp thuế ngay tại chỗ để nhanh chóng giải quyết khó khăn cho người nộp thuế...