Ông Nguyễn Trọng An, chuyên gia thương mại điện tử Công ty HyperCart (xã Tân Vĩnh Lộc, TP.HCM; trước là P.Tân Tạo, Q.Bình Tân, TP.HCM), cho rằng sở dĩ có vấn nạn affiliate marketing biến tướng, nguyên nhân cốt lõi nằm ở cách vận hành của mô hình này hiện nay, là lấy hiệu quả đơn hàng làm thước đo chính.
“Trong phần lớn các hệ thống affiliate, chỉ cần người dùng bấm vào link và phát sinh đơn hàng trong một khoảng thời gian nhất định, hệ thống sẽ ghi nhận và chi trả hoa hồng. Nó gần như không phân biệt người dùng đến từ nội dung nào, đúng hay sai, trung thực hay giật gân”, ông An phân tích.
Theo ông An, chính cơ chế này khiến một thực tế trớ trêu xảy ra, nội dung càng gây tò mò, càng dễ kéo “lượt nhấp chuột” thì càng có cơ hội tạo ra đơn hàng, bất kể tính xác thực.
“Cách vận hành hiện nay vô tình tạo điều kiện để nội dung sai lệch vẫn kiếm được tiền. Khi động lực tài chính không gắn với chất lượng nội dung, mà chỉ gắn với hành vi nhấp chuột và mua hàng, thì việc lệch chuẩn là điều khó tránh khỏi”, ông An nói.
Từ thực tế thị trường, ông An chỉ ra một số lỗ hổng lớn trong hệ thống affiliate hiện nay.
Đầu tiên, theo ông An ai cũng có thể tham gia làm tiếp thị liên kết. Việc đăng ký trở thành publisher (tổ chức, cá nhân sẽ quảng bá, tiếp thị sản phẩm từ nhà quảng cáo) tương đối dễ dàng, không có quy trình kiểm duyệt nội dung đầu vào. Thứ hai, thiếu cơ chế kiểm soát nội dung. Các nền tảng chủ yếu theo dõi hiệu suất (lượt nhấp chuột, đơn hàng), trong khi nội dung dẫn dắt hành vi người dùng lại nằm ngoài vùng kiểm soát trực tiếp. Thứ ba, cơ chế “có đơn là trả tiền”, dù nội dung sai lệch, giật gân hay gây hiểu nhầm, chỉ cần tạo ra giao dịch, hoa hồng vẫn được chi trả. Thứ tư, thiếu hệ thống loại bỏ và blacklist (danh sách khách hàng đen) hiệu quả. Nhiều tài khoản vi phạm có thể tiếp tục hoạt động hoặc dễ dàng tạo tài khoản mới.
“Các hệ thống affiliate gặp khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng nguồn traffic (lưu lượng truy cập vào website từ các nguồn khác nhau – PV), đặc biệt là phân biệt giữa nội dung trung thực và nội dung mang tính dẫn dụ. Bởi vì từ góc nhìn kỹ thuật, hệ thống chỉ nhìn thấy dữ liệu hành vi, chứ không “hiểu” được nội dung phía sau”, ông An nói thêm.
Trả lời về nguy cơ dài hạn, chuyên gia thương mại điện tử Đinh Hồng Công, Công ty QuickNest, (P.Khánh Hội; trước là P.8, Q.4, TP.HCM), cho rằng thị trường có thể bị lệch hướng cạnh tranh.
“Người làm nội dung nghiêm túc cần thời gian xây dựng niềm tin, đầu tư trải nghiệm. Trong khi đó, nội dung giật gân có thể đạt hiệu quả chuyển đổi nhanh hơn. Nếu không kiểm soát, thị trường sẽ bị méo mó theo hướng… ai câu được lượt nhấp chuột thì thắng”, ông Công cảnh báo.
Theo ông Công, khi đó, những người làm nội dung tử tế sẽ ngày càng khó cạnh tranh về mức độ chú ý, còn người sử dụng chiêu trò lại có lợi thế ngắn hạn.
Anh Đỗ Huỳnh Việt, nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành khoa học máy tính, ĐH Wisconsin-Madison (Mỹ), chuyên gia vận hành nền tảng số, cố vấn chiến lược nội dung cho nhiều doanh nghiệp thương mại điện tử ở Việt Nam, cho rằng các nền tảng cần chủ động siết lại hệ sinh thái affiliate.
“Các sàn thương mại điện tử nên áp dụng cơ chế kiểm duyệt publisher ngay từ đầu, yêu cầu xác minh danh tính, kênh nội dung và lĩnh vực hoạt động. Đồng thời, cần theo dõi nguồn traffic để phát hiện các dấu hiệu bất thường”, anh Việt đề xuất.
Theo anh Việt, ngoài việc đánh giá hiệu suất, nền tảng cần xây dựng hệ thống đánh giá uy tín publisher, dựa trên lịch sử hoạt động và phản hồi người dùng.
“Nguy cơ lớn nhất là mô hình affiliate bị lợi dụng để phát tán “rác nội dung”, làm giảm trải nghiệm người dùng và ảnh hưởng đến uy tín nền tảng. Nếu không kiểm soát, chính nền tảng sẽ bị tổn hại về lâu dài”, anh Việt nói.
Anh Việt cho rằng việc xây dựng hệ thống “blacklist” là khả thi nhưng cần đầu tư bài bản.
“Cần kết hợp giữa công nghệ và chính sách. Về kỹ thuật, phải có hệ thống theo dõi hành vi, phân tích dữ liệu lớn để phát hiện nội dung vi phạm. Về chính sách, phải quy định rõ tiêu chí vi phạm, quy trình xử lý và cơ chế khiếu nại minh bạch”, anh Việt chia sẻ và nói thêm: “Một thách thức lớn là tình trạng “né blacklist” bằng cách tạo tài khoản mới. Vì vậy, cần có cơ chế liên kết dữ liệu và xác thực danh tính chặt chẽ hơn”.
Ông Công đề xuất: “Về dài hạn, các nền tảng cần thay đổi cách chi trả hoa hồng để tránh nuôi nội dung độc hại. Không nên chỉ dựa vào đơn hàng. Cần bổ sung các tiêu chí như chất lượng nội dung, mức độ minh bạch, tỷ lệ hoàn trả, khiếu nại… Thậm chí, có thể ưu tiên hoặc thưởng cao hơn cho những publisher có nội dung uy tín. Điều này không chỉ giúp lọc bớt các nguồn traffic độc hại, mà còn tạo động lực cho những người làm nội dung nghiêm túc. Bên cạnh các biện pháp kiểm soát, điều quan trọng không kém là tạo ra một hướng phát triển lành mạnh để dẫn đường cho affiliate marketing”.
Ông An cho rằng muốn hệ sinh thái affiliate phát triển bền vững, cần chuyển trọng tâm từ “đơn hàng” sang “giá trị nội dung”.
“Hiện nay, phần thưởng chủ yếu dựa trên số đơn hàng, nên người làm nội dung dễ bị cuốn vào cuộc đua câu “lượt nhấp chuột”. Nếu không thay đổi, mô hình này sẽ tự bào mòn chính nó”, ông An nhận định.
Theo ông An, các nền tảng cần khuyến khích người sáng tạo nội dung làm nội dung chất lượng, như đánh giá sâu, trải nghiệm thật, phân tích rõ ưu và nhược điểm sản phẩm.
“Thiết nghĩ, nên có những giải pháp như: xây dựng hệ thống đánh giá uy tín publisher, ưu tiên hiển thị nội dung minh bạch, có kiểm chứng, gắn nhãn “nội dung đã xác minh”, thưởng cao hơn cho nội dung chất lượng thay vì chỉ dựa vào đơn hàng. Và quan trọng hơn, cần xây dựng một hệ sinh thái người sáng tạo nội dung uy tín, nơi người làm nội dung tử tế có lợi thế cạnh tranh thực sự”, ông An nói.
Ông An cũng cho rằng nhằm giải quyết triệt để vấn đề, cần sự phối hợp từ nhiều phía. Chẳng hạn như cơ quan quản lý rà soát quy định về tin giả gắn với mục đích thương mại, tăng chế tài xử phạt, các nền tảng kiểm duyệt publisher, theo dõi nguồn traffic, loại bỏ tài khoản vi phạm. Còn người làm nội dung phải nâng cao đạo đức nghề nghiệp, minh bạch thông tin. Người dùng phải cảnh giác với nội dung giật tít, chủ động báo cáo vi phạm. Qua đó không thể để “rác nội dung” lấn át.
“Nếu không kiểm soát, “rác nội dung” sẽ tiếp tục lan rộng và làm méo mó môi trường thông tin. Khi đó, không chỉ người tiêu dùng bị ảnh hưởng, mà chính hệ sinh thái thương mại điện tử cũng bị tổn hại”, ông An nhấn mạnh
Hơn một thập kỷ đồng hành cùng chương trình Tiếp sức mùa thi, chị Nguyễn Thị Thanh Xuân (cựu sinh viên Trường ĐH Văn hóa TP.HCM) xem đây là một phần thanh xuân không thể tách rời. Từ năm 2005 đến 2018, chị đi qua nhiều vai trò, từ tình nguyện viên đến đội phó rồi đội trưởng đội hình tại bến xe Chợ Lớn (TP.HCM).
Đến với chương trình từ năm nhất đại học, khi ấy lý do đơn giản chỉ vì yêu thích hoạt động xã hội, tình nguyện. Nhưng càng tham gia, sự gắn bó càng sâu đậm. Chị Xuân cho biết là người con của tỉnh Bình Định cũ, chị từng khăn gói vào TP.HCM dự thi nên hiểu rõ những bỡ ngỡ, lo lắng của thí sinh tỉnh lẻ. Sự đồng cảm ấy trở thành động lực để chị ở lại với chương trình lâu dài.
Chị Xuân kể những năm đầu, đội hình chị tham gia chỉ khoảng hơn 40 người, hoạt động tại bến xe Chợ Lớn, nơi đón nhiều thí sinh đổ về mỗi mùa thi. Công việc cụ thể là hướng dẫn đường đi, chỉ tuyến xe buýt đến nhà trọ, điểm thi cho thí sinh…
“Nhìn bạn nào vừa bước xuống xe trông giống thí sinh là chúng tôi tiếp cận và hỗ trợ ngay để tránh bị chèo kéo”, chị kể và cho biết vào những ngày cao điểm, khi thí sinh từ các tỉnh đổ về TP.HCM ôn và dự thi đông, các đội hình gần như hoạt động liên tục.
“Chúng tôi túc trực tại bến xe từ sáng đến chiều, ngày cao điểm thì đi sớm và về muộn hơn. Ai rảnh giờ nào thì đăng ký ca trực giờ đó. Có lúc vừa học, vừa thi và đi hỗ trợ thí sinh, cảm giác như ‘chạy show’ vậy. Việc dang nắng, dầm mưa cũng là điều hết sức bình thường. Dù vất vả, nhưng không khí lúc đó rất sôi nổi”, chị kể.
Trong ký ức của chị Xuân, mỗi mùa thi là một câu chuyện riêng, nhưng đều đọng lại cảm xúc rất thật. Một trong những kỷ niệm khiến chị nhớ mãi là lần hỗ trợ một thí sinh bị thất lạc giấy tờ.
“Hôm đó bạn ấy đi làm thủ tục dự thi bằng xe buýt, xuống xe mới phát hiện bỏ quên giấy tờ nhưng không nhớ xe nào. Bạn hoảng loạn rồi bật khóc. Tụi mình vừa trấn an, vừa chia nhau đi tìm. Có nhóm liên hệ ban tổ chức, có nhóm ra khu điều hành bến xe nhờ hỗ trợ, có người đứng ở điểm đậu xe để hỏi các bác tài. May mắn cuối cùng cũng kịp tìm lại được giấy tờ cho bạn”, chị kể.
Không chỉ là công việc hỗ trợ thí sinh, với chị Xuân, Tiếp sức mùa thi còn là nơi gắn kết những con người xa lạ thành một tập thể thân thiết. “Ban đầu là người lạ, nhưng khi vào đội thì như một gia đình. Hầu như 2/3 thành viên năm trước sẽ tiếp tục tham gia ở năm sau. Chúng tôi có nhiều năm gắn bó với nhau nên đến bây giờ vẫn còn giữ liên lạc và gặp gỡ”, chị nói.
Tham gia chương trình ở những năm đầu tiên, chị Xuân cho biết thời điểm ấy điều kiện còn nhiều thiếu thốn. “Hồi đó chưa có hỗ trợ cơm cho tình nguyện viên nên chúng tôi mang theo nồi cơm điện ra bến xe nấu, ai ở gần thì nấu thêm đồ ăn, rồi trưa quây quần lại ăn với nhau. Những bữa cơm giản dị ấy lại trở thành ký ức ấm áp, gắn kết cả đội", chị Xuân chia sẻ.
Việc hỗ trợ thí sinh cũng không dễ dàng như hiện nay. Theo chị Xuân, thời đó không có điện thoại thông minh hay internet phổ biến, các tình nguyện viên phải tự học thuộc lịch trình các tuyến xe buýt để hướng dẫn thí sinh chính xác. “Chỉ cần thí sinh hỏi là trả lời ngay, nhanh nhưng vẫn phải chính xác. Sau này khi làm đội trưởng, tôi còn in lịch trình ra cho các bạn học, lâu lâu ‘dò bài’, hỏi lại xem nhớ chưa, vì chỉ sai một chút là ảnh hưởng đến thí sinh”, chị Xuân kể.
Việc liên lạc khi ấy cũng hạn chế, theo chị Xuân nhiều thành viên chỉ dùng điện thoại “cục gạch”, thậm chí không có điện thoại nên thường có thông báo gì sẽ nhắn qua Yahoo. Việc di chuyển thì chủ yếu bằng xe buýt. “Hồi đó tôi ở trọ bên Q.2 cũ, sáng nào cũng dậy sớm đi bộ ra trạm xe buýt đến bến xe Chợ Lớn đi trực. Cực nhưng vui, lúc nào cũng háo hức”, chị nhớ lại.
Giờ đây, khi không còn trực tiếp tham gia, chị Xuân và một số thành viên khi ấy vẫn đều đặn có mặt trong các buổi lễ ra quân của chương trình Tiếp sức mùa thi. Mỗi lần như vậy, những ký ức cũ lại ùa về, nguyên vẹn và sống động.
Nhìn lại hành trình 25 năm của Tiếp sức mùa thi, chị không giấu được niềm tự hào. Theo chị, chương trình đã phát triển mạnh mẽ hơn, được xã hội biết đến rộng rãi, nhận được nhiều nguồn lực hỗ trợ. Công nghệ cũng giúp việc kết nối, tư vấn, hỗ trợ thí sinh thuận tiện hơn rất nhiều. “Bây giờ các bạn có điều kiện tốt hơn chúng tôi ngày xưa, đỡ tốn công sức, thời gian hơn”, chị nói.
Với chị Xuân, Tiếp sức mùa thi không chỉ là một hoạt động tình nguyện, mà là một phần ký ức thanh xuân tươi đẹp, nơi những ngày vất vả lại trở thành những ngày đáng nhớ nhất và những con người xa lạ trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc đời.
Biến kiến thức chuyên môn thành động lực khởi nghiệp, đến nay chị Giang đã vượt qua những thất bại ban đầu để khẳng định giá trị của nông nghiệp sạch.
Tốt nghiệp chuyên ngành công nghệ sinh học tại Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, chị Giang sớm gắn bó với công tác chuyên môn tại Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm TP.HCM từ năm 2012. Những năm tháng trực tiếp làm việc trong ngành giúp chị thấu hiểu nỗi trăn trở của người dân đô thị về nông nghiệp sạch.
"Từng là sinh viên công nghệ sinh học và là cán bộ kiểm soát an toàn thực phẩm, tôi hiểu rất rõ sự nguy hiểm của các loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sức khỏe con người. Chính điều đó luôn thôi thúc tôi phải khởi nghiệp một cái gì đó thực sự sạch, thực sự an toàn. Mặc dù được làm việc trong môi trường điều kiện tốt với mức lương ổn định, nhưng bản thân tôi muốn có một hướng đi hoàn toàn mới", chị Giang bộc bạch.
Sau khi nghỉ việc, năm 2022, chị bắt đầu thực hiện giấc mơ của mình: thuê 2.000 m² đất ở P.An Phú Đông để làm vườn rau thủy canh. Chị chọn những loại rau quen thuộc như rau muống, cải, xà lách làm hướng đi đầu tiên; bắt đầu lắp giàn, xây dựng hệ thống áp dụng kỹ thuật thủy canh hồi lưu, kết hợp phun sương mát trên lá và đầu tư hạ tầng kỹ thuật hết 300 triệu đồng.
"Khi bắt tay vào làm, tôi gặp không ít khó khăn; việc kiên quyết nói không với thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trị nấm hóa học khiến vườn rau của tôi thường xuyên bị sâu bệnh. Thời gian đầu, nhiều cây chết, năng suất sụt giảm khiến tôi luôn rơi vào cảnh hụt vốn liên tục", chị Giang nhớ lại.
Không đầu hàng, chị Giang dùng chính kiến thức chuyên môn về công nghệ sinh học để tìm ra các giải pháp thay thế. Thay vì dùng hóa chất, chị nghiên cứu áp dụng các phương pháp vi sinh, dù tốn thời gian hơn nhưng đảm bảo hệ sinh thái trong vườn được bền vững và sản phẩm đầu ra hoàn toàn sạch.
Sau những thất bại, chị Giang bắt đầu gặt hái được những "quả ngọt". Những luống rau bắt đầu phát triển tốt, xanh mướt. Từ khi ươm mầm đến lúc xuất bán, rau muống là từ 25 - 30 ngày, còn các loại cây cải cần khoảng 30 - 45 ngày. Hiện tại, mỗi ngày chị Giang cung cấp ra thị trường khoảng 70 kg rau sạch, giá bán ổn định từ 40.000 - 60.000 đồng/kg. Mỗi năm sau khi trừ các chi phí, thu nhập của chị khoảng 150 triệu đồng.
Năm 2025, sau khi đã làm chủ được kỹ thuật thủy canh hồi lưu, chị Giang bắt đầu một thử nghiệm táo bạo hơn khi đưa cây rau càng cua lên giàn.
"Đây là loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, được ưa chuộng trong đông y nhờ tính mát, thanh nhiệt. Tuy nhiên, để trồng thủy canh loại rau này không hề đơn giản. Khó nhất là khâu chọn và tạo cây giống, giai đoạn này mất rất nhiều thời gian và công sức. Phải chăm dưỡng cây giống thật khỏe mạnh, bộ rễ phát triển tốt thì khi lên giàn mới đạt được năng suất như kỳ vọng", chị Giang chia sẻ.
Theo chị Giang, so với các loại xà lách hay cải, rau càng cua rất ít bị sâu bệnh tấn công, giúp chị giảm bớt áp lực về việc quản lý dịch hại bằng phương pháp vi sinh.
"Đây là hướng đi hoàn toàn mới, lại phù hợp là loại rau mà nhu cầu tiêu dùng tại TP.HCM rất lớn nhưng nguồn cung rau sạch đạt chuẩn khá khan hiếm. Rau càng cua thủy canh không chỉ sạch mà còn giữ được độ giòn, mọng nước và vị đặc trưng, rất dễ chiếm lĩnh thị trường", chị Giang nói.
Bà Nguyễn Thị Huệ, Phó giám đốc Trung tâm Ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao TP.HCM, nhận định mô hình của chị Giang là một điển hình tiêu biểu về nông nghiệp bền vững. Theo bà Huệ, nhờ làm chủ công nghệ trồng rau thủy canh hồi lưu, mô hình đã tối ưu hóa chi phí phân bón, nước tưới và thuốc bảo vệ thực vật. Việc ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học không chỉ bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo nông sản sạch, an toàn cho người tiêu dùng.
Bà Huệ cũng cho biết thành công của mô hình không chỉ giải quyết bài toán rau sạch đô thị mà còn tạo việc làm, nâng cao trình độ kỹ thuật cho lao động địa phương.
Ngày 10.5, tại P.Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh diễn ra Ngày hội "Trao sức khỏe công nhân - Vì một Việt Nam khỏe mạnh" năm 2026, do Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, T.Ư Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh phối hợp tổ chức, với sự đồng hành của Công ty Mega We Care Việt Nam.
Tham dự chương trình có ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên T.Ư Đảng, Phó chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động VN; ông Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh; ông Ngô Văn Cương, Phó bí thư chuyên trách Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể T.Ư; anh Nguyễn Hữu Tú, Ủy viên BCH, Phó trưởng ban Công tác Thanh thiếu nhi T.Ư Đoàn, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam.
Phát biểu khai mạc chương trình, ông Nguyễn Anh Tuấn cho biết ngày hội được tổ chức trong không khí Tháng Công nhân, hướng tới kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là hoạt động thiết thực nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 17 của Thủ tướng Chính phủ về chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. Trong đó, việc khám sàng lọc, khám chuyên sâu cho người lao động được xác định là nhiệm vụ quan trọng, góp phần bảo vệ nguồn lực lao động của đất nước.
Theo ông Tuấn, những năm qua, các cấp công đoàn đã rất nỗ lực trong việc cải thiện điều kiện làm việc, phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Nhiều doanh nghiệp ngày càng quan tâm hơn tới sức khỏe người lao động, bởi đây là yếu tố trực tiếp tác động đến năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay vẫn còn nhiều thách thức. Áp lực công việc gia tăng, nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp, các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm ngày càng phổ biến. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số và thay đổi mô hình sản xuất, sức khỏe thể chất và tinh thần của công nhân đang chịu nhiều tác động. Ông Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh nếu sức khỏe người lao động không được đảm bảo, kỷ luật lao động và năng suất lao động sẽ bị ảnh hưởng, kéo theo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp suy giảm.
Từ thực tiễn đó, ông Tuấn nêu rõ 3 mục tiêu lớn của chương trình. Trước hết là thúc đẩy tinh thần "phòng bệnh hơn chữa bệnh", hình thành thói quen sống lành mạnh, ăn uống khoa học, rèn luyện thể chất thường xuyên. Thứ hai, đặt sức khỏe người lao động vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Theo ông Tuấn, phát triển kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của người dân được nâng lên. Thứ ba là huy động nguồn lực từ nhà nước, công đoàn, doanh nghiệp và xã hội để tạo nền tảng chăm sóc sức khỏe bền vững cho công nhân.
Ông Tuấn cho biết riêng tại Bắc Ninh, chương trình triển khai khám sức khỏe cho khoảng 10.000 công nhân lao động, trong đó ngày đầu tiên có quy mô khoảng 3.000 người, gồm khám tổng quát và khám chuyên đề. Đây cũng là mô hình thí điểm để hướng tới mục tiêu lâu dài: mọi công nhân lao động đều được khám sức khỏe định kỳ miễn phí ít nhất một lần mỗi năm.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, thời gian tới, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng, doanh nghiệp để hoàn thiện cơ chế tài chính, bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của người lao động. Theo đó, ngân sách Công đoàn dự kiến hỗ trợ chi trả tối đa 500.000 đồng/người/năm đối với công nhân lao động có nhu cầu khám chuyên đề, khám chuyên sâu và tầm soát bệnh, qua đó góp phần giảm gánh nặng chi phí và nâng cao cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cho người lao động.
Phát biểu tại ngày hội, ông Nguyễn Hồng Thái khẳng định việc chăm lo sức khỏe cho công nhân, người lao động không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Ông Thái đánh giá chương trình là hoạt động thiết thực nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị về đột phá trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, hướng tới mục tiêu xây dựng một Việt Nam khỏe mạnh.
Nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ông Thái nhìn nhận sức khỏe người lao động là tài sản quý giá của doanh nghiệp, là nguồn lực phát triển của địa phương và đất nước. Với hơn 800.000 lao động và trên 6.000 tổ chức công đoàn, Bắc Ninh xác định việc chăm sóc sức khỏe công nhân là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, gắn với chiến lược phát triển bền vững của tỉnh.
Ông Thái cũng cam kết địa phương sẽ quyết tâm cùng cả nước hoàn thành mục tiêu khám sức khỏe miễn phí định kỳ cho 50% đối tượng ngay trong quý 2, đồng thời đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến tận nhà máy, khu công nghiệp và khu nhà trọ công nhân. Cùng với đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, thiết chế công đoàn, hệ thống y tế cơ sở và các chính sách hỗ trợ giáo dục, y tế cho con em công nhân.
"Tiếp tục đưa hoạt động chăm sóc sức khỏe đến tận nhà máy, khu công nghiệp và nhà trọ của công nhân, không để công nhân lao động phải tự xoay xở một mình trước các vấn đề về sức khỏe", ông Nguyễn Hồng Thái nhấn mạnh. Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp nâng cao nhận thức rằng đầu tư cho sức khỏe người lao động chính là đầu tư cho năng suất, lợi nhuận và sự phát triển lâu dài.
Chia sẻ tại chương trình, ông Đặng Thanh Nghiêm, Giám đốc kinh doanh Công ty TNHH Mega We Care, đại diện đơn vị đồng hành, cho rằng trong hành trình phát triển và vươn lên mạnh mẽ của đất nước, người lao động luôn là lực lượng nòng cốt tạo nên giá trị mỗi ngày và góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế cũng như ổn định xã hội. Tuy nhiên, phía sau những đóng góp ấy là không ít áp lực về sức khỏe do cường độ làm việc, môi trường lao động và nhịp sống ngày càng nhanh, đòi hỏi mỗi người cần được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ tốt hơn để duy trì thể lực, tinh thần và chất lượng cuộc sống lâu dài. Chính vì vậy, việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người lao động không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mà còn là sự quan tâm sâu sắc của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.
Theo ông Nghiêm, chương trình "Trao sức khỏe công nhân - Vì một Việt Nam khỏe mạnh" không chỉ đơn thuần là một hoạt động khám, tư vấn sức khỏe, mà còn là hành động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, giúp người lao động hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của mình, từ đó chủ động phòng bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. "Chúng tôi mong muốn mang đến những giải pháp chăm sóc sức khỏe phù hợp, dễ áp dụng, uy tín, chất lượng, dựa trên nền tảng khoa học và thực sự hữu ích trong đời sống hằng ngày của anh chị em công nhân. Mega We Care cam kết sẽ tiếp tục đồng hành lâu dài cùng các chương trình vì cộng đồng, đặc biệt là những hoạt động hướng tới người lao động", ông Nghiêm khẳng định.
Dịp này, ban tổ chức đã trao tặng 110 phần quà cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn; bị ảnh hưởng bởi bệnh tật, tai nạn lao động hoặc có hoàn cảnh gia đình đặc biệt.