Huế, vùng đất được mệnh danh là kinh đô của Phật giáo Việt Nam, luôn mang một vẻ đẹp trầm mặc, sâu lắng. Giữa sông Hương, núi Ngự, có một chốn thiền môn lặng lẽ mà thời gian dường như chậm lại, giúp lòng người tìm thấy bình yên: đó chính là chùa Quốc Ân – ngôi chùa cổ kính bậc nhất xứ Huế.
Nằm dưới chân đồi Hòn Thiên, phía tây núi Ngự Bình (phường Trường An, thành phố Huế), chùa Quốc Ân ẩn mình trong không gian xanh mát, xa rời ồn ào phố thị.
Từ trung tâm thành phố, men theo đường Đặng Huy Trứ chỉ vài phút, du khách đã bắt gặp cổng tam quan cổ kính, giản dị mà trang nghiêm. Hương nhang thoang thoảng, tiếng chuông ngân vang chậm rãi như nhắc nhở về vô thường, tạo nên một không gian thiền tịnh đặc trưng.
Chùa được thiền sư Nguyên Thiều (người Quảng Đông, Trung Quốc, đời thứ 33 thiền phái Lâm Tế) khai sơn vào khoảng năm 1682-1684 dưới thời chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần. Ban đầu chùa mang tên Vĩnh Ân, đến năm 1689 được chúa Nguyễn Phúc Thái ban sắc tứ đổi thành Quốc Ân – nghĩa là “ân đức của quốc gia”, thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa Phật giáo và triều đình Đàng Trong.
Trải qua hơn 340 năm, chùa đã chứng kiến bao thăng trầm lịch sử từ thời chúa Nguyễn, Tây Sơn đến triều Nguyễn. Nhiều lần được trùng tu lớn (1806, 1822, 1851…), kiến trúc chùa theo kiểu chữ “khẩu” truyền thống Huế, với điện Đại Hùng xây theo lối “trùng thiềm điệp ốc”.
Những cột gỗ lim vững chãi, mái chạm trổ tinh xảo, họa tiết tùng lộc, ngũ phúc… toát lên vẻ đẹp vừa cung đình vừa thanh tịnh thiền môn. Qua bao năm tháng, chùa Quốc Ân xuống cấp theo thời gian và khí hậu khắc nghiệt tại chốn kinh kỳ này.
Vào những năm đầu thế kỷ 21, khi thầy Thích Minh Chơn về làm giám tự tại chùa Quốc Ân, thầy đã phát nguyện làm cuộc đại trùng tu ngôi tổ đình Quốc Ân, để gìn giữ và phát triển đạo pháp. Cho đến hôm nay, hơn 98% ngôi chùa đã được trùng tu một cách khang trang, tuân thủ đến từng chi tiết của ngôi chùa cũ đã có hàng trăm năm nay.
Từ ngày 7.4.2026, Thư viện Huệ Quang TP.HCM chính thức khởi động đợt sưu khảo tư liệu Phật giáo tại Huế, kéo dài trong một tháng. Tại đây, đoàn phát hiện chùa Quốc Ân còn lưu giữ được nhiều kinh sách Hán Nôm quý giá, trong đó có những bản khắc in từ thời Lê Trung Hưng – những di sản quý báu phản ánh sinh hoạt tu học và truyền bá Phật pháp qua các triều đại.
Từ sáng 9.4 vừa qua, các thành viên trong đoàn khảo cứu của Thư viện Huệ Quang làm việc với tinh thần thận trọng, khoa học: phân loại, chụp ảnh, số hóa kinh sách Hán Nôm, mộc bản, liễn đối cổ, long vị tổ, pháp quyển, đồng thời ghi nhận hệ thống kiến trúc, tượng thờ và pháp khí.
Toàn bộ quy trình được thực hiện cẩn trọng, hạn chế tối đa tác động đến hiện trạng di vật, nhằm đảm bảo giá trị nghiên cứu lâu dài, định hướng dài hạn trong công tác bảo tồn và nghiên cứu tư liệu Phật giáo Việt Nam.
Như thầy Thích Minh Chơn, trụ trì Chùa Quốc Ân nói: “Mỗi bản kinh, mỗi tấm mộc bản, mỗi chi tiết kiến trúc tại tổ đình Quốc Ân không chỉ là di sản vật chất mà còn là “kho lưu trữ sống” của lịch sử văn hóa, tôn giáo. Nên nhà chùa từ đời này qua đời khác đã dày công gìn giữ…”. Thật vậy! Công việc sưu khảo chính là hành trình lặng lẽ nhưng bền bỉ, góp phần ghi lại và phục dựng ký ức văn hóa đang dần mai một theo thời gian.
Theo nhận định của đoàn khảo sát của Thư viện Huệ Quang và các bậc tỳ kheo thông thạo kinh sách Hán Nôm và qua tìm hiểu của những chuyên gia khảo cứu, tổ đình Quốc Ân không chỉ lưu trữ những Di sản vô giá về thiền phái, truyền thừa, nghệ thuật và văn hóa mà nơi đây còn lưu trữ hệ thống thư tịch Hán Nôm Phật giáo mang giá trị lớn, tính nghiên cứu cao, hiện tồn độc bản.
Trong số di sản Hán Nôm Phật giáo hiện còn tồn tại ở tổ đình Quốc Ân có bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Thai Tông Hội Nghĩa, còn gọi là Pháp Hoa Hội Nghĩa hiện còn đủ bộ 8 cuốn. Bản kinh ra đời tại Trung Hoa vào giai đoạn giao tranh của 2 triều đại Minh – Thanh niên hiệu Thuận Trị thứ 6 (nhà Thanh), Vĩnh Lịch thứ 3 (nhà Minh) (1649 bắt đầu trước tác, 1650 hoàn thành).
Giữa khoảng chuyển giao lịch sử ấy, thiền sư Trí Húc tự xưng là Tư Thục Thiên Thai đã nghiên cứu sâu tư tưởng Pháp Hoa của ngài Trí Giả đại sư lĩnh ngộ giáo nghĩa tông Thiên Thai.
Qua quá trình nghiên cứu, đại sư Trí Húc cho rằng những ghi chép của tôn giả Chương An tạo thành Pháp Hoa tam đại bộ do Trí Giả đại sư giảng dạy, dẫu có phù hợp ý của đại sư nhưng văn nghĩa có thể chưa toàn chuẩn. Còn đối với 2 tác phẩm của tôn giả Kinh Khê Trạm Nhiên, đại sư lại cho rằng tuy văn nghĩa sâu sắc, hiển bày được chỗ cốt yếu nhưng chưa tỏ hết được diệu nghĩa. Cho nên, Trí Húc đại sư trên cơ sở của “tam bộ nhị sớ” đã dung hội giáo nghĩa tư tưởng của các bản kinh, các thế hệ tổ sư tông Thiên Thai, trước tác tác phẩm Pháp Hoa Hội Nghĩa theo quan điểm của bản thân, đồng thời chia thành chương, mục để người học đương thời dễ nắm bắt.
Tổ đình Quốc Ân không chỉ lưu trữ những di sản vô giá về thiền phái, truyền thừa, nghệ thuật và văn hóa mà nơi đây còn lưu trữ hệ thống thư tịch Hán Nôm Phật giáo mang giá trị lớn
ẢNH: ĐÀO MINH TUẤN
Văn bản Pháp Hoa Hội Nghĩa đầu tiên truyền vào nước ta chưa thể xác định, đến nay tại một số tổ đình khu vực miền Trung và Trung Nam bộ còn lưu trữ được một số bản nhưng còn khiếm khuyết và không nguyên bản. Trong số những bản hiện tồn thì bản kinh ấn tống tại chùa Quốc Ân trên bảng gỗ khắc in ghi lại là năm khắc in là năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731) tức là bản kinh này đã in cách đây 295 năm, còn lưu gần như đầy đủ các trang phương danh công đức, đây là phần quan trọng nhất lưu dấu về chư vị tổ sư các thiền phái và vương tử, hội chủ phát tâm ấn tống kinh. Đồng thời là minh chứng cho vị thế của bản kinh trong các thiền phái.
Qua khảo sát, bộ Kinh Pháp Hoa còn lưu giữ tại chùa Quốc Ân gồm 16 quyển giảng giải Kinh Pháp Hoa theo mô tuýp trước giải thích đề mục, sau sớ giải nội dung của 28 phẩm trong kinh.
Toàn kinh chia thành 16 quyển, số quyển này được ghi trong phần bản tâm của mỗi cuốn sách. Đây là số quyển mà tác giả phân chia khi trước tác chứ không phải số quyển vật lý (số cuốn sách) hoặc các quyển trước từng chi phần.
Cấu trúc và cách bố trí các chi phần kinh như sau: Toàn kinh được đóng thành 8 cuốn sách, mỗi cuốn sách là 1 hoặc 2 quyển, chứa nội dung từ 2 đến 4 chi phần. Tổng cộng cấu trúc của bản Pháp Hoa Hội Nghĩa gồm có: 16 quyển/18 chi phần/28 phẩm Kinh Pháp Hoa; cuối mỗi chi phần có thêm trang phương danh công đức khắc in kinh hiện vẫn còn nguyên vẹn tại chùa Quốc Ân mặc dù đã trải qua 295 năm kể từ ngày bản kinh được ấn tống.
Có thể nói tổ đình Quốc Ân không chỉ là một danh lam cổ tự mà còn là minh chứng sống động cho dòng chảy của thiền phái Lâm Tế tại Đàng Trong. Và sự gìn giữ của các thế hệ tỳ kheo của chùa cùng công việc số hóa các văn bản kinh sách là sự tiếp nối ý nghĩa, góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị di sản Phật giáo Việt Nam đến mai sau.
Bến cảng cao cấp Ao Tiên vừa triển khai chính sách miễn phí cho dân đảo, áp dụng từ ngày 1.5.2026 đến 30.5.2027, nhằm giảm gánh nặng chi phí đi lại cho người dân tại các đảo thuộc đặc khu Vân Đồn và Cô Tô.
Theo thông báo, chính sách cảng Ao Tiên miễn phí cho dân đảo sẽ áp dụng miễn 100% vé hành khách qua cảng đối với cán bộ, chiến sĩ, công chức, viên chức đang công tác tại các đảo Minh Châu, Quan Lạn, Thắng Lợi, Ngọc Vừng, Bản Sen. Đây là lực lượng thường xuyên di chuyển giữa đất liền và đảo để phục vụ nhiệm vụ, nên việc miễn phí được đánh giá là thiết thực.
Bên cạnh đó, chính sách cảng Ao Tiên miễn phí cho dân đảo cũng quy định giảm 50% giá vé đối với người dân có hộ khẩu thường trú tại các đảo nêu trên. Đặc biệt, một số nhóm đối tượng yếu thế như người cao tuổi từ 70 tuổi trở lên và trẻ em từ 3 - 5 tuổi sẽ được miễn hoàn toàn phí qua cảng.
Động thái này được triển khai sau phản ánh của Báo Thanh Niên qua bài viết "Ngăn sông cấm chợ phiên bảo cảng Ao Tiên". Sau đó, Thường trực Đảng ủy và UBND đặc khu Vân Đồn đã họp bàn và giải quyết các phản ánh của người dân liên quan đến chi phí dịch vụ tại cảng. Việc cảng Ao Tiên miễn phí cho dân đảo được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ áp lực "phí chồng phí" trong thời gian qua.
Trước đó, nhiều ý kiến cho rằng chi phí qua cảng Ao Tiên ở mức cao, cộng với giá nhiên liệu tăng đã khiến chi phí đi lại và vận chuyển hàng hóa ra đảo bị đội lên đáng kể. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân, đặc biệt là người dân ở các đảo tiền tiêu.
Việc triển khai chính sách cảng Ao Tiên miễn phí cho dân đảo không chỉ giúp giảm chi phí đi lại mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, sinh hoạt và tiếp cận dịch vụ thiết yếu của người dân.
Đại diện cảng Ao Tiên cho biết, người thuộc diện miễn, giảm cần xuất trình căn cước công dân, thông tin trên ứng dụng VNeID hoặc giấy tờ chứng minh công tác để được hưởng chính sách.
Triển lãm ảnh Lyon - TP.HCM được Tổng lãnh sự quán Pháp tại TP.HCM tổ chức nhân kỷ niệm 53 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Pháp và Việt Nam. Hai nhiếp ảnh gia được chọn ảnh cho cuộc triển lãm cũng là một điểm nhấn của tình hữu nghị.
Các bức ảnh về TP.HCM do nhiếp ảnh gia người Pháp Adrien Jean sinh sống tại Việt Nam từ năm 2014, thực hiện. Còn tác giả của những bức ảnh về TP.Lyon là nhiếp ảnh gia Tony Noël, người Pháp gốc Việt, chuyên khai thác các góc ảnh về đời sống thị thành, từng hợp tác với TP.Lyon trong quá trình trang trí các tuyến tàu điện.
Tại buổi khai mạc triển lãm, Tổng lãnh sự Pháp tại TP.HCM Etienne Ranaivoson nhắc lại việc hai nước đã nâng tầm quan hệ song phương lên mức đối tác chiến lược toàn diện, được ký kết vào tháng 10.2024 trong chuyến thăm Pháp của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Quan hệ Việt - Pháp đã và đang được củng cố trên nhiều phương diện, trong đó có mối quan hệ kết nghĩa giữa TP.Lyon và TP.HCM, thiết lập từ năm 1990 và được cụ thể hóa qua nhiều chương trình hợp tác về văn hóa, kinh tế, giáo dục… Có thể kể đến các công trình ở TP.HCM đã được Lyon - vốn có tên cổ là Lugdunum (Pháo đài Ánh sáng) và nổi tiếng về chiếu sáng mỹ thuật đô thị, hỗ trợ về lãnh vực này: Bến Nhà Rồng (Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh TPHCM), UBND TP, Nhà hát Lớn, Bưu điện Trung tâm, Bảo tàng Mỹ thuật, Tòa nhà Kho bạc Nhà nước TPHCM…
Bên cạnh những chương trình hợp tác, TP.HCM và Lyon còn rất "gần" nhau qua nhịp sống đô thị năng động. "Hai thành phố chia sẻ với nhau một điểm chung, đó là đời sống bên bờ một dòng sông lớn. Điều này cũng dẫn đến những thách thức chung, đặc biệt là khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững", ông Ranaivoson nhận định. Lát cắt của đô thị ven sông cũng được thể hiện rõ nét trong hai bức ảnh của triển lãm, dù là TP.HCM hay Lyon thì khu vực bờ kè cũng đều là nơi người dân có thể ra để câu cá, đi dạo, trượt ván, hay đơn giản chỉ là ngồi nghỉ chân trò chuyện giữa một ngày bận rộn với công việc.
Những hình ảnh rất đời thường, nhưng rất đồng điệu của hai thành phố cách xa nhau hàng vạn cây số, từ những tiểu thương, những người bán dạo, đến cảnh ngồi nhâm nhi ở hàng hiên các quán xá…
Đây cũng là điều mà Phó Thị trưởng Lyon Christophe Jaquemain nhấn mạnh trong những chia sẻ gửi đến triển lãm: "Qua từng bức ảnh, những mảnh ghép của thị thành, những khoảnh khắc của cuộc sống đã đối thoại với nhau. Nhiếp ảnh mời gọi chúng ta có cái nhìn chăm chú hơn đến các không gian đô thị, đồng thời cũng thể hiện những yếu tố làm hai thành phố trở nên gần gũi hơn: sự sinh động, tính sáng tạo và sự cởi mở với thế giới".
Về phần của nhiếp ảnh gia trẻ Adrien Jean, từ chỗ chụp ảnh để có thêm tư liệu về TP.HCM, anh đã bị "nhịp sống sinh động không ngờ" của thành phố thu hút nên dùng ống kính "như một ngôn ngữ, một cách quan sát, thấu hiểu và kết nối" với nơi đã chọn sinh sống từ hơn 11 năm qua.
Tham gia triển lãm, anh Adrien hy vọng có thể "chia sẻ phần nào năng lượng, sự tương phản và tính nhân văn đã làm nên sự phong phú của thành phố này", đồng thời cũng là dịp xây nhịp cầu kết nối đời sống thường nhật của người Việt và người Pháp tại TP.HCM và Lyon.
Bà là Võ Thị Hồng, người phụ nữ đầu tiên của miền Tây được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động khi mới 36 tuổi.
Tôi tìm đến nhà bà Võ Thị Hồng (tên thường gọi Bảy Hồng) khi nắng chiều đã nhạt màu trên những cánh đồng lúa ở xã Tuyên Thạnh. Thật khó hình dung nổi, màu vàng óng của cánh đồng lúa mang vẻ no ấm kia từng là màu đỏ quạch của phèn chua.
Bà Bảy Hồng tiếp tôi bằng nụ cười đôn hậu trên gương mặt "rặt" nông dân Nam bộ. Đến khi bà giới thiệu về những tấm ảnh cũ, tôi lại thấy một gương mặt khác, gương mặt của một thời lẫy lừng. Bà không kể nhiều về danh hiệu Anh hùng Lao động, mà kể về những vết sẹo. Đôi bàn tay của bà sạm nắng, chi chít vết sẹo nhỏ - chứng tích của những ngày cày xới đất phèn.
"Hồi đó, lằn ranh giữa sống và chết mỏng như sợi tóc" - bà Bảy nhớ lại, ánh mắt nhìn xa xăm về phía dải đất mà bà gọi là "vùng giải phóng". Những năm 1971 - 1972, bà Bảy khi đó là cô gái mười tám, đôi mươi, vừa làm ruộng vừa làm giao liên. Tiếng máy cày trên đồng cạn khi ấy thường bị át đi bởi tiếng pháo bắn phá dữ dội. "Đang cày mà pháo bắn đùng đùng, chưa kịp định thần là phải nhảy xuống sình tránh đạn. Nguy hiểm lắm, đâu chỉ đơn thuần là làm ruộng kiếm miếng ăn", bà Bảy kể.
Cái chất thép của một nữ giao liên thời chiến đã nhào nặn nên một Bảy Hồng không biết cúi đầu trước khó khăn. Sau ngày đất nước thống nhất, bà lại bước vào một cuộc chiến khác: cuộc chiến với cái đói và sự khắc nghiệt của "túi phèn" Đồng Tháp Mười.
Bà Bảy Hồng kể ngày ấy Đồng Tháp Mười là vùng đất hoang, ít ai muốn đặt chân tới. Câu ca "muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh" không phải là lời nói quá. Cỏ dại cao lút đầu người, phèn chua đến mức cây lúa vừa bén rễ đã vàng lá rồi chết rũ. Người dân quanh vùng nhìn 36 ha đất hoang hóa mà lắc đầu ngao ngán.
Nhưng Bảy Hồng thì khác. Với tư duy nhạy bén, bà hiểu rằng nếu chỉ dựa vào đôi tay trần và sức trâu thì ngàn đời không thắng nổi phèn mặn. Giữa lúc người ta còn e dè, bà là người phụ nữ duy nhất ở vùng này dám đứng ra cầm lái "con trâu sắt". Hình ảnh người phụ nữ nhỏ nhắn, tóc búi cao, điều khiển máy cày xé toang lớp đất mặt đỏ quạch đã trở thành biểu tượng của sự tiên phong.
"Lúc đó, tôi mê khuyến nông dữ lắm. Đêm nằm nghe đài, ngày tẩn mẩn đọc báo, thấy người ta chỉ cách làm lúa, cách trị phèn là học theo. Tôi không đợi đất "thuần" mới làm, mà phải cưỡng ép nó, đưa nước vào rửa phèn, dẫn thủy nhập điền", bà Bảy Hồng nhớ lại.
Sự quyết đoán của bà đã tạo nên một cú hích lịch sử. Từ những thửa ruộng mỗi năm chỉ "ăn may nhờ trời" được một vụ lúa lép, năng suất vẻn vẹn 1 - 2 tấn, bà đã đưa sản lượng nhảy vọt lên 7 - 8 tấn, rồi 10 tấn/ha. Tiếng lành đồn xa, người dân khắp nơi kéo về xem "bà Bảy lái máy cày" làm kinh tế. Bà không giữ bí quyết cho riêng mình. Những buổi tập huấn, những lần chia sẻ kinh nghiệm bên bờ ruộng, bà đều tận tình chỉ bảo, bởi với bà, "mình no mà hàng xóm đói thì cái no cũng không bền".
Dấu mốc chói lọi nhất trong cuộc đời bà Võ Thị Hồng là năm 1986, khi đó mới 36 tuổi, bà vinh dự đại diện nông dân miền Nam ra Hà Nội dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc.
Bà kể, giọng vẫn còn nguyên sự bồi hồi: "Hồi đó, tôi làm vì trách nhiệm với Nhà nước, vì cái bụng của gia đình mình thôi, chứ đâu có nghĩ để trở thành anh hùng. Lần đầu tiên trong đời được đi máy bay, ra đến thủ đô, được gặp và bắt tay cụ Phạm Văn Đồng, cụ Trường Chinh, cô Ba Định, cô Ba Thi… là niềm vinh dự không gì bằng".
Hôm ấy, các vị lãnh đạo đã ôm lấy người phụ nữ nhỏ nhắn mà khen: "Con gái miền Nam giỏi quá". Danh hiệu Anh hùng Lao động năm ấy là sự ghi nhận cho một trái tim luôn rực cháy khát vọng chinh phục thiên nhiên.
Bây giờ, dù đã ở tuổi 76, cái chất "lão nông tri điền" vẫn đậm đặc trong từng cử chỉ. Bà Bảy Hồng đưa tay về phía con đập cao ngoài xa, giọng trầm xuống: "Giờ làm ruộng sướng hơn hồi xưa cả ngàn lần con ơi. Bơm nước có điện, rải giống, phun thuốc cũng có máy. Hồi xưa muốn đưa nước vào phải đào kênh kẻ rãnh cực lắm, tối cũng không dám đi vì sợ mìn, sợ đạn. Nhìn cánh đồng bây giờ, tôi mừng đến trào nước mắt".
Căn nhà khang trang hiện tại là thành quả của cả một đời lam lũ mà mãi đến năm 2012 mới xây dựng được. Đó không chỉ là nơi ở, mà là một "bảo tàng" nhỏ lưu giữ những bằng khen, ảnh kỷ niệm. Có lẽ, bằng khen quý giá nhất đối với bà chính là sự kính trọng, tri ân của lớp trẻ. Đến tận bây giờ, các thanh niên vẫn hay tìm đến bà để hỏi về kinh nghiệm làm lúa, về cái đạo lý của người làm nghề nông.
Đồng Tháp Mười hôm nay không còn phèn chua, không còn dấu tích của vùng đất hoang hóa năm nào. Nhưng câu chuyện về người phụ nữ lái "con trâu sắt" sẽ mãi được kể qua các thế hệ nơi này.