Ngày Người khuyết tật Việt Nam (18-4) ghi nhận một dấu mốc quan trọng và đầy ý nghĩa. Lần đầu tiên, một đại diện do cộng đồng người khuyết tật đề cử đã được bầu vào Quốc hội khóa XVI.
Thành tựu này thể hiện rõ tinh thần của chủ đề năm nay: “Thúc đẩy quyền tham gia của người khuyết tật – Kiến tạo đột phá phát triển”.
Đây không chỉ là niềm tự hào, mà còn là một bước tiến quan trọng. Bởi lẽ, đột phá thực sự không chỉ nằm ở sự đại diện, mà ở cách sự đại diện đó có thể thúc đẩy những thay đổi trong các hệ thống, thể chế và toàn xã hội.
Cuộc bầu cử này phản ánh hành trình bền bỉ của Việt Nam trong việc thúc đẩy hòa nhập. Những định hướng chính sách gần đây đã từng bước mở rộng không gian để người khuyết tật tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định công – điều mà trước đây chưa được xác định rõ ràng.
Bước tiến này cho thấy một sự chuyển dịch rộng hơn hướng tới mô hình phát triển bao trùm hơn, nơi các tiếng nói đa dạng cùng tham gia định hình luật pháp và các ưu tiên phát triển.
Trong tầm nhìn đó, người khuyết tật không chỉ được bảo vệ và hỗ trợ, mà còn được trao quyền để đóng góp, lãnh đạo và cùng kiến tạo các thể chế phục vụ chính mình.
Đạt được cột mốc này là cả một hành trình đòi hỏi sự kiên trì và dũng cảm.
Những nỗ lực ban đầu đã góp phần đặt nền móng. Năm 2011, ông Nguyễn Công Hùng, một chuyên gia công nghệ thông tin trẻ với khuyết tật nặng, đồng thời là Giám đốc Công ty cổ phần “Nghị lực sống”, đã tiên phong ứng cử vào Quốc hội – cơ quan lập pháp cao nhất của đất nước. Dù chưa trúng cử, việc ông tham gia ứng cử vẫn đánh dấu một bước tiến quan trọng.
Sau đó, bà Thạch Thị Dân, một phụ nữ Khmer có khuyết tật vận động, đã đảm nhiệm vai trò đại biểu Quốc hội trong các khóa XII và XIII.
Mặc dù bà được đề cử với tư cách đại diện cho phụ nữ dân tộc thiểu số, chứ chưa phải là đại diện chính thức của người khuyết tật, nhưng những đóng góp của bà trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật quan trọng, như Luật Người khuyết tật (2010) và Bộ luật Lao động (2012), đã cho thấy rõ giá trị và chuyên môn mà người khuyết tật có thể mang lại trong thảo luận chính sách.
Khát vọng được đại diện từ lâu đã rất rõ ràng. Một khảo sát nhanh của UNDP năm 2021 cho thấy 98,2% người khuyết tật được hỏi trên toàn quốc mong muốn tiếng nói của mình được phản ánh trong các cơ quan dân cử.
Tuy nhiên, việc chuyển hóa khát vọng đó thành sự tham gia rộng rãi hơn với vai trò là ứng cử viên và đại biểu dân cử cần thêm thời gian.
Không phải do họ thiếu quan tâm hay năng lực, mà bởi các rào cản mang tính cấu trúc vẫn còn tồn tại.
Những rào cản này bao gồm định kiến xã hội về năng lực của người khuyết tật, các khuôn khổ pháp lý chưa thực sự thúc đẩy sự tham gia, cũng như các quy trình chính trị còn thiếu tính tiếp cận.
Các điểm bỏ phiếu và hội trường có thể chưa thân thiện với người sử dụng xe lăn. Tài liệu bầu cử thường chưa dễ tiếp cận với người khiếm thị.
Bên cạnh đó, sự tham gia và kết nối của các tổ chức đại diện người khuyết tật vẫn còn hạn chế.
Giải quyết những thách thức này đòi hỏi nỗ lực bền bỉ và sự chung tay của nhiều bên – từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức của người khuyết tật đến toàn xã hội. Bởi lẽ, sự đại diện không tự nhiên mà có. Nó đòi hỏi các hệ thống phải được thiết kế để bảo đảm mọi người đều có thể tham gia.
Trong bối cảnh đó, việc PGS.TS Trần Mạnh Huy được bầu vào năm 2026 đánh dấu một bước tiến có ý nghĩa quan trọng. Ý nghĩa của sự kiện này không chỉ nằm ở kết quả, mà còn ở điều nó phản ánh: một hệ thống đang dần thay đổi và phát triển.
Được đề cử bởi Liên hiệp Hội về Người khuyết tật Việt Nam, việc ông Huy trúng cử cho thấy nhận thức và sự tự tin của cộng đồng người khuyết tật ngày càng tăng lên, đồng thời phản ánh sự cởi mở hơn đối với tính đa dạng trong hệ thống chính trị.
Con đường ứng cử của ông cũng được tạo điều kiện thuận lợi hơn nhờ các định hướng trong thông báo Kết luận 444-TB/VPTW, cho thấy cách tiếp cận chủ động hơn trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của người khuyết tật.
Đây chính là cách mà sự thay đổi diễn ra: khi sự cởi mở của thể chế giúp chuyển hóa khát vọng thành sự đại diện.
Tiến bộ của Việt Nam cũng phản ánh xu hướng chung trên thế giới.
Ở nhiều quốc gia, sự hiện diện của người khuyết tật trong cơ quan lập pháp không chỉ nhằm bảo đảm tính đa dạng, mà còn là động lực thúc đẩy một nền quản trị hiệu quả và bao trùm hơn.
Khi các nhóm dễ bị tổn thương và thiểu số tham gia vào quá trình ra quyết định, chính sách và hệ thống sẽ dần được hoàn thiện để phục vụ tốt hơn cho tất cả mọi người.
Tại Úc, bà Kelly Vincent – một chính trị gia có khuyết tật vận động – đã thúc đẩy các chính sách bảo vệ phụ nữ trước bạo lực trên cơ sở giới, góp phần thúc đẩy các cải cách bảo vệ tất cả phụ nữ, dù họ có khuyết tật hay không.
Ở cấp độ quốc tế, bà Helga Stevens, một nghị sĩ Nghị viện châu Âu là người điếc, đã góp phần thúc đẩy việc công nhận ngôn ngữ ký hiệu và quyền của người khuyết tật. Bà đã giúp cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ công và hệ thống an sinh xã hội cho cộng đồng người điếc trên toàn Liên minh châu Âu.
Những ví dụ này minh họa một bài học chung: khi các góc nhìn đa dạng được bao hàm, quản trị sẽ trở nên hiệu quả hơn.
Việc có một đại biểu Quốc hội đại diện cho người khuyết tật mở ra một cơ hội mới cho Việt Nam: cơ hội lồng ghép tính tiếp cận vào quy trình lập pháp; đưa trải nghiệm thực tiễn trực tiếp vào quá trình xây dựng chính sách; và bình thường hóa sự tham gia của người khuyết tật trong đời sống xã hội.
Điều này đánh dấu một chuyển dịch quan trọng, từ việc nói về người khuyết tật sang cùng quản trị với họ.
Trong thời gian tới, dấu mốc này cần được chuyển hóa thành những thay đổi mang tính cấu trúc và bền vững: xây dựng quy trình ứng cử bao trùm hơn, bảo đảm quy trình bầu cử có tính tiếp cận, và hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện để không ai có năng lực bị bỏ lại phía sau.
Nhân Ngày Người khuyết tật Việt Nam, UNDP xin gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới cộng đồng người khuyết tật trên cả nước.
Quản trị bao trùm không tự nhiên mà có. Nó cần được thiết kế và xây dựng một cách có chủ đích trong các hệ thống. UNDP cam kết tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong việc thúc đẩy các cải cách cần thiết, nhằm đưa sự tham gia của các nhóm dễ bị tổn thương trở thành điều bình thường, chứ không phải là ngoại lệ.
Chúng tôi kỳ vọng hệ thống quản trị đang ngày càng hoàn thiện của Việt Nam sẽ tiếp tục phản ánh và tận dụng tốt hơn các góc nhìn đa dạng trong quá trình hoạch định chính sách.
Trong cuộc họp báo sau hội đàm hôm nay, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae cho biết hai bên đã nhất trí các định hướng lớn để đưa quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nhật Bản tiến vào giai đoạn phát triển mới với những kết quả cụ thể.
Hai bên cam kết tăng cường hợp tác kinh tế, trong đó có an ninh kinh tế, an ninh năng lượng và nông nghiệp bền vững. Theo đó, hai bên nhất trí về các biện pháp nhằm sớm đưa đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đạt 5 tỷ USD/năm và kim ngạch thương mại song phương sớm đạt 60 tỷ USD vào năm 2030.
Hai lãnh đạo khuyến khích doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư các dự án có hàm lượng công nghệ cao gắn với chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh tại Nhật Bản, cũng như được tham gia vào các dự án đầu tư của chính phủ Nhật Bản.
Hai bên sẽ thúc đẩy mở cửa thị trường cho hàng nông sản, trước mắt là sớm mở cửa cho bưởi da xanh Việt Nam và nho Nhật Bản. Hai nước sẽ tăng cường hợp tác ODA, thúc đẩy bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, lương thực, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của mỗi nước.
Việt Nam - Nhật Bản sẽ cụ thể hóa hợp tác khoa học - công nghệ, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, AI, bán dẫn, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy các dự án nghiên cứu chung trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ vũ trụ.
Hai bên cũng nhất trí sớm triển khai các dự án hợp tác trong khuôn khổ sáng kiến "Đối tác về khả năng chống chịu năng lượng và tài nguyên châu Á" (POWERR ASIA), nhằm hỗ trợ các nước châu Á tự chủ năng lượng, theo đó Nhật Bản sẽ hỗ trợ thu xếp nguồn cung dầu thô cho nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hoan nghênh việc hai bên công bố đồng tài trợ 15 dự án nghiên cứu chung Việt - Nhật về bán dẫn trong chương trình NEXUS (Chương trình của Cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ Nhật Bản nhằm xây dựng mạng lưới hợp tác nghiên cứu quốc tế, thúc đẩy đồng sáng tạo tri thức và củng cố ảnh hưởng khoa học - công nghệ của Nhật Bản trong khu vực).
Thủ tướng cũng cảm ơn Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam triển khai dự án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Hai bên thống nhất tiếp tục củng cố tin cậy chính trị trên cơ sở mở rộng hợp tác thực chất về quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Hai nước sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác cấp Bộ trưởng về ngoại giao, thương mại, công nghiệp và năng lượng, khoa học công nghệ... và Đối thoại 2+2 cấp Thứ trưởng Ngoại giao - Quốc phòng.
Hai lãnh đạo cũng nhất trí triển khai hiệu quả các thỏa thuận hợp tác về quốc phòng - an ninh, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực nâng cao năng lực chấp pháp trên biển, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng, gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, ứng phó với tội phạm xuyên quốc gia.
Hai bên còn cam kết thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa gắn kết nguồn nhân lực và giao lưu nhân dân thông qua hợp tác địa phương, lao động, y tế, văn hóa, du lịch. Việt Nam - Nhật Bản sẽ hợp tác chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế và khu vực và các vấn đề hai bên cùng quan tâm.
Thủ tướng Takaichi Sanae khẳng định Nhật Bản sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Bà bày tỏ ấn tượng với những bước phát triển của Việt Nam những năm qua, cho biết nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đã mở rộng đầu tư vào Việt Nam, với vai trò là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng.
Thủ tướng Nhật Bản cho rằng tăng cường hợp tác với Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hiện thực hóa và phát triển sáng kiến Tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở.
Việt Nam - Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1973 và trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2023. Nhật Bản là nước tài trợ ODA và là đối tác hợp tác lao động lớn nhất, nhà đầu tư số 3, đối tác du lịch và thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam.
Kim ngạch xuất nhập khẩu song phương năm 2025 đạt hơn 51,43 tỷ USD, tăng 11% so với năm 2024. Lũy kế đến ngày 31/1/2026, Nhật Bản có 5.722 dự án đầu tư có hiệu lực với tổng vốn đăng ký 78,9 tỷ USD, đứng thứ 3/153 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.
Có hơn 680.000 người Việt sống tại Nhật Bản, là cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại nước này.
Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae thăm chính thức Việt Nam ngày 1-3/5. Đây là lần đầu tiên bà Takaichi thăm Việt Nam kể từ khi nhậm chức vào tháng 10/2025.
Bộ trưởng An ninh Nội địa Mỹ Markwayne Mullin hôm 7.4 cho biết phía hải quan có thể ngừng xử lý quy trình với khách quốc tế ở những sân bay lớn tại các "thành phố trú ẩn" vốn từ chối thực thi chính sách nhập cư cứng rắn dưới thời chính quyền Tổng thống Donald Trump.
Thuật ngữ "thành phố trú ẩn" thường dùng để chỉ các tiểu bang, hạt hoặc thành phố áp dụng những chính sách nhằm giới hạn việc hợp tác với các cơ quan liên bang muốn trục xuất di dân bất hợp pháp, theo tờ The New York Times. Các chính quyền địa phương bắt đầu áp dụng chính sách "trú ẩn" từ thập niên 1980, khi các nhà thờ mở cửa đón những người tị nạn vì nội chiến ở El Salvador. Trong khoảng một thập niên trở lại đây, chính sách này thu hút ngày càng nhiều sự chú ý hơn do nhập cư trở thành vấn đề được các cử tri Mỹ quan tâm.
Trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Donald Trump, nhiều địa phương do đảng Dân chủ điều hành tiếp tục nhấn mạnh chính sách "trú ẩn". Tính đến năm 2023, Mỹ có khoảng 14 triệu dân nhập cư không giấy tờ. Và các chính sách thường được áp dụng tại những khu vực có đông người nhập cư sinh sống, bao gồm nhiều người không có giấy tờ cư trú hợp pháp trên đất Mỹ và vì thế dễ bị trục xuất. Nhiều người trong số họ đã có gia đình và sinh con ở Mỹ, còn những người khác đã gắn bó lâu dài với cộng đồng.
Đến tháng 10.2025, Bộ Tư pháp Mỹ công bố danh sách các tiểu bang và thành phố trú ẩn, trong đó nhiều đô thị có sân bay quốc tế lớn như Denver (Colorado), Philadelphia (Pennsylvania), Chicago (Illinois), Los Angeles (California), TP.New York (New York), Newark (New Jersey), Seattle (Washington) và San Francisco (California). Chỉ tính riêng TP.New York đã có 3 sân bay lớn, đón hơn 50 triệu lượt khách quốc tế trong năm ngoái. Còn bang California có các sân bay quốc tế Los Angeles và San Francisco, lần lượt đón hơn 73 triệu và hơn 50 triệu lượt khách năm 2025, theo báo USA Today.
Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên kể từ khi nhậm chức với đài Fox News ngày 6.4 (giờ Mỹ), ông Mullin cho biết Bộ An ninh Nội địa đang xem xét khả năng thu hồi dịch vụ kiểm tra hải quan ở những địa phương hạn chế hoặc từ chối hợp tác với giới chức liên bang về chính sách nhập cư.
"Nếu là thành phố trú ẩn, liệu họ có nên tiếp tục xử lý thủ tục hải quan không?", Bộ trưởng Mullin đặt vấn đề. "Nếu họ là thành phố trú ẩn và đón các chuyến bay quốc tế, và chúng tôi đề nghị họ hợp tác tại sân bay, nhưng khi hành khách rời khỏi đó thì họ lại không thực thi chính sách nhập cư. Có lẽ chúng ta cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc vấn đề này", theo ông.
Một ngày sau (7.4), tại bang Bắc Carolina, ông Mullin xác nhận có phương án rút nhân viên hải quan khỏi những phi trường tại các thành phố trú ẩn. Ông cho biết sẽ trình bày với Tổng thống Trump về khả năng trên, dù hiện chưa có quyết định cuối cùng về việc này.
Kể từ giữa tháng 2, vấn đề sân bay và thực thi luật nhập cư đã trở thành tâm điểm tranh cãi gay gắt giữa lưỡng đảng. Phe Dân chủ từ chối ủng hộ khoản bổ sung ngân sách cho chiến dịch siết chặt nhập cư của Tổng thống Trump nếu chính quyền liên bang không triển khai nỗ lực cải cách nhằm hạn chế các chính sách trục xuất cứng rắn và gây tranh cãi.
Việc đảng Dân chủ vẫn chưa đạt được thỏa thuận để cấp ngân sách cho Bộ An ninh Nội địa, bao gồm Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới (CPB), cũng là một phần lý do dẫn đến cân nhắc trên. Bộ trưởng Mullin cho hay việc rút nhân viên hải quan là một trong số các phương án đang chuẩn bị được thảo luận, và không nhất thiết sẽ triển khai trên thực tế.
Hồi tháng 3, Pháp, với tư cách chủ tịch luân phiên nhóm G7 (gồm Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Ý và Nhật Bản), thông báo việc sửa chữa một cấu trúc bê tông và thép hình vòm ngăn chặn rò rỉ phóng xạ từ thảm họa hạt nhân Chernobyl ở Ukraine sẽ tiêu tốn 500 triệu euro (580 triệu USD) và kêu gọi các thành viên khác cùng đóng góp, theo AFP.
Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 28.4 cho hay chính quyền của Tổng thống Donald Trump sẽ làm việc với quốc hội để cung cấp tiền cho việc sửa chữa cấu trúc hình vòm, "phù hợp với vai trò lãnh đạo liên tục của Mỹ về các vấn đề an toàn hạt nhân và không phổ biến vũ khí hạt nhân".
"Chúng tôi kêu gọi các đối tác G7 và châu Âu của chúng tôi noi theo và đưa ra những cam kết tài chính đáng kể để chia sẻ gánh nặng liên quan những công việc sửa chữa thiết yếu này", Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh trong một tuyên bố.
Lò phản ứng số 4 tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl đã phát nổ trong một cuộc thử nghiệm an toàn thất bại vào ngày 26.4.1986, khi Ukraine vẫn còn là một phần của Liên Xô. Đó là một trong những thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất thế giới, khiến những đám mây phóng xạ lan rộng khắp châu Âu và buộc hàng chục ngàn người phải sơ tán.
Vào tháng 11.2016, một cấu trúc bê tông và thép hình vòm khổng lồ được dựng ở phía trên phần còn lại của lò phản ứng số 4 từ nguồn vốn quốc tế 2,1 tỉ euro, để ngăn chặn rò rỉ trong tương lai.
Tuy nhiên, một vụ tấn công bằng máy bay không người lái vào tháng 2.2025 đã để lại một lỗ lớn trên lớp ngoài của hai lớp vỏ chống phóng xạ bao phủ phần còn lại của nhà máy điện hạt nhân Chernobyl. Moscow và Kyiv đã tố cáo lẫn nhau về vụ việc.
Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Mỹ không đổ lỗi cho Nga về vụ UAV tấn công cấu trúc hình vòm, cho rằng cấu trúc đó bị hư hại "trong một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái trong cuộc xung đột vô nghĩa đang diễn ra giữa Nga và Ukraine".
Quân đội Nga đã giành được quyền kiểm soát nhà máy điện hạt nhân Chernobyl trong ngày đầu tiên của chiến dịch quân sự do Moscow phát động vào ngày 24.2.2022, nhưng sau đó vài tuần đã rút lui, theo AFP.