Cụ thể, về nguyên tắc điều chỉnh giá bán xăng dầu, Bộ Công thương đề xuất giao quyền quyết định giá cho doanh nghiệp. Theo đó, giá bán buôn và giá bán lẻ xăng dầu trong và ngoài hệ thống do thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối tự quyết định, trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật về giá và cơ chế thị trường. Giá bán buôn (đối với dầu mazut) và giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân đầu mối được xác định theo công thức quy định.
Giá bán lẻ xăng dầu của các cửa hàng thuộc hệ thống phân phối không được cao hơn mức giá do thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối công bố – là đơn vị cung cấp nguồn hàng cho các cửa hàng này.
Giá bán lẻ xăng dầu tại các cửa hàng không thuộc hệ thống phân phối của thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối sẽ được thương nhân bán lẻ quyết định, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về giá và theo cơ chế thị trường.
Đối với địa bàn xa cảng, xa kho đầu mối, xa cơ sở sản xuất xăng dầu, nếu có chi phí thực tế phát sinh hợp lý, hợp lệ (đã được kiểm toán) tăng cao dẫn đến giá bán cao hơn giá bán tính toán theo công thức, thương nhân đầu được quyết định giá bán thực tế tại địa bàn đó để bù đắp chi phí phát sinh. Mức tăng này không được vượt quá 2% so với giá bán lẻ do thương nhân công bố tại cùng thời điểm.
Tại địa bàn xa cảng, xa kho đầu mối, xa cơ sở sản xuất, giá bán lẻ xăng dầu do thương nhân phân phối, thương nhân bán lẻ quyết định. Song, không được vượt quá giá bán lẻ xăng dầu do thương nhân đầu mối bán xăng dầu cho thương nhân đó công bố tại cùng địa bàn và cùng thời điểm.
Dự thảo cũng quy định, các thương nhân sau khi điều chỉnh giá sẽ thực hiện kê khai, gửi về Bộ Công thương hoặc UBND cấp tỉnh – nơi thương nhân có hệ thống phân phối; đồng thời, kết nối mạng với cơ quan quản lý nhà nước về dữ liệu kê khai giá theo quy định.
Về công thức giá bán xăng dầu, dự thảo nêu rõ giá bán xăng dầu bằng (=) giá mua xăng dầu cộng (+) chi phí tạo nguồn cộng (+) chi phí kinh doanh định mức cộng (+) lợi nhuận cộng (+) thuế.
Từ công thức trên, theo Bộ Công thương, giá mua xăng dầu do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh. Chi phí tạo nguồn (từ nhập khẩu và mua trong nước) do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh.
Chi phí kinh doanh định mức là chi phí lưu thông xăng dầu trong nước (gồm chi phí bán buôn, chi phí bán lẻ) của thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu (đã bao gồm chi phí dành cho thương nhân phân phối xăng dầu, thương nhân bán lẻ xăng dầu).
Chi phí kinh doanh định mức hiện hành được sử dụng làm mức chi phí khởi điểm. Khi nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính công bố chi phí kinh doanh định mức được sử dụng làm mức khởi điểm.
Chi phí kinh doanh định mức hàng năm được điều chỉnh tăng, giảm theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thực tế bình quân của năm trước do cơ quan Thống kê công bố.
Định kỳ 3 năm/lần, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan rà soát, công bố chi phí kinh doanh định mức cho thời kỳ tiếp theo để thương nhân thực hiện.
Trường hợp chi phí kinh doanh định mức biến động bất thường, tác động đến nguồn cung xăng dầu và có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng hoặc các chính sách liên quan tác động đến sự tăng giảm chi phí kinh doanh định mức, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan báo cáo, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép rà soát chi phí kinh doanh định mức được sử dụng làm gốc trước thời hạn định kỳ và công bố để thương nhân thực hiện.
Đáng chú ý, trong công thức tính giá, dự thảo đề xuất phần lợi nhuận sẽ do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu tự xác định theo thực tế kinh doanh. Theo đó, các thương nhân đầu mối, phân phối, bán lẻ xăng dầu đều phải công bố giá bán buôn (dầu mazut), giá bán lẻ xăng trên trang thông tin điện tử của thương nhân, trên các phương tiện thông tin truyền thông khác (nếu có).
Song song đó, thông báo công khai giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân tại cửa hàng, điểm bán xăng dầu. Thời gian công bố giá bán xăng dầu thực hiện ngay sau khi điều chỉnh giá bán xăng dầu.
Trong kiến nghị vừa gửi đến Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng về một số chính sách quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ, Hiệp hội Kinh doanh vàng VN cho rằng đến nay chưa có văn bản, quy định nào của Chính phủ cũng như ngành chức năng hướng dẫn việc mua, huy động nguồn vàng trong nước để làm nguyên liệu cho sản xuất, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ, gây lãng phí nguồn lực trong nước. Do đó, Hiệp hội này đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép các doanh nghiệp (DN) sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự. Kiến nghị này không nhận được sự ủng hộ của hầu hết chuyên gia kinh tế.
TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, nói thẳng: không ai muốn quay trở lại chính sách vay mượn bằng vàng. Đây là một mặt hàng kinh doanh có điều kiện, liên quan trực tiếp đến ngoại hối và dự trữ quốc gia. Vì vậy, nhóm hàng này cần tiếp tục được quản lý chặt chẽ, đảm bảo phù hợp với mục tiêu kiểm soát rủi ro của nền kinh tế, kiên quyết chấm dứt hoàn toàn tình trạng vay mượn bằng vàng. Đây là kinh nghiệm quan trọng rút ra từ nhiều năm trước nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống và bảo vệ sự ổn định của thị trường tài chính. Ông Lực nhấn mạnh: chính sách cho phép vay mượn bằng vàng trước đây khiến nền kinh tế bị "vàng hóa", đã từng gây ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế. Khi Nghị định 24 được áp dụng, Chính phủ đã quyết tâm bỏ chính sách đó và đã đạt được hiệu quả.
"Còn mục đích huy động vốn vàng trong dân đưa vào nền kinh tế thì sẽ có những cách khác như quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng niềm tin cho người dân và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Việc minh bạch hóa thị trường và tạo ra các kênh đầu tư hấp dẫn khác là cực kỳ quan trọng. Khi đó người dân chuyển hướng đưa tiền, vàng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều hơn thay vì đầu cơ vàng. Song song, Chính phủ cần tạo thuận lợi hơn cho việc luân chuyển, thanh khoản thị trường vàng thông qua việc nghiên cứu phát hành chứng chỉ vàng, lập sàn giao dịch vàng... để thị trường vàng phát triển an toàn, nhanh chóng và hiệu quả hơn. Những giải pháp này sẽ giúp giảm bớt xu hướng tích trữ vàng vật chất trong dân, giảm áp lực lên nguồn cung vàng vật chất", TS Lực phân tích.
Cũng tỏ ra bất ngờ với đề xuất từ Hiệp hội Kinh doanh vàng VN, chuyên gia kinh tế, PGS-TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng đề xuất này không phù hợp. Trong khi hệ thống ngân hàng (NH) có kiểm soát chặt thì không được phép huy động và cho vay bằng vàng, nếu cho phép các DN sản xuất kinh doanh vàng trang sức vay mượn vàng từ người dân thì sẽ tiềm ẩn rất nhiều vấn đề. "Đặt trường hợp một hay nhiều DN mất khả năng thanh toán vàng cho khách hàng thì sẽ ra sao? Nếu không kiểm soát tốt thì hiện tượng đầu cơ, lừa đảo và nguy cơ "vàng hóa " trong nền kinh tế có thể quay trở lại và từ đó sẽ ảnh hưởng đến chính sách tài chính tiền tệ, kiểm soát lạm phát. Vấn đề quan trọng là làm sao để người dân không tập trung hết tiền vào vàng mà có thể sử dụng tiền, vốn cho các hoạt động đầu tư sinh lợi như phát triển các thị trường hàng hóa, kênh đầu tư khác…", ông Thịnh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, TS Đinh Thế Hiển, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tin học và kinh tế ứng dụng, phân tích: trước đây khi NH vẫn được phép huy động và cho vay bằng vàng thì đã phát sinh một số bất ổn cho thị trường tiền tệ nên mới có quy định ngừng hoạt động này. Giả sử cho DN vay vàng từ người dân theo đề xuất nêu trên, khi DN phải trả lãi suất và trả lại số lượng vàng đã vay bình thường. Ví dụ DN vay 50 lượng vàng miếng để chế biến thành vàng trang sức và bán ra thị trường, sau một thời gian sẽ thu tiền về và mua lại vàng trả nợ cho khách hàng. Nhưng trong trường hợp giá vàng biến động rất cao như năm 2024 - 2025 vừa qua, tăng đến 30 - 40% và thậm chí cao hơn nhiều thì số tiền DN bán vàng trang sức ra chưa chắc đã mua lại nổi 50 lượng vàng miếng thì việc thua lỗ là tất yếu. Vậy DN có thanh toán được nợ vàng hay không? Câu chuyện này có khi diễn ra ở nhiều DN kinh doanh vàng trang sức cùng lúc thì sẽ xuất hiện đổ vỡ dây chuyền. Đó là chưa kể thậm chí có tình trạng vay xong và cố tình chây ì, không trả nợ. Trước đây thực tế đã xảy ra nhiều tiệm vàng vay nợ bằng vàng nhưng sau đó vì giá tăng cao, vì thua lỗ… đã không trả được nợ, gây ra sự náo loạn trên thị trường.
Do vậy TS Đinh Thế Hiển nhấn mạnh: chỉ cần một đốm lửa nhỏ là sẽ lan sang cả thị trường vàng, gây ra hệ lụy cho thị trường tài chính và cả nền kinh tế. Vì vậy không thể có chuyện cho phép DN vay vàng từ người dân. Để khuyến khích thu hút dòng vốn từ người dân chảy vào nền kinh tế thì cần tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh ổn định, các kênh đầu tư khác phát triển thì dòng vốn sẽ tự động lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả hơn tích trữ vàng.
6 doanh nghiệp trong danh sách công bố lần này có số nợ thuế trên 100 tỉ đồng gồm Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ xây dựng Việt Hàn Sài Gòn nợ thuế hơn 493,2 tỉ đồng; Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh nợ hơn 327,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Tập đoàn Yên Khánh nợ hơn 263,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Đầu tư Cái Mép nợ hơn 141,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Tập đoàn NRC nợ 136 tỉ đồng; Công ty cổ phần Thái Sơn E&C nợ hơn 110,5 tỉ đồng…
Kế đến là những đơn vị có số nợ thuế khác như HTX vận tải hàng hóa và hành khách Hải Âu nợ hơn 71 tỉ đồng; Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản Danh Khôi Việt nợ hơn 67,1 tỉ đồng; Công ty TNHH Một Thành viên Đào tạo nghề Trương Anh nợ hơn 65,2 tỉ đồng; Công ty cổ phần Thanh Niên nợ hơn 52,6 tỉ đồng… Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ăn uống, nhà hàng, phim ảnh… cũng rơi vào tình trạng nợ thuế lớn.
Điểm đặc biệt trong danh sách lần này là xuất hiện một số cá nhân có số nợ thuế lên hàng trăm tỉ đồng như bà Võ Thị Ngọc Phượng (88 Đồng Khởi, P.Sài Gòn) nợ hơn 158,9 tỉ đồng; ông Lâm Phước Hải (80 Đồng Khởi, P.Sài Gòn) nợ hơn 23,2 tỉ đồng. Ngoài ra, còn có một số cá nhân nợ thuế khác như ông Nguyễn Quang Cường (67 Hàm Nghi, P.Sài Gòn) nợ hơn 1,1 tỉ đồng; Hồ Thị Lài (Lê Thánh Tôn, P.Sài Gòn) nợ hơn 941 triệu đồng; Trần Thị Kim Phượng (Điện Biên Phủ, P.Tân Định) nợ hơn 912 triệu đồng… Người có mức nợ thuế thấp nhất trong danh sách này là Vũ Hồng Loan (Trần Hưng Đạo, P.Cầu Ông Lãnh) nợ 50 triệu đồng.
Trong văn bản gửi khách hàng và đối tác về việc triển khai kinh doanh xăng E10 RON95-III, Công ty CP xăng dầu - dầu khí Sài Gòn (thuộc Tổng công ty Dầu Việt Nam - PVOil) thông tin việc chuyển đổi này căn cứ Thông tư số 50/2025 của Bộ Công thương về việc quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam; chỉ đạo của PVOil ngày 24.4 về việc triển khai kinh doanh xăng E10 RON 95 mức 3.
PVOil Sài Gòn cho biết, doanh nghiệp đã triển khai kinh doanh xăng sinh học E10 RON 95-III từ tháng 4.2026 và sẽ dần chuyển đổi hoàn toàn sang xăng sinh học. Việc triển khai kinh doanh xăng sinh học E10 RON 95-III thay thế xăng RON 95-III cụ thể như sau:
Từ ngày 15.5 tới, PVOil Sài Gòn sẽ dừng bán xăng RON 95-III để thực hiện chuyển đổi. Trong thời gian thực hiện chuyển đổi, mọi vướng mắc từ khách hàng, đối tác cần liên hệ phòng kinh doanh của công ty để được hỗ trợ kịp thời.
PVOil đã triển khai bán thử nghiệm xăng E10 RON95-III tại Hà Nội và Hải Phòng từ ngày 1.8.2025. Kế đó, mở rộng vào một số tỉnh miền Trung và miền Nam. Đến tháng 4 vừa qua, đã có 558 cửa hàng trên tổng số gần 1.000 cửa hàng xăng dầu của PVOil kinh doanh xăng E10.
Để một hệ thống gần 1.000 cửa hàng có thể kinh doanh E10, PVOil cho biết phải chuẩn bị đồng thời nhiều lớp hạ tầng. Trước hết là hạ tầng pha chế, tồn trữ và vận chuyển. Tính đến tháng 4, doanh nghiệp đã xây dựng được 13 điểm pha chế xăng E10 trên toàn quốc. Trong đó 6 điểm có khả năng pha chế linh hoạt đồng thời E10 RON95 và E5 RON92 theo các hình thức phối trộn và vận hành song song. Sau giai đoạn thí điểm, PVOIL đã đầu tư đồng bộ từ hệ thống pha chế, tồn trữ đến vận hành và kiểm soát chất lượng.
Doanh nghiệp này cho hay, việc triển khai thí điểm nhằm đánh giá chất lượng sản phẩm, khả năng vận hành hệ thống và phản hồi từ người tiêu dùng. Kết quả cho thấy, xăng E10 do PVOil pha chế và cung ứng ra thị trường đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, vận hành ổn định trên các phương tiện và nhận được nhiều đánh giá tích cực từ khách hàng; qua đó, từng bước giúp thị trường và người tiêu dùng làm quen với loại nhiên liệu mới.