Bệnh tiểu đường type 2 là một tình trạng mạn tính, xảy ra khi cơ thể mất đi khả năng sử dụng glucose (đường huyết) một cách hiệu quả. Glucose là nguồn năng lượng chính cho các tế bào. Khi quá trình này bị gián đoạn, lượng đường tích tụ trong máu tăng cao, dẫn đến hàng loạt các triệu chứng và biến chứng hệ lụy.
Bệnh tiểu đường type 2 có thể kiểm soát nếu được phát hiện sớm. Nhiều triệu chứng của bệnh bắt đầu xuất hiện từ rất sớm, nhưng đôi khi diễn ra âm thầm khiến người bệnh bỏ qua. Nhận diện đúng các dấu hiệu cảnh báo có thể điều trị kịp thời và bảo vệ sức khỏe lâu dài.
Đi tiểu thường xuyên
Một trong những dấu hiệu sớm và điển hình nhất của bệnh tiểu đường là tình trạng đi tiểu thường xuyên, đi tiểu quá nhiều, hoặc cả hai – về mặt y khoa còn gọi là đa niệu. Lượng đường trong máu tăng quá cao sẽ “tràn” vào nước tiểu. Thông thường, thận sẽ tái hấp thụ glucose nhưng khi lượng glucose vượt quá khả năng xử lý của thận, cơ thể buộc phải đào thải nó qua nước tiểu, khiến bạn đi tiểu liên tục, bao gồm cả tiểu đêm và dễ bị gián đoạn giấc ngủ.
Vết thương chậm lành
Nếu bạn nhận thấy các vết cắt, trầy xước hoặc bầm tím lâu lành, đó có thể là dấu hiệu của đường huyết cao. Tình trạng này thường liên quan đến lưu thông máu kém, khi đường huyết tăng lâu ngày làm mạch máu bị thu hẹp và xơ cứng, khiến oxy và dưỡng chất khó đến vùng tổn thương để phục hồi. Đồng thời, lượng đường dư thừa cũng làm suy yếu hệ miễn dịch, khiến tế bào bạch cầu hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, cơ thể khó chống lại vi khuẩn, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và kéo dài thời gian lành vết thương.
Mờ mắt
Mờ mắt thường là triệu chứng xuất hiện sớm khi lượng đường trong máu không được kiểm soát. Đường huyết tăng đột ngột làm thay đổi áp suất thẩm thấu và ảnh hưởng đến các mạch máu nhỏ trong mắt, khiến chất lỏng rò rỉ vào thủy tinh thể, làm thay đổi hình dáng của nó, gây nhìn mờ.
Tình trạng này có thể cải thiện khi đường huyết được kiểm soát, nhưng nếu tiểu đường kéo dài không điều trị tốt, mắt có thể gặp nhiều biến chứng nghiêm trọng hơn. Người bệnh có nguy cơ mắc đục thủy tinh thể hoặc tăng nhãn áp, dễ bị lẹo tái phát, rối loạn bề mặt nhãn cầu, nguy hiểm nhất là bệnh võng mạc do tiểu đường.
Đói, khát nước dữ dội
Đi tiểu nhiều khiến cơ thể mất nước, dẫn đến cảm giác khát liên tục để bù lại lượng dịch đã mất. Ở người tiểu đường, dù uống nhiều nước, cảm giác khát vẫn khó cải thiện do đường huyết cao làm cơ thể mất nước ở cấp độ tế bào, gây mệt mỏi và ảnh hưởng sinh hoạt.
Bên cạnh đó, cảm giác đói tăng cao cũng là dấu hiệu thường gặp. Do tình trạng kháng insulin, tế bào không hấp thụ được glucose để tạo năng lượng, khiến cơ thể luôn “thiếu nhiên liệu” và liên tục phát tín hiệu đói, ngay cả khi vừa ăn xong.
Các mảng da sẫm màu
Một dấu hiệu dễ nhận biết bên ngoài là sự xuất hiện của các mảng da sẫm màu, mịn ở những vùng nếp gấp như cổ, nách hoặc bẹn, còn gọi là gai đen. Không chỉ đổi màu, vùng da này còn có thể dày lên bất thường.
Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng kháng insulin khiến lượng insulin trong máu tăng cao, kích thích tế bào da phát triển quá mức. Đây được xem là dấu hiệu cảnh báo sớm khá điển hình của tiểu đường type 2.
Ngứa da đôi khi là một trong những dấu hiệu sớm của tiểu đường. Tình trạng này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như nhiễm nấm hoặc nấm men, da bị khô do cơ thể mất nước khi đi tiểu nhiều, hoặc lưu thông máu kém, đặc biệt ở vùng cẳng chân, khiến da không được nuôi dưỡng đầy đủ và dễ ngứa.
Khô miệng
Khô miệng là vấn đề răng miệng phổ biến ở người tiểu đường, liên quan đến việc giảm tiết nước bọt khi đường huyết tăng cao. Người bệnh thường cảm thấy miệng khô liên tục, môi nứt nẻ, lưỡi khô ráp, đồng thời gặp khó khăn khi nhai, nuốt hoặc nói chuyện. Tình trạng này còn làm tăng nguy cơ loét và nhiễm trùng trong khoang miệng.
Ngày 10.4, bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, Hội Y học dưới nước và oxy cao áp Việt Nam, cho biết cơ thể con người luôn duy trì nhiệt độ lõi ổn định khoảng 36,5 - 37,5 độ C. Khi thời tiết quá nóng, đặc biệt trong các đợt nắng nóng kéo dài, hệ điều hòa thân nhiệt phải hoạt động liên tục để tỏa bớt nhiệt. Không chỉ gây mệt mỏi, khó chịu, nắng nóng còn âm thầm ảnh hưởng đến trí nhớ, khả năng tập trung của học sinh trong giai đoạn ôn thi.
Theo bác sĩ Hoàng, các bệnh lý do nóng tồn tại trên một “phổ” từ nhẹ đến rất nặng. Việc nhận biết sớm từng mức độ sẽ giúp phụ huynh, giáo viên và học sinh chủ động xử trí, tránh biến chứng nguy hiểm. 3 tình trạng thường gặp gồm:
Thường xảy ra khi vận động trong môi trường nóng, ra nhiều mồ hôi nhưng chỉ bù nước mà không bổ sung điện giải. Khi đó, natri trong máu giảm tương đối, gây co cứng các nhóm cơ lớn như bắp chân, đùi, cánh tay hoặc bụng. Đây được xem là dấu hiệu cảnh báo sớm của tình trạng mất điện giải.
Đây là giai đoạn cơ thể đã mất nhiều nước và điện giải, nhưng cơ chế điều hòa thân nhiệt vẫn còn hoạt động. Người bệnh thường ra mồ hôi nhiều, da lạnh ẩm, nhợt nhạt; mạch nhanh nhưng yếu; kèm theo chóng mặt, buồn nôn, đau đầu và cảm giác mệt lả. Nhiệt độ cơ thể dao động từ 38 độ C đến dưới 40 độ C. Nếu không được nghỉ ngơi và bù dịch kịp thời, tình trạng này có thể tiến triển thành sốc nhiệt.
Đây là tình trạng cấp cứu tối khẩn cấp. Khi đó, trung tâm điều nhiệt bị rối loạn, cơ thể không còn khả năng tiết mồ hôi, thân nhiệt tăng trên 40 độ C. Người bệnh có da nóng, khô, đỏ; rối loạn ý thức như lú lẫn, nói sảng, mất định hướng, thậm chí co giật hoặc hôn mê. Nếu không được hạ nhiệt nhanh, nguy cơ tổn thương não, suy gan, suy thận và tử vong rất cao.
“Tóm lại, người bị kiệt sức do nhiệt thường vẫn còn đổ mồ hôi, mệt nhưng còn tỉnh táo. Ngược lại, sốc nhiệt thường có da khô, nóng, không còn mồ hôi, kèm rối loạn ý thức - đây là dấu hiệu báo động đỏ”, bác sĩ Hoàng nhấn mạnh.
Khi phát hiện các biểu hiện bất thường như đau đầu, chóng mặt, uể oải, chuột rút, buồn nôn hoặc da nóng, cần nhanh chóng:
Nếu người bệnh còn tỉnh, có thể cho uống từng ngụm nhỏ nước mát hoặc dung dịch điện giải. Không nên uống quá nhiều cùng lúc để tránh nôn.
Trường hợp người bệnh lơ mơ, nôn liên tục hoặc có dấu hiệu rối loạn ý thức, cần gọi cấp cứu ngay và không cố cho uống nước vì dễ gây sặc.
Bác sĩ Hoàng lưu ý, sốc nhiệt không phải là sốt do nhiễm trùng nên các thuốc hạ sốt như paracetamol không có tác dụng. Ngược lại, sử dụng thuốc trong bối cảnh gan, thận bị ảnh hưởng do nhiệt có thể làm tăng nguy cơ độc tính. Nguyên tắc xử trí là hạ nhiệt nhanh bằng phương pháp vật lý, bù dịch và chuyển đến cơ sở y tế có khả năng hồi sức.
Đối với học sinh đang ôn thi, chỉ một đợt kiệt sức do nhiệt cũng có thể làm giảm sức bền, trí nhớ và khả năng tập trung trong nhiều ngày. Vì vậy, phòng ngừa luôn là giải pháp hiệu quả và ít tốn kém hơn điều trị.
Viêm là phản ứng bảo vệ tự nhiên của cơ thể trước chấn thương hoặc nhiễm trùng. Nếu tình trạng này kéo dài âm thầm trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, nó có thể chuyển thành viêm mạn tính, gây hại cho sức khỏe. Theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), tình trạng viêm kéo dài có thể làm tổn thương các mô khỏe mạnh và gây rối loạn chức năng chuyển hóa theo thời gian.
Viêm mạn tính có liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, từ bệnh tim, tiểu đường đến viêm khớp và ung thư. Bên cạnh thay đổi lối sống, chế độ ăn cân bằng, giàu thực phẩm chống viêm có thể giúp giảm viêm tự nhiên và cải thiện sức khỏe tổng thể. Dưới đây là 7 loại thực phẩm hỗ trợ giảm viêm và bảo vệ sức khỏe lâu dài.
Cá béo
Cá hồi, cá thu, cá mòi chứa nhiều axit béo omega-3 (EPA và DHA). Những chất béo này giúp giảm các chỉ số viêm trong máu đồng thời hỗ trợ sức khỏe tim mạch. Theo NIH, omega-3 hỗ trợ điều hòa phản ứng viêm trong cơ thể. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy ăn cá thường xuyên có thể giảm nguy cơ bệnh tim.
Các loại quả mọng
Những loại quả mọng nhiều màu sắc không chỉ làm đẹp món ăn mà còn chứa các hợp chất bảo vệ tế bào. Dâu tây, việt quất chứa chất chống oxy hóa gọi là anthocyanin, có khả năng trung hòa các gốc tự do có hại, giúp giảm stress oxy hóa - yếu tố liên quan chặt chẽ đến viêm mạn tính và lão hóa.
Thêm một ít quả mọng vào bữa sáng, sinh tố hoặc sữa chua có thể tăng cường "lá chắn" tự nhiên cho cơ thể.
Rau lá xanh
Rau xanh như rau bina, cải xoăn, bông cải xanh là nhóm thực phẩm có tác dụng bảo vệ cơ thể rất tốt. Các loại như rau bina, bông cải xanh cung cấp vitamin, khoáng chất và hợp chất thực vật giúp giảm stress oxy hóa. Chúng giàu vitamin K, vitamin C và polyphenol, hỗ trợ cân bằng miễn dịch.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) khuyến nghị ăn rau xanh thường xuyên để giảm nguy cơ bệnh mạn tính như tim mạch và tiểu đường.
Các loại hạt
Hạnh nhân, hạt óc chó, hạt lanh, hạt chia chứa chất béo tốt, chất xơ, magie và vitamin E. Những dưỡng chất này hỗ trợ điều hòa quá trình viêm đồng thời cải thiện cholesterol. Đặc biệt, óc chó giàu ALA - một dạng omega-3 có nguồn gốc thực vật, liên quan đến giảm viêm. Chỉ cần ăn một nắm nhỏ các loại hạt mỗi ngày cũng có lợi cho sức khỏe tim mạch.
Cà chua
Cà chua giàu lycopene - một chất chống oxy hóa mạnh có tác dụng giảm viêm và bảo vệ tim. Lycopene có thể giảm tổn thương oxy hóa liên quan đến bệnh mạn tính. Đặc biệt, cà chua nấu chín có thể giúp cơ thể hấp thụ lycopene tốt hơn.
Nghệ
Nghệ đã được sử dụng từ lâu trong ẩm thực và y học cổ truyền. Hoạt chất chính curcumin có đặc tính chống viêm và chống oxy hóa mạnh, có thể tác động đến các tác nhân gây viêm trong cơ thể. Kết hợp nghệ với tiêu đen giúp tăng khả năng hấp thu và phát huy hiệu quả tốt hơn.
Carbohydrate tinh chế có thể làm tăng viêm, trong khi ngũ cốc nguyên hạt lại có tác dụng ngược lại. Yến mạch, gạo lứt, kiều mạch chứa chất xơ, vitamin nhóm B, chất chống oxy hóa, hỗ trợ tiêu hóa và cân bằng chuyển hóa. Chế độ ăn giàu chất xơ còn nuôi dưỡng hệ vi khuẩn đường ruột - yếu tố quan trọng trong kiểm soát viêm.
Chiều 9/4, đại diện Sở Y tế TP HCM cho biết các học sinh có triệu chứng đau bụng, nôn ói, sốt, rối loạn tiêu hóa. Bệnh viện Nhân dân Gia Định tiếp nhận nhiều nhất với 27 ca, trong đó 5 em đã xuất viện, 22 em còn điều trị.
Trạm Y tế phường Bình Quới tiếp nhận hai ca nhẹ nên cấp thuốc và cho về theo dõi tại nhà. Bệnh viện Nhi Đồng 2 tiếp nhận 4 ca, một trường hợp đã lấy mẫu xét nghiệm xác định nguyên nhân, hiện chưa có kết quả.
Bệnh viện Đa khoa Bình Thạnh tiếp nhận 20 ca, chủ yếu tình trạng ổn định và điều trị ngoại trú, một trường hợp đang được theo dõi tại phòng cấp cứu.
BS.CKI Phạm Thị Hoàng Oanh, Phó trưởng điều hành Khoa Nhi Tổng hợp, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, cho biết phần lớn bệnh nhi được chuyển lên từ khoa cấp cứu. Triệu chứng chung là sốt cao liên tục khó hạ, đau bụng quặn từng cơn, cơ thể đừ nhiều, ăn uống kém kèm theo nôn ói và tiêu chảy liên tục.
"Các bé nhập viện đều có tình trạng nhiễm trùng tiêu hóa với mức độ trung bình đến nặng", bác sĩ nói. Kíp điều trị đã truyền kháng sinh và bù dịch ngay khi tiếp nhận, song một số trường hợp diễn tiến chưa ổn định, chưa thể ăn uống, còn mệt.
Một phụ huynh đang chăm con 7 tuổi nằm viện, cho biết bé học bán trú và ăn uống tại trường ngày 7/4. Tan học, bé uống thêm hộp sữa trước khi đi học thêm buổi tối. Khoảng 2-3h sáng 8/4 bé nôn ói, tiêu chảy và sốt, uống thuốc không giảm, sáng 9/4 được đưa vào viện. Hiện bé vẫn còn mệt, sốt và tiêu chảy, chưa rõ nguyên nhân gây triệu chứng bất thường.
Sở Y tế TP HCM yêu cầu các bệnh viện theo dõi sát, điều trị theo hướng dẫn và lấy mẫu xét nghiệm xác định tác nhân, đồng thời thông tin cho Sở An toàn thực phẩm TP HCM để kịp thời xử lý.
Cơ quan này cũng chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP HCM phối hợp với các đơn vị liên quan và Trường Tiểu học Bình Quới Tây điều tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm nhằm làm rõ nguyên nhân. Hiện chưa kết luận trẻ ngộ độc do ăn món gì và ăn ở đâu.
Lãnh đạo nhà trường cho hay ngay đầu giờ sáng 8/4 nhiều học sinh khối 1-3 đã có biểu hiện mệt, sốt. Cả ngày có hơn 100 lượt học sinh xuống phòng y tế, hơn 40 em nôn ói, đau bụng. Do triệu chứng xuất hiện từ đầu giờ sáng, khi chưa ăn trưa tại trường, chưa thể khẳng định nguyên nhân do suất ăn bán trú, đồng thời không loại trừ khả năng từ thức ăn bên ngoài hoặc nguồn nước.
Trường đã dừng tổ chức ăn bán trú, mẫu thức ăn ngày 7-8/4 được gửi xét nghiệm, dự kiến có kết quả ngày 14/4.