Phát biểu sau khi được HĐND thành phố tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2026 – 2031 vào ngày 14.4, ông Nguyễn Mạnh Hùng đã gửi lời cảm ơn sâu sắc tới HĐND thành phố vì đã tin tưởng giao trọng trách.
Ông cho rằng, đây là niềm vinh dự lớn, đồng thời cũng là trách nhiệm nặng nề trước Đảng bộ, chính quyền, cử tri và nhân dân thành phố.
Theo ông, sự tín nhiệm không chỉ là niềm tin, kỳ vọng mà còn là động lực để tập thể lãnh đạo UBND thành phố nỗ lực hơn nữa, tận tâm, tận lực phụng sự nhân dân và sự phát triển chung của thành phố trong thời gian tới.
Bước vào nhiệm kỳ mới, Đà Nẵng đứng trước nhiều thời cơ và vận hội phát triển, với dư địa lớn về đất đai, nguồn nhân lực cùng các cơ chế, chính sách từ Trung ương. Tuy nhiên, thành phố cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước còn nhiều biến động, tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội.
Trước yêu cầu đó, tân Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh, chính quyền thành phố phải tiếp tục đổi mới mạnh tư duy quản lý, nâng cao năng lực quản trị, phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và kỷ cương hành chính. Tinh thần xuyên suốt là biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể.
“Nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm có hiệu quả, với mục tiêu xuyên suốt là phát triển thành phố nhanh, bền vững, vì cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của nhân dân; lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả của UBND thành phố”, ông Hùng nhấn mạnh.
UBND thành phố sẽ bám sát sự lãnh đạo của Trung ương và Thành ủy, chịu sự giám sát của HĐND thành phố, đồng thời tập trung triển khai hiệu quả các nghị quyết, trong đó ưu tiên tháo gỡ các “điểm nghẽn”, “nút thắt” của các dự án, công trình trọng điểm theo kết luận của Bộ Chính trị.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được xác định là khơi thông và huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư, đưa nguồn lực vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, gắn với bảo đảm an sinh xã hội.
Đà Nẵng cũng sẽ tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng của Khu thương mại tự do gắn với cảng Liên Chiểu, Khu kinh tế mở Chu Lai cùng hệ thống cảng biển và sân bay, hình thành cực tăng trưởng mới về logistics, công nghiệp và đô thị. Qua đó, tạo động lực thúc đẩy lưu thông hàng hóa, phát triển dịch vụ chất lượng cao, thu hút nhà đầu tư chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Song song đó, thành phố định hướng phát triển kinh tế theo hướng bền vững, đổi mới sáng tạo, lấy khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế số và kinh tế xanh làm động lực tăng trưởng. Môi trường đầu tư, kinh doanh sẽ tiếp tục được cải thiện mạnh mẽ, đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển.
Trong lĩnh vực xã hội, chính quyền thành phố đặt mục tiêu xây dựng Đà Nẵng hiện đại, giàu bản sắc, có chất lượng sống cao; đặc biệt quan tâm nâng cao đời sống người dân khu vực miền núi, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.
Cùng với đó, phát triển văn hóa – xã hội hài hòa với kinh tế; chăm lo tốt hơn các lĩnh vực giáo dục, y tế, việc làm, giảm nghèo bền vững; tiếp tục phát huy các giá trị đặc trưng của thành phố “5 không”, “3 có”, “4 an”, hướng tới xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố đáng sống, an bình, văn minh, hiện đại.
Khẳng định quyết tâm trước nhiệm vụ mới, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết sẽ cùng tập thể lãnh đạo UBND thành phố đoàn kết, thống nhất, nêu cao tinh thần trách nhiệm, sâu sát cơ sở, lắng nghe nhân dân; xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, liêm chính, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng niềm tin và kỳ vọng của cử tri và nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Một tuần qua, khoảng 30-50% trong tổng số 80 ha ngao thả nuôi ở thôn Mai Lâm, xã Mai Phụ (trước đây thuộc huyện Lộc Hà) bị chết, nổi trắng mặt đầm, ruột phân hủy, bốc mùi hôi. Khi thủy triều rút, vỏ tích tụ thành từng dải trắng xóa.
Bà Nguyễn Thị Dũng, 60 tuổi, trú thôn Mai Lâm, cho biết hơn 2 ha ngao trong đầm nuôi 1,5 năm nay, đến thời kỳ thu hoạch thì bất ngờ chết 80%. Mỗi vụ, gia đình bà Dũng đầu tư 300 triệu đồng mua con giống và trả chi phí nhân công chăm sóc, nếu thuận lợi thì thu hoạch bán được hơn một tỷ đồng, lãi khoảng 40%.
"Vụ thu hoạch bắt đầu từ vài tuần trước, gia đình mới bán được 10 tấn. Khoảng 50 tấn ngao thương phẩm nuôi dưới đầm nay chỉ còn vỏ, ước tính thiệt hại hơn một tỷ đồng", bà Dũng nói.
Theo bà Dũng, hơn 2 ha ngao chết trắng không những gây tổn thất lớn về kinh tế mà còn để lại đầm nuôi ngổn ngang vỏ, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng môi trường sau này. Hiện chi phí thuê người dọn vỏ ngao khoảng 500.000 đồng mỗi ngày, dù tốn kém song bà vẫn phải chấp nhận, bởi nếu một mình thu dọn sẽ mất vài tháng mới xong.
Bà Nguyễn Thị Thanh, trú thôn Mai Lâm, cho biết ngao ở giai đoạn thu hoạch có kích cỡ khoảng 120 con/kg, khi bán ra thị trường đạt 24 triệu đồng/tấn. Đây là thời điểm người nuôi kỳ vọng thu hồi vốn và có lãi sau nhiều tháng đầu tư.
"Gia đình tôi đứng trước nguy cơ mất trắng khi 10 ha ngao nuôi chết, chỉ còn lại khoảng 30-40%, vụ này thiệt hại hàng trăm triệu đồng", bà Thanh nói, cho hay sắp tới phải vay thêm tiền ngân hàng mua giống mới về thả, mong gỡ lại vốn.
Toàn xã Mai Phụ có 43 hộ nuôi với khoảng 80 ha. Qua thống kê ban đầu, chính quyền ước tính sản lượng ngao chết khoảng 120 tấn, các hộ thiệt hại hàng tỷ đồng.
Chiều 26/4, xã Mai Phụ đã phối hợp với Chi cục Thủy sản tỉnh Hà Tĩnh kiểm tra, lấy mẫu phân tích nhằm xác định nguyên nhân ngao chết để có hướng xử lý phù hợp. Trước mắt, người nuôi được khuyến cáo tạm thời chưa thả giống mới.
Những năm trước, ngao nuôi tại các bãi bồi ven biển ở thôn Mai Lâm, xã Mai Phụ cũng từng bị chết nhiều đợt với số lượng từ hàng chục đến hàng trăm tấn. Cơ quan chuyên môn kết luận nguyên nhân do sương muối, nước biển bị ngọt hóa...
Chỉ thị của Thủ tướng ngày 6/5 đặt mục tiêu đến hết năm 2026 toàn dân sẽ lần đầu được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí và được lập Sổ sức khỏe điện tử.
Để thực hiện chủ trương này, Thủ tướng giao Bộ Y tế hướng dẫn các đơn vị, địa phương tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân, đảm bảo hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra. Bộ hướng dẫn bệnh viện lập và quản lý Sổ sức khỏe điện tử, liên thông dữ liệu, tích hợp trên ứng dụng VNeID. Năng lực hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng phải được nâng cao, bảo đảm nguồn nhân lực, thiết bị y tế, thuốc, hóa chất; tổ chức đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho đội ngũ tham gia khám cho người dân.
Bộ Công an sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử phục vụ việc lập, cập nhật thông tin quản lý Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID và xác thực thông tin người dân tham gia khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí.
Thủ tướng giao Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn các trường khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho học sinh, sinh viên, học viên ngay đầu năm học 2026-2027.
Người đứng đầu Chính phủ đề nghị lãnh đạo các tỉnh thành tăng cường tuyên truyền để người dân tham gia khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí nhằm phát hiện sớm bật tật, hình thành thói quen chủ động.
Địa phương tổ chức khám cho người dân theo từng nhóm, trong đó ưu tiên người có công, cao tuổi, khuyết tật, hộ nghèo, cận nghèo, mắc bệnh mạn tính, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.
Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo sẽ được trạm y tế tổ chức khám lưu động.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam sẽ tăng cường giám sát việc khám sức khỏe, bệnh nghề nghiệp cho người lao động tại khu công nghiệp, khu chế xuất, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm quyền lợi của người lao động.
Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị hồi tháng 9/2025 đặt mục tiêu từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế.
Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình; phủ bảo hiểm y tế toàn dân và phát triển các loại hình bảo hiểm sức khỏe.
Những năm đầu thế kỷ XX, bờ sông Hồng nằm sát với đường Trần Nhật Duật ngày nay, có nhiều bến đỗ cho tàu thuyền.
Những năm đầu thế kỷ XX, bờ sông Hồng nằm sát với đường Trần Nhật Duật ngày nay, có nhiều bến đỗ cho tàu thuyền.
Bờ sông Hồng năm 1902, nay là phường Hồng Hà. 1902 cũng là năm khánh thành cầu Long Biên - cầu thép đầu tiên và dài nhất Đông Dương thời điểm đó, kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Hải Phòng, thay đổi hoàn toàn bộ mặt giao thông.
Bờ sông Hồng năm 1902, nay là phường Hồng Hà. 1902 cũng là năm khánh thành cầu Long Biên - cầu thép đầu tiên và dài nhất Đông Dương thời điểm đó, kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Hải Phòng, thay đổi hoàn toàn bộ mặt giao thông.
Làng Cơ Xá khoảng những năm 1903. Đây là khu dân cư ít ỏi nằm sát mép nước sông Hồng. Trước kia, địa phận trên được gọi là An Xá, năm 1132 dưới thời Lý Thần Tông, làng được đổi tên thành Cơ Xá, gắn với bãi Cơ Xá - dải đất ven sông Hồng.
Về sau, do dòng chảy sông Hồng thay đổi, làng Cơ Xá tách thành nhiều khu dân cư. Cơ Xá Bắc Biên nay thuộc Ngọc Thụy (Long Biên). Cơ Xá Nam Xá thuộc khu vực Bạch Đằng (Hai Bà Trưng). Còn Cơ Xá Trung Châu nằm ở giữa sông Hồng.
Làng Cơ Xá khoảng những năm 1903. Đây là khu dân cư ít ỏi nằm sát mép nước sông Hồng. Trước kia, địa phận trên được gọi là An Xá, năm 1132 dưới thời Lý Thần Tông, làng được đổi tên thành Cơ Xá, gắn với bãi Cơ Xá - dải đất ven sông Hồng.
Về sau, do dòng chảy sông Hồng thay đổi, làng Cơ Xá tách thành nhiều khu dân cư. Cơ Xá Bắc Biên nay thuộc Ngọc Thụy (Long Biên). Cơ Xá Nam Xá thuộc khu vực Bạch Đằng (Hai Bà Trưng). Còn Cơ Xá Trung Châu nằm ở giữa sông Hồng.
Làng Cơ Xá khoảng những năm 1903. Đây là khu dân cư ít ỏi nằm sát mép nước sông Hồng. Trước kia, địa phận trên được gọi là An Xá, năm 1132 dưới thời Lý Thần Tông, làng được đổi tên thành Cơ Xá, gắn với bãi Cơ Xá - dải đất ven sông Hồng.
Về sau, do dòng chảy sông Hồng thay đổi, làng Cơ Xá tách thành nhiều khu dân cư. Cơ Xá Bắc Biên nay thuộc Ngọc Thụy (Long Biên). Cơ Xá Nam Xá thuộc khu vực Bạch Đằng (Hai Bà Trưng). Còn Cơ Xá Trung Châu nằm ở giữa sông Hồng.
Bến tàu thủy trên sông Hồng khoảng năm 1904, nay là phố Trần Nhật Duật.
Bến tàu thủy trên sông Hồng khoảng năm 1904, nay là phố Trần Nhật Duật.
Bên bờ sông Hồng năm 1906, giờ là phường Hồng Hà. Hình ảnh cho thấy thời đó trừ làng Cơ Xá, bờ sông là dải đất thoai thoải gần như không có nhà cửa.
Bên bờ sông Hồng năm 1906, giờ là phường Hồng Hà. Hình ảnh cho thấy thời đó trừ làng Cơ Xá, bờ sông là dải đất thoai thoải gần như không có nhà cửa.
Người dân lao động bên bờ sông, phía sau là cầu Doumer (Long Biên) năm 1911.
Người dân lao động bên bờ sông, phía sau là cầu Doumer (Long Biên) năm 1911.
Bến thuyền và nhà dân hướng ra sông Hồng năm 1926, nay là phố Trần Nhật Duật.
Bến thuyền và nhà dân hướng ra sông Hồng năm 1926, nay là phố Trần Nhật Duật.
Năm 1926, đê sông Hồng đoạn đối diện Bảo tàng Lịch sử chưa có đường và nhà ven sông.
Năm 1926, đê sông Hồng đoạn đối diện Bảo tàng Lịch sử chưa có đường và nhà ven sông.
Hồ Hoàn Kiếm và Nhà thờ Lớn năm 1929. Ảnh: Belle Indochine
Hồ Hoàn Kiếm và Nhà thờ Lớn năm 1929. Ảnh: Belle Indochine
Khu vực ven sông Hồng khoảng năm 1930.
Khu vực ven sông Hồng khoảng năm 1930.
Khu vực ven sông Hồng khoảng năm 1930.
Bãi ven sông những năm 1940. Ảnh: Harrison Forman
Bãi ven sông những năm 1940. Ảnh: Harrison Forman
Sông Hồng và các bãi bồi, bãi giữa dưới chân cầu Long Biên nhìn thấy rõ trong bức ảnh chụp năm 1951.
Sông Hồng và các bãi bồi, bãi giữa dưới chân cầu Long Biên nhìn thấy rõ trong bức ảnh chụp năm 1951.